Tế Hanh – một hồn thơ đằm
thắm và trong trẻo Đến với Thơ mới bằng những bài thơ trong trẻo, thơ Tế Hanh ngày càng đằm sâu nỗi
niềm thời thế và thấm đẫm những nỗi buồn trước hiện thực cuộc sống. Cũng chính từ đấy,
không ồn ào và choáng ngợp, thơ Tế Hanh đã tiếp tục tô thêm màu sắc, bồi đắp thêm những
giá trị mới cho thơ lãng mạn vào chặng cuối của nó.
*
Với tấm lòng yêu thương cuộc sống và một tâm hồn nhạy cảm với đời, Tế Hanh bước
vào cuộc kháng chiến, hòa nhập với nhân dân. Sang bờ tư tưởng ta lìa ta - Một tiếng gà lên tiễn
nguyệt tà; những câu thơ còn vương vấn siêu hình diễn đạt một quyết tâm rất thực của nhà thơ.
Như mọi nhà thơ lãng mạn khác, Tế Hanh đã có những chuyển biến lớn lao cả trong cảm hứng
sáng tạo cũng như nghệ thuật thơ: thơ trở thành những khúc ca giản dị hướng về đại chúng, thơ
phục vụ kháng chiến, ca ngợi những con người kháng chiến. Hai tập thơ Hoa mùa thi và Nhân
dân một lòng là kết quả sáng tạo của nhà thơ trong tám năm kháng chiến, trong đó, bài
thơ Người đàn bà Ninh Thuận thường được coi như một thành công đánh dấu bước đường này
của Tế Hanh. Trong hình thức tự sự, nhà thơ ghi lại cuộc trò chuyện với một người phụ nữ
bình thường của miền cực nam Trung bộ mang nặng thù nhà nợ nước, hết lòng với kháng
chiến. Đoạn kết mạnh mẽ, rắn rỏi, gói trọn niềm căm thù của người đàn bà Ninh Thuận, của
những người phụ nữ kháng chiến:
Bao giờ lệnh tổng phản công
Chắc là đá cũng xuống đồng giết Tây
Núi rừng tất cả lá cây
Không ghi hết tội của bầy chó kia.
Sau 1954, một nguồn cảm hứng mới đã mở ra một giai đoạn sáng tác mới của thơ Tế
Hanh. Tình quê hương đậm đà, nỗi đau đất nước cắt chia cùng nỗi niềm thương nhớ xa cách
của tình yêu cùng một lúc quyện hòa tha thiết và xót xa trong chủ đề đấu tranh thống nhất đất
hương, và rộng hơn, với cả miền Nam mở rộng trong tầm nhìn và trong hồn thơ: Trở lại con
sông quê hương, Vườn Lái Thiêu, Hoa Đà Lạt, Huế ơi, Trường Sơn dâng Bác Các tập
thơ Con đường và dòng sông (1980), Bài ca sự sống (1985) là một giai đoạn chuyển tiếp khác
của thơ Tế Hanh đến với chặng đường cuối trong đời thơ ông. Với các tậpVườn
xưa (1992), Giữa anh và em (1992), Em chờ anh (1993) được viết trong những năm tháng tuổi
đã cao cùng với đau yếu bệnh tật, thơ ông là sự chiêm nghiệm về cuộc đời, là sự giãi bày tâm
trạng. Phảng phất nỗi buồn, sự cô đơn nhưng người ta vẫn thấy ở đây những gì nguyên vẹn
trong hồn thơ Tế Hanh: nỗi buồn của ông vẫn luôn là nỗi buồn trong sáng và không dứt niềm
tin yêu với cuộc đời, dù biết rằng "Em không thể mãi là em - Dẫu anh còn mãi cái nhìn ngày
xưa (Cái nhìn).
*
Một đời sáng tạo không mệt mỏi, Tế Hanh đã có một khối lượng tác phẩm phong phú.
Dù có những thành bại thăng trầm trong sáng tạo, ông đã để lại không ít bài thơ từng làm say
mê người đọc một thời và có sức sống lâu bền với thời gian. Có thể nói đến một phong cách
thơ Tế Hanh: ông là nhà thơ trữ tình trong sáng và đằm thắm trong tình cảm quê hương đất
nước và với con người. Có thể thấy những biến đổi, cả những tìm tòi mới mẻ nào đấy của thơ
Tế Hanh nhưng trước sau ông vẫn là một nhà thơ trữ tình hồn nhiên bậc nhất trong việc phơi
trải những rung động của tâm hồn mình trước cuộc đời. Mỗi bài thơ là một xúc động, một gợi
nhớ, một sẻ chia. Ngay trong những đề tài quen thuộc nhất của thơ ca là tình yêu quê hương đất
nước, mỗi bài thơ của ông cũng mang đậm dấu ấn của tâm tình ông, của cảnh ngộ riêng.
Không phải ngẫu nhiên, trong những năm đất nước còn chia cắt, những vần thơ xa cách nhớ
thương của ông luôn làm xúc động lòng người chính vì tâm hồn nhà thơ là sự thống nhất đến
tận cùng máu thịt tình quê hương đất nước:
Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng
Hồn tôi vang tiếng vọng cả hai miền
(Bài thơ tháng bảy)
Những nỗi niềm riêng tư, cảnh ngộ riêng của nhà thơ chan hòa trong tình yêu ấy, khiến
cho mỗi bài thơ bỗng trở thành gần gũi với mọi người. Chiêm bao, Vườn xưa là những bài
thơ như thế. Chiêm bao là một bài thơ tình, cũng là nỗi đau của xa cách chia ly:
Chiêm bao bừng tỉnh giấc