Một số phương pháp thăm dò
trong phụ khoa - sản 1
1. Đại cương: Trong đời sống của người phụ nữ từ khi chào đời đến khi dậy
đến tuổi mãn kinh thì là đến tuổi hoạt động sinh dục (15 - 49 tuổi) tuổi già
đều có những đặc thù của nữ tính qua các phương pháp thăm dò.
2. Biểu đồ thân nhiệt:
Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là bằng tác dụng lên trung tâm điều nhiệt
progesteron - là một hormon của hoàng thể có tác dụng làm gia tăng thân nhiệt
cơ bản.
Dụng cụ: một biểu đồ thân nhiệt và một nhiệt kế y khoa chuẩn bảng độ C hay dộ
F. Trên trục hoành ghi ngày trong chu kỳ kinh, trục tung ghi nhiệt độ với dung sai
1/ 10o. Thân nhiệt cơ bản là thân nhiệt của người phụ nữ được lấy vào một giờ
nhất định trong ngày, qui ước là sáng sớm trước khi ra khỏi giường, lấy ở miệng
hoặc trực tràng. Hiện nay biểu đồ thân nhiệt được sử dụng hay dùng:
1. Chẩn đoán bất thường của sự phóng noãn.
2. Chẩn đoán bất thường chức năng của hoàng thể.
OGINO - KNAUS đã dùng biểu đồ này để tránh thai. Ngoài ra trong biểu đồ này
còn ghi rõ các thông số hành kinh: ngày, lượng, màu sắc, đọc kết quả .
Biểu đồ thân nhiệt thấy có sự gia tăng thân nhiệt vào ngày thứ 14 của chu kỳ 28
ngày, khoảng 0,5 độ duy trì pha này từ 12 - 14 ngày.
Bất thường:
1. Chu kỳ kinh ngắn: sự thu ngắn của pha noãn.
2. Chu kỳ kinh ngắn: sự thu ngắn của pha hoàng thể.
3. Chu kỳ kinh dài: pha noãn dài, pha hoàng thể bình thường.
4. Chu kỳ kinh dài: pha noãn dài, pha hoàng thể ngắn.
3. Thăm dò chất dịch âm đạo:
- Bình thường dịch âm đạo là một chất màu trắng hơi sệt, thành phần dưới kính
hiển vi thấy tế bào âm đạo đã bong ra trước, một số bạch cầu đa nhân, trực khuẩn
Doderline, tạp khuẩn khác.
- Các trực khuẩn Doderline sử dụng Glycogen từ các tế bào âm đạo đã được bong
hệ thống và định kỳ nhằm truy tìm K ở giai đoạn sớm.
Kỹ thuật lấy:
- Lấy vùng chuyển tiếp lát trụ.
- Lấy cổ ngoài và cổ trong.
Cố định ngay sẽ khô và chuyển đến phòng tế bào với chi tiết đi kèm kỳ kinh.
- Lấy sau giao hợp 24 - 48h.
- Thời gian 2 - 4 tháng 1 lần.
- Đọc kết quả có tế bào K, viêm, dị sản, ký sinh trùng < 35 tuổi, 3 năm 1 lần; đối
với 60 tuổi, 5 năm 1 lần.
6.4. Soi cổ tử cung: là phương pháp quan sát mô liên kết cổ tử cung và âm đạo với
một kính phóng đại qua một màng chắc là niêm mạc và âm đạo, cổ tử cung được
phóng đại qua 2 vật kính 20 - 40 lần, máy soi giúp quan sát những thay đổi ở lớp
biểu mô bề mặt của cổ tử cung.
Chỉ định: Khi phết móng cổ tử cung bất thường, tổn thương tại cổ tử cung.
Soi cổ tử cung nhằm phát hiện:
- Chẩn đoán tổn thương lành tính.
- Theo dõi tổn thương khi có.
- Tìm vùng Eop để sinh thiết.
Sinh thiết cổ tử cung: Khi Eop cổ tử cung lấy vùng ranh giới hay ở nhiều vùng
khác nhau, nên thực hiện kết hợp soi.
7. Sinh thiết:
Nội mạc tử cung (22 - 28 của chu kỳ) lấy ở kênh, lòng tử cung tìm nội tiết, K thân.
8. Soi buồng tử cung:
Soi sau sinh, tìm tổn thương buồng tử cung, dính, điều trị nhân xơ vô sinh, polype,
niêm mạc dày ở thời kỳ phóng noãn có trước kỳ kinh, teo ở thời kỳ mãn kinh.
Soi để phẫu thuật: u xơ dưới niêm mạc, polype, dị dạng, vách ngăn
9. Chụp buồng tử cung có cản quang:
Thuốc Vasurix, Polyvidon.
- U xơ, polype, dính, K thân, dị dạng.
- Lao vòi trứng, ứ dịch, hở eo, tắc vòi trứng.