Sự hình thành Nhà nước đầu tiên
– Nhà nước Văn Lang
2. Sự phân hóa xã hội
Từ thời Phùng Nguyên, hiện tượng phân hoá xã hội đã xuất hiện nhưng
chưa đáng kể. Trong số 12 ngôi mộ khai quật ở Lũng Hoà (Phú Thọ) có 2
mộ chỉ có 2 hiện vật chôn theo người chết, 2 mộ có tới 20 hiện vật và
24 hiện vật, phổ biến là số mộ có từ 3 đến 13 hiện vật. Đồ tuỳ táng
giống nhau gồm công cụ, đồ dùng bằng đá, gốm. Như vậy là, ở giai
đoạn đầu thời Hùng Vương, quan hệ cộng đồng nguyên thuỷ mới bước
vào quá trình tan rã.
Từ giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun đến Đông Sơn, mức độ phân hoá xã
hội ngày càng rõ nét hơn. Ở khu mộ táng Làng Cải (Việt Trì, Phú Thọ)
thuộc giai đoạn Đông Sơn có 307 mộ táng thì số mộ nghèo không có
hiện vật tuỳ táng chiếm tới 84,1%. Số mộ có từ 1 đến 2 hiện vật chiếm
10,1%. Số mộ có từ 11 đến 15 hiện vật chiếm 11,8%. Số mộ có từ 16
hiện vật trở lên chiếm 1%. Ngôi mộ có số hiện vật nhiều nhất là 23
trong đó có 15 giáo, 1 dao găm, 2 rìu, 1 thuổng, 1 thạp, 1 vò gốm, 1 bộ
khoá thắt lưng có tượng rùa. Di tích mộ táng Làng Cả cho thấy sự phân
hóa xã hội ở đây khá rõ rệt. Người nghèo chiếm đa số trong xã hội. Tại
khu mộ Thiệu Dương (Thanh Hoá) có 115 mộ thuộc giai đoạn Đông Sơn
thì 2 mộ không có hiện vật chôn theo, 53 mộ chỉ có đồ gốm, 20 mộ có
từ 5 đến 20 hiện vật 4 mộ có trên 20 hiện vật, đặc biệt ở một mộ, số
hiện vật lên tới 36. Trong số 5 mộ hình thuyền ở Việt Khê (Hải Phòng)
có 4 mộ không có hiện vật, 1 mộ có 107 hiện vật trong đó có 93 hiện vật
bằng đồng (bao gồm công cụ sản xuất, nhạc khí,đồ đùng quý giá, vũ
khí). Cũng có một số khu mộ lại không thấy có hiện tượng khác nhau về
hiện vật. Theo một số tài liệu thống kê 714 mộ thuộc niên đại Đông Sơn
của 5 khu mộ táng nổi tiếng là Đông Sơn (102 mộ), Vinh Quang (51),
LàngVạc (226), Làng Cả (219), Thiệu Dương (116 mộ) thì số ngôi mộ
nghèo (không có hay chỉ có một ít đồ gốm và đồ trang sức bằng đá đơn
ven các con sông lớn ở Bắc Bộ, bắc Trung Bộ. Các khu vực cư trú
thường khá rộng, từ hàng ngàn mét vuông đến một vài vạn mét vuông.
Tầng văn hoá cũng khá dày, nhất là giai đoạn Đông Sơn. Những khu vực
cư trú đó là những xóm làng định cư, trong đó có nhiều dòng họ khác
nhau chung sống và có một dòng họ chính, thường gọi là kẻ, chiềng,
chạ. Mỗi xóm làng có một số gia đình theo chế độ gia đình phụ hệ,
nhưng người phụ nữ vẫn có vị trí quan trọng trong gia đình và ngoài xã
hội, được mọi người coi trọng. Trong xóm làng, quan hệ huyết thống
vẫn được bảo tồn bên cạnh quan hệ láng giềng (địa lý).
3. Nhà nước Văn Lang ra đời
Vào thời kỳ Đông Sơn, do những yêu cầu về thuỷ lợi và tự vệ chống
ngoại xâm, các bộ lạc sống rải rác ở vùng Bắc Bộ và Trung Bộ đã tự
nguyện liên minh với nhau. Bộ lạc Lạc Việt là hạt nhân của liên minh đó.
Phạm vi phân bố của văn hoá Đông Sơn cũng phù hợp với cương vực
của nước Văn Lang thời Hùng Vương. Trong phạm vi cương vực đó có
15 bộ lạc có mối quan hệ chặt chẽ do quá trình cùng chung sống, có
chung một số phận lịch sử, một nhu cầu để tồn tại và phát triển, đã dần
dần tạo nên cho cả cộng đồng cư dân một lối sống, phong hoá chung.
Và như vậy, từ các đơn vị cộng cư của một xã hội nguyên thuỷ bộ lạc đã
hình thành các đơn vị (bộ) của một quốc gia sơ khai cùng với sự hình
thành lãnh thổ chung và một tổ chức chung để quản lý và điều hành xã
hội.
- Nhà nước Văn Lang
Thư tịch cổ chép lại các truyền thuyết về nước Văn Lang là nhà nước sơ
khai ở nước ta, đứng đầu là vua, gọi là Hùng Vương. Hùng Vương là
người chỉ huy quân sự đồng thời chủ trì các nghi lễ tôn giáo. Dưới Hùng
Vương có các lạc hầu, lạc tướng. Lạc tướng còn trực tiếp cai quản công
việc của các"bộ". Nước Văn Lang có 15 bộ (trước là 15 bộ lạc). Lạc
tướng (trước đó là tù trưởng) còn gọi là phụ đạo, bộ tướng. Dưới bộ là
các công xã nông thôn (bấy giờ có tên gọi là kẻ, chiềng, chạ). Đứng đầu