Tế Hanh – một hồn thơ đằm
thắm và trong trẻo LTS: Nhà thơ Tế Hanh - một trong những đại biểu cuối cùng của phong trào Thơ
mới đã từ trần ngày 16-7-2009, tại Hà Nội, sau một thời gian lâm bệnh, thọ 89 tuổi. Ông
đã có những đóng góp quan trọng vào nền thơ Việt Nam hiện đại ở cả hai thời kỳ trước và
sau Cách mạng. Nhà thơ đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật
đợt I (năm 1996). Tạp chí Nghiên cứu Văn học xin giới thiệu bài viết dưới đây như một lời
tri ân đối với một nhà thơ lớn của đất nước.
Người đọc biết đến Tế Hanh khi nhà thơ trẻ tuổi được Giải khuyến khích của Tự Lực
văn đoàn với tập thơ Nghẹn ngào năm 1939. Phong trào Thơ mới, sau thời kỳ phát triển rực rỡ
với những tên tuổi sáng giá đã có thêm một tiếng Thơ mới. Tập Nghẹn ngào sau đó được bổ
sung thêm một số bài và xuất bản với tên Hoa niên (1944). Các tập thơ trên cùng những bài thơ
được sáng tác trong khoảng 1942-1945 sau này được in dưới tên Tập thơ tìm lại càng cho ta
thấy một chân dung thơ đầy đặn và đặc sắc của Tế Hanh thời kỳ lãng mạn. Tế Hanh đến với
Thơ mới và đem đến cho bầu không khí thơ đương thời một luồng gió trong lành. Hoài Thanh
trong Thi nhân Việt Nam khi giới thiệu Tế Hanh như một cây bút "vẫn còn trẻ lắm và cũng mới
bước vào làng thơ" đã kể lại ấn tượng về lần gặp gỡ với người thiếu niên thi sĩ rụt rè ngượng
nghịu mới bước vào tuổi đôi mươi. Nhà phê bình nhớ mãi đôi mắt nhà thơ trẻ - "đôi mắt nồng
nàn lạ", cũng như những vần thơ thể hiện "cái nhìn sâu sắc của một con người sẵn có một tâm
hồn tha thiết". Bài thơ Quê hương ít nhiều có thể coi là một hiện tượng của thơ đương thời. Nó
vượt qua những bài thôn ca quen thuộc thời ấy, mở ra một khía cạnh còn rất mới mẻ với Thơ
mới về đề tài thôn quê, để nâng cảm xúc thôn dã thành một chủ đề có tầm khái quát sâu sắc
hơn: quê hương. Khái niệm "quê hương" thường được gợi lên qua hình ảnh giếng nước gốc đa
và những mối tình quê tha thiết của những miền quê lúa chất phác nay có thêm âm vang sóng
nước và vị mặn mòi của biển cả, được cất lên qua một khúc ca lao động khỏe khoắn và trong
lành, một tiếng nói thiết tha gắn bó với một vùng chài lưới:
Nằm trong khí quyển chung của Thơ mới, thơ Tế Hanh cũng mang nỗi cô đơn của thi
nhân, của một cá thể trước cõi người với rất nhiều ân tình sâu nặng: Tôi thấy tôi thương những
chiếc tầu - Ngàn đời không đủ sức đi mau (Những ngày nghỉ học). Con mắt nồng nàn, tâm
hồn trong trẻo của nhà thơ khi chạm vào một sự vật hiện tượng nào thì ở đây rung ngân những
xúc cảm nhẹ nhàng tha thiết để rồi tự "dàn ra trong hình thể của lời", hình thể của thơ. Ảnh
hưởng của lớp thi sĩ Thơ mới đàn anh đã hằn nhiều dấu vết trong giai đoạn sáng tác đầu đời
của Tế Hanh: cũng một nỗi sầu vũ trụ mênh mang của Huy Cận - Biệt ly tụ họp thời nào -
Thương vương khắp nẻo, nhớ bao tư bề (Sống vội), cũng một niềm tha thiết yêu đời của Xuân
Diệu - Chân bước khoan thai giữa biếc hường - Và lòng vơ vẩn giữa yêu thương (Phơi phới)
và cả chút siêu hình siêu thực của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên trong những cảm nhận trừu
tượng này:
Ta đứng trên cao gió lộng bày
Ngọn đèn tâm tưởng đảo điên lay
Cầu ngươi hỡi Phượng tươi như máu
Dâng sáng linh hồn cánh dợn bay
(Phượng)
hoặc:
Biết bao huyền diệu trong đời trái
Từ cõi hư vô đến tượng hình
(Trái chín)
Ngay trong chủ đề tàn tạ chia ly quen thuộc của Thơ mới, người thi sĩ trẻ tuổi đến sau
cũng kịp góp vào đấy không ít những tứ thơ đặc sắc. Trăng trong Thơ mới đã hiện lên với bao
dáng vẻ, từ thơ mộng nhất đến đau thương nhất, nhưng đây là lời của trăng cảm nhận sự cô đơn
tàn tạ của chính mình khi "lủi thủi đi sâu vào cõi mất". Số phận của trăng cũng là một ám gợi
về sự nhỏ bé cô đơn của kiếp người: Và sau hết ta chỉ là ngấn lệ
Nằm rưng rưng trong mắt của đêm hờn
(Trăng tàn)
Hồn nhiên nhưng cũng trĩu nặng nỗi buồn nhân thế, Tế Hanh cũng đã ý thức được
nguyên nhân nỗi thất vọng của cả một lớp nhà thơ, và rộng hơn, cả một thế hệ. Sau những phơi
trải say mê cõi lòng mình, "chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc - như thuyền ngư phủ lạc trong