Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV AIDS của phạm nhân trong trại giam k1 cái tàu, tỉnh cà mau năm 2009 - Pdf 19



1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch HIV/AIDS là căn bệnh nguy hiểm đang tiếp tục phát triển
nhanh và lan rộng cả ở Việt Nam cũng như nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới. Nó không chỉ là mối đe doạ nghiêm trọng đến sức khoẻ, mà còn gây
nguy hiểm cho tính mạng con người, nó làm phá vở cấu trúc gia đình và ảnh
hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh
chính trị của mỗi quốc gia. [6], [12], [46], [54] .
Dịch HIV/AIDS liên tục phát triển cả về không gian lẫn thời gian và nó
trở thành một đại dịch gia tăng vượt quá sự kiểm soát của loài người [11].
Đã hơn 20 năm kể từ khi nhân loại phát hiện ra HIV, đại dịch HIV/AIDS
đã cướp đi sinh mạng của hơn 25 triệu người và trở thành một trong những vụ
dịch tồi tệ nhất được ghi nhận trong lịch sử [18], [59] .
Xu hướng phát triển đại dịch này đang bùng phát mạnh ở các nước đang phát
triển và các nước chậm phát triển, đặc biệt là những nước ở Châu Phi - vùng cận
Sahara, tiếp đến là khu vực Caribê và vùng Nam Á và Đông Nam Á [21].
Qua hơn 20 năm đấu tranh với đại dịch, tuy đã có những thành công nhất
định, nhưng đến nay trên toàn cầu vẫn chưa có khả năng ngăn chặn được tốc
độ lây nhiễm HIV/AIDS. Sự nguy hiểm của HIV/AIDS là chưa có thuốc
phòng ngừa và điều trị [15], [35], [54].
Theo Tổ chức Y tế giới và Chương trình Phối hợp của Liên Hiệp Quốc về
HIV/AIDS đến 31/12/2007 toàn thế giới đã có khoảng 33,2 triệu người đang
sống với HIV/AIDS. Đồng thời trong năm 2007 số ca mới nhiễm HIV là 2,5
triệu người và số ca tử vong do AIDS là 2,1 triệu người [9], [37], [59], [71].
Ở Việt Nam, kể từ ca HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12 năm
1990 tại TP. Hồ Chí Minh thì đến 31/12/2009 toàn quốc đã phát hiện tổng số
trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 156.802, trong đó có 34.391 trường
hợp bệnh nhân AIDS còn sống và đã có 44.232 người chết do AIDS [7].

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM HIV/AIDS
1.1.1. Khái niệm về HIV
HIV là thuật ngữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh (Human Immunodeficiency
Virus), để chỉ một loại virus gây suy giảm miễn dịch ở người [15], chính là
nguyên nhân gây bệnh AIDS thuộc họ Retrovirus. Tất cả các Retrovirus đều
thể hiện một loại đặc tính chung cho nhóm, đó là: có hai sợi ARN, có lớp vỏ
bao phủ bên ngoài, sử dụng AND để tái sinh sản hay nhân lên và ẩn trong
AND của tế bào chủ. Các Retrovirus phải chuyển ARN của chúng thành AND
để có thể tái sinh sản hay nhân lên, quá trình này gọi là sao mã ngược. Thông
qua quá trình này, HIV gắn vật liệu di truyền của mình vào AND của tế bào
chủ. Nhờ đó, khi tế bào chủ tái tạo vật liệu di truyền của mình, nó đồng thời tái
tạo vật liệu di truyền của virus. Bằng cách này, virus sử dụng tế bào chủ như
một nhà máy để sản xuất vật liệu di truyền cho nó, cho phép nó tạo ra nhiều
virus hơn [2], [11], [37].
HIV là loại Retrovirus được Montagier và cộng sự phát hiện lần đầu tiên
trên thế giới năm 1983 bằng kỹ thuật hiển vi điện tử, phát hiện enzym phiên
mã ngược trong nước nổi nuôi cấy tế bào, miễn dịch huỳnh quang và kết quả
miễn dịch phóng xạ. HIV gây nhiễm lựa chọn các tế bào lympho trong đó có
CD4 (tế bào T hỗ trợ) gây suy giảm miễn dịch và dẫn đến các nhiễm trùng cơ
hội, ung thư, tử vong. HIV cũng gây nhiễm các đại thực bào, các tế bào khác
của hệ thần kinh trung ương và có thể dẫn đến mất trí. Mặt khác khi gắn vào
AND của tế bào vật chủ, virus có thể tồn tại tìm tàng trong nhiều năm mà
không biểu hiện lâm sàng hay triệu chứng nào[15].



5
mắc phải đồng thời với BS Friedman Alvin phát hiện một bệnh nhân mắc
sarcoma Kaposi vốn lành tính mà chết do suy giảm miễn dịch mắc phải. Sau đó
nhiều nơi cũng công bố lần lượt những ca đầu tiên trên những bệnh nhân ưa
chảy máu đã phải truyền máu nhiều lần, tiêm chích ma tuý cũng có dấu hiệu
suy giảm miễn dịch mắc phải. Những trương hợp lâm sàng nói trên đã gợi ý
tìm nguyên nhân hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải [35], [36].
Từ năm 1982 nhiều nơi lần lượt công bố căn bệnh tương tự gặp trên bệnh
nhân ưa chảy máu, bệnh bệnh nhân phải truyền máu nhiều lần, những người
nghiện chích ma tuý, những người mẹ và đứa con do họ đẻ ra… Điều này củng
cố thêm giả thuyết cho rằng căn nguyên gây bệnh có thể là một loại virus (giống
virus viêm gan) lây truyền qua đường máu, đường tình dục và mẹ truyền sang
con. Cùng trong năm 1982 dựa trên 100 ca AIDS đầu tiên được thông báo,
Trung tâm CDC đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về các tiêu chuẩn lâm sàng chẩn
đoán một ca AIDS, khi chưa có xét nghiệm tìm căn nguyên [35].
Năm 1983 Bare Sinoussi trong kíp nghiên cứu của Luc Mongtanier
(Viện Pasteur Paris) lần đầu tiên do một nhóm các nhà khoa học Pháp phân
lập từ máu của một bệnh nhân. Họ gọi nó là virus có liên quan đến bệnh hạch
nên đặt tên là LAV (Lymphadenopathy Associated Virus), virus gây viêm
hạch bạch huyết [36], [37].
Năm 1984 Robert Gallo và các nhà khoa học Mỹ cũng phân lập được một
virus ái tính với lympho T của người nên đặt tên là HTLV týp III (Human T-
cell Lymphotropic Virus týp III hay HTL V-III) gây bệnh AIDS và gọi nó là
virus hướng vào tế bào lympho T ở người. Cùng năm Levy phân lập được một
virus có liên quan đến hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải và đặt tên là
ARV (Aids related virus) [36], [37].
Cùng năm 1984, Levy phân lập được 1 virus, gọi là ARV (AIDS related
virus), virus có liên quan với AIDS [35].

7
dài tự lặp lại (long terrminal repeat) nhờ vậy gắn được ổn định vào nhiễm sắc
thể, ADN của tế bào và trở thành 1 tiền virus (provirus). Provirus này sẽ như
một gen của tế bào nhiễm virus có thể tồn tại thầm lặng không phát triển và
truyền sang cho thế hệ tế bào sau khi có phân bào, hoặc nhờ men ribonuclease
của tế bào bị nhiễm đễ tạo ra ARN truyền tin giúp tạo các protein của virus để
hình thành 1 virus hoàn chỉnh [36].
1.3.2. Cấu trúc hình dạng và genome của HIV Cấu trúc
HIV có đường kính 1/10.000 mm được chia thành 2 lớp chính như sau:
- Vỏ là màng lipid trên đó có các gai nhú glycoprotein (GP), đặc biệt
là GP 120 và GP 41 có tính kháng nguyên cao.
- Lõi có chứa một số thành phần chính như protein lõi, men phiên
mã ngược (RT) và ARN vật liệu di truyền của HIV [11], [2], [37].
Kết hợp hình ảnh kính hiển vi điện tử của các thành phần virus với sinh
hoá và miễn dịch phân tích các thành tố cấu thành của HIV có thể hình dung
cấu trúc virus HIV hoàn chỉnh có hình cầu đường kính 80 -120nm. Từ ngoài
vào trong có 3 lớp [36]
Bao ngoài: Là một màng lipid kép lấy từ màng tế bào HIV thâm nhập lúc
trồi ra ngoài tế bào (budding). Bao ngoài những gai nhú (spike) khoảng 72 cái
theo lý thuyết của Gelderblom. Gai nhú là một glycoprotein có độ dài 8-10nm,
chiều rộng 14nm, trọng lượng 160 kilodaton (kDA) gồm hai thành phần.
Vỏ trong (capside): Lớp ngoài hình cầu cấu tạo bởi phân tử protein có
trọng lượng phân tử là 18 kDA P18. Lớp trong hình trụ cấu tạo bởi phân tử
protein có trọng lượng phân tử là 24 kDA P24.
Nhân của virus HIV: Capsid bao bọc 2 sợi riêng rẽ HIV ARN mỗi sợi
có 9 gen. Có khoảng 9.200 cặp ba-zơ.
trong nhiều tháng, thậm chí trong nhiều năm. Nhưng nếu tế bào nhiễm HIV bị
hệ thống miễn dịch của cơ thể hoạt hóa để chống lại một bệnh khác, HIV sẽ bắt
tự nhân lên và tiếp tục gây nhiễm cho các tế bào khác [11], [37].
1.3.4. Sức đề kháng
HIV đề kháng với nhiệt độ lạnh, tia gamma, tia cực tím. Sống được 3 ngày
trong máu bệnh nhân nếu để ở ngoài trời. Virus có thể sống vài ngày ở bên ngoài
cơ thể trong điều kiện khô và vài tuần trong dung dịch ở nhiệt độ phòng thí
nghiệm. Tuy nhiên, virus rất nhạy cảm với nhiệt độ và các chất tẩy uế thông
thường, Virus bị bất hoạt ở pH = 1 hay pH = 13. Đun nóng 56
0
C, trong vòng 30
phút trong môi trường ẩm ướt virus dễ bị tiêu diệt [2], [37], [26].
1.4. CÁC PHƢƠNG THỨC LÂY TRUYỀN HIV
Bệnh nhân AIDS và người nhiễm HIV là nguồn truyền nhiễm duy nhất của
nhiễm HIV. Không có tổ chức nhiễm trùng tự nhiên ở động vật, tất cả mọi người
nam hay nữ, người lớn hay trẻ em đều có khả năng cảm nhiễm với HIV. Người
ta đã phân lập được HIV từ máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo, nước bọt, nước mắt,
sữa mẹ, nước tiểu và các dịch khác của cơ thể. Mặc dù có sự phân bố rộng lớn
như vậy của HIV trong cơ thể, nhiều nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy rằng chỉ
có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây
truyền HIV. Do đó, chỉ có 3 phương thức làm lây truyền HIV [37].
10
1.4.1. Lây truyền theo đƣờng máu
HIV có mặt trong máu toàn phần và các thành phần của máu như hồng
cầu, tiểu cầu, huyết tương và các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể được
truyền qua máu hay các sản phẩm của máu có nhiễm HIV. Nguy cơ lây truyền
qua đường truyền máu có tỷ lệ rất cao trên 90%. HIV cũng có thể truyền qua

Các nghiên cứu cho thấy rằng HIV đã được phân lập trong TB của bánh
rau và máu của bào thai lúc 8 tuần tuổi và HIV được phân lập ở nhiều tuần sau
đó. Một nghiên cứu nhiễm HIV ở trẻ sinh đôi cho thấy rằng trẻ sinh ra trước có
nhiễm HIV cao hơn. Điều này gợi ý khả năng lây truyền xảy ra từ mẹ sang con
trong khi đẻ. Lây truyền HIV có thể xảy ra trong lúc mang thai, trước, trong và
một thời gian ngắn sau đẻ. Nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con khác nhau tùy
từng nước, từ 13 – 32% ở các nước công nghiệp phát triển, 25 – 48% ở các
nước đang phát triển. Xếp theo thứ tự, nguy cơ lây nhiễm HIV giảm dần như
sau: Nhận máu bị nhiễm HIV;Trẻ sinh ra từ mẹ bị nhiễm HIV; Dùng chung
BKT với một người nhiễm HIV; Sinh hoạt tình dục theo đường hậu môn với
bạn tình bị nhiễm HIV; Sinh hoạt tình dục theo đường âm đạo với bạn tình bị
nhiễm HIV; Sinh hoạt tình dục theo đường miệng-bộ phận sinh dục với bạn
tình bị nhiễm HIV; Tiếp xúc với các vật phẩm bị nhiễm HIV ở nhân viên
phòng thí nghiệm hay nhân viên y tế [11], [1], [2], [37].
Các nghiên cứu và kinh nghiệm cho thấy rằng HIV không lây truyền do
tiếp xúc hàng ngày, do ôm hoặc hôn, qua thực phẩm hoặc qua nước, hoặc do
muỗi và các côn trùng đốt (chích) khác [24].
1.5. CHẨN ĐOÁN HIV
Một huyết thanh của một người được coi là dương tính với HIV khi mẫu đó
dương tính cả số lần XN bằng ba loại sinh phẩm với các nguyên lý và kháng
nguyên khác nhau (phương cách 3). Chỉ những XN đạt tiêu chuẩn được Bộ Y tế
cho phép mới được quyền thông báo kết quả XN HIV dương tính [7], [37]. 12
1.6. CÁC PHƢƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM HIV
1.6.1. Các xét nghiệm phát hiện kháng thể HIV
1.6.1.1. Các thử nghiệm sàng lọc
- Kỹ thuật ngưng kết hạt vi lượng SERODIA – HIV
- Kỹ thuật miễn dịch gắn men ELISA: Được dùng để chẩn đoán xác

phối hợp của Liên hợp quốc về phòng, chống HIV/AIDS (UNAIDS) đến
12/2007, toàn thế giới có khoảng 33,2 triệu người đang sống với HIV. Trong
đó Châu Mỹ có khoảng 2,9 triệu trường hợp nhiễm HIV, Đông Âu và Trung Á
1,6 triệu, khu vực có người nhiễm HIV nhiều nhất là ở cận Sahara Châu Phi,
hơn 22,5 triệu. Nam Á có 4 triệu trường hợp chủ yếu là ở Ấn Độ và Thái Lan.
Ở các khu vực khác, mức độ bị nhiễm là tương đối thấp. Hàng ngày ước tính:
Khoảng 5.700 người chết vì AIDS. Khoảng 6.800 người mới bị nhiễm HIV,
trong đó khoảng 95% ở các nước nghèo và trung bình. Nam giới và nữ giới bị
nhiễm bằng nhau và 50% là thanh thiếu niên từ 15 - 24 tuổi [37], [71].
Trong một phần tư thế kỷ kể từ khi những trường hợp nhiễm bệnh AIDS
đầu tiên được biết đến tại Hoa kỳ, 25 triệu người đã chết vì căn bệnh này và
ngày nay gần 35 triệu người trên khắp thế giới đang nhiễm virus HIV, một
nửa trong số này là phụ nữ [11], [37].
Theo báo cáo của UNAIDS, Sahara Châu Phi là nơi có số người nhiễm
HIV cao nhất trên thế giới, chiếm 2/3 (63%) tổng số người lớn và trẻ em đang
sống với HIV trên toàn cầu [52], tiếp đến là Châu Á Thái Bình Dương với 8,3
triệu người nhiễm HIV. Tuy nhiên, Đông Âu và Trung Á đang là khu vực có
tốc độ lây nhiễm nhanh nhất thế giới. Các dịch vụ tiếp tục gia tăng ở Đông
Âu, Trung Á và Đông Á [37], [58], [72]. 14
Quốc gia bị ảnh hưởng nhất là nước Swaziland bé nhỏ nơi 1/3 người lớn
bị nhiễm HIV. Tuy nhiên Kenya và Zimbabwe được báo cáo là con số nhiễm
HIV tại đây đã có giảm bớt. Nam Phi vẫn là nước có số người nhiễm HIV cao
nhất tại Châu Phi: 5,5 triệu người lớn mang virus HIV. Ấn Độ đã vượt qua
Nam Phi để trở thành quốc gia có nhiều người sống chung với HIV cao nhất
thế giới. Số ca có HIV ở quốc gia đông dân thứ nhì hành tinh hiện chiếm 2/3
tổng số ca nhiễm loại virus chết người này trên toàn Châu Á. Ước tính đến
cuối năm 2005, có 5,7 triệu người Ấn Độ sống chung với HIV. Tuy nhiên, tỷ

Việt Nam hiện tại vẫn đang trong giai đoạn tập trung, với tỉ lệ hiện nhiễm cao
nhất được phát hiện trong các nhóm quần thể chính có nguy cơ cao, đó là
những người TCMT, phụ nữ mại dâm (PNMD) và nam tình dục đồng giới
(MSM). Tỷ lệ nhiễm HIV trong dân cư nói chung, ước tính khoảng 0,53%. Số
liệu từ Cục phòng chống HIV/AIDS đến tháng 12/2007 cho biết: “cả nước đã
phát hiện 112.880 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó 19.261 người đã chuyển
sang AIDS và có 11.247 người tử vong do AIDS”. Người nhiễm HIV xuất
hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố, 96% trong tổng số các quận/huyện và hơn
60% trong tổng số các xã/phường trên toàn quốc. Trong số các ca nhiễm HIV
được báo cáo có 83,16% ở độ tuổi từ 20 - 39. Nam giới chiếm 82,77% trong
tổng số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện. Số người trẻ nhiễm HIV
ngày càng gia tăng và sự lây truyền QĐTD khác giới bắt đầu xuất hiện nhiều
hơn. Có sự khác biệt lớn về thời gian xuất hiện dịch HIV tại các địa phương
của Việt Nam. Dịch HIV xuất hiện đầu tiên ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh
phía Nam với dịch HIV đầu tiên trong nhóm những người NCMT lớn tuổi,
nhiều người đã nghiện từ trước năm 1975 và chủ yếu sử dụng thuốc phiện. Vụ
dịch thứ hai trong nhóm những người NCMT được ghi nhân ở các tỉnh phía
Bắc trong các năm 1996 - 2000 trong nhóm nam giới trẻ tuổi, sử dụng heroin.
Đến tháng 12/1998 dịch HIV đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh thành trong 16
cả nước. Theo báo cáo của Bộ Y tế cuối năm 2000, so sánh tỷ lệ nhiễm
HIV/AIDS trên số dân thì số người nhiễm tại TP Hồ Chí Minh dẫn đầu,
chiếm 15%. Các Trung tâm Lao động, Giáo dục và Điều trị cho những người
sử dụng ma túy và mại dâm ngày càng trở nên quan trọng đối với tình hình
dịch HIV ở Việt Nam. Ước tính đến cuối năm 2006, có 42.000 người sử dụng
ma túy (chiếm khoảng ¼ tổng số người sử dụng ma túy được báo cáo) đang
sống tại 84 Trung tâm trên toàn quốc[11], [37].
1.7.3. Ƣớc tính và dự báo HIV/AIDS tại Việt Nam

đó 93,5% bệnh nhân tiếp cận phác đồ bậc 1 và 6,5% bệnh nhân cần tiếp cận
phác đồ bậc 2 [8].
Nhìn chung, Việt Nam vẫn đang còn trong giai đoạn dịch tập trung ở
nhóm người có nguy cơ cao [1], [52]. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm
NCMT được dự báo sẽ ổn định ở những tỉnh, thành phố đã bùng phát dịch
bệnh sớm, bao gồm Cần Thơ, Tp.Hồ Chí Minh, 56% ở Quảng Ninh. Tỷ lệ ổn
định không có nghĩa là các chương trình dự phòng có thể được thu hẹp lại.
Nói cách khác, điều này chỉ ra rằng việc lây nhiễm HIV vẫn cần phải được
kiểm soát bằng các chương trình dự phòng hiệu quả [11], [37].
1.7.4. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Cà Mau
Tình hình nhiễm HIV/AIDS Luỹ tích từ đầu vụ dịch (1994) đến ngày
31/12/2009 trong tỉnh Cà Mau đã giám sát phát hiện được 2.629 cas nhiễm
HIV, chuyển sang AIDS 262 cas, tử vong 72 cas.
Nhiễm HIV/AIDS ở Cà Mau chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20 - 29
tuổi (chiếm 54,8%) và có chiều hướng chuyển dịch từ nhóm tuổi 20 - 29 sang
nhóm tuổi 30 - 39 tuổi (chiếm 28,3%). Phân bố người nhiễm HIV theo giới đã
có thay đổi, tỷ lệ nữ giới nhiễm HIV gia tăng qua các năm với tỷ lệ nam/nữ
xấp xỉ 2/1, đặc biệt trong năm 2009 tỷ lệ nữ giới nhiễm HIV gần bằng nam
giới với tỷ lệ nam/nữ là 53,4/46,6%. Đường lây truyền HIV chủ yếu lây 18
truyền qua đường quan hệ tình dục không an toàn. Hiện nay đã có 9/9 huyện,
thành phố và 85% số xã và thị trấn trong toàn tỉnh có người nhiễm
HIV/AIDS. Đặc điểm nhiễm HIV ở Cà Mau không còn giới hạn ở đối tượng
mại dâm, ma tuý, phạm nhân, mà nó còn lan ra cả đối tượng khác như: Cán bộ
công nhân viên chức, láy xe, ngư phủ, lực lượng vũ trang, nông dân, phụ nữ
mang thai…[8].

Kh«ng rá,

Số người chuyển sang AIDS: 58, lũy tích: 263. Số người tử vong do AIDS:
12, lũy tích: 62 người [43].
Bảng 1.1. Tỷ lệ nữ giới nhiễm HIV gia tăng qua các năm [8], [54].
Giới
Năm 2005
%
Năm 2006
%
Năm 2007
%
Năm 2008
%
Năm 2009
%
Nam
72,91
68,91
72,56
64,9
53,4
Nữ
27,09
31,09
27,44
35,1
46,6
1.7.5. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại trại giam K1 Cái Tàu tỉnh Cà Mau
Công tác phòng, chống HIV/AIDS là một trong những chương trình y tế
trọng tâm của y tế trại. Tuy nhiên chương trình này luôn gặp khó khăn rất lớn
đó là kinh phí cho chương trình, mặc dầu vậy y tế trại đã tranh thủ sự giúp đỡ

thuốc ngủ, nhóm các chất an thần, nhóm các chất kích thích, nhóm các chất
gây ảo giác điển hình, nhóm dung môi hữu cơ và thuốc xông.
- Bốn là căn cứ vào nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dược lý,
các chuyên gia của Liên hợp quốc đã thống nhất phân chia ma túy thành 5
nhóm sau [37]: 21
 Nhóm 1: Ma túy là các chất từ cây thuốc phiện;
 Nhóm 2: Ma túy là các chất từ cây cần sa;
 Nhóm 3: Ma túy là các chất kích thích;
 Nhóm 4: Ma túy là các chất ức chế;
 Nhóm 5: Ma túy là các chất gây ảo giác.
1.8.3. Các phƣơng thức sử dụng ma túy
Có nhiều hình thức sử dụng ma túy như:
- Hút: Dùng bàn đèn hoặc tẩu để hút; Hình thức này thường dùng với
các loại như thuốc phiện, cần sa.
- Hít: Là hít trực tiếp các loại ma túy như heroin, cocain.
- Tiêm chích ma túy: Dùng bơm kim tiêm (BKT) để tiêm chất ma túy
vào cơ thể như tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp hoặc dưới da.
- Uống: Cách này thường dùng đối với các loại như hồng phiến, thuốc
phiện sống hoặc các thuốc an thần.
- Nhai: Nhai lá cây có chất ma túy như lá cây coca [37], [47].
1.9. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG MA TÚY
1.9.1. Tình hình sử dụng ma túy liên quan đến HIV trên thế giới.
Vào những năm đầu thập kỷ 21, đại dịch HIV đã lây lan rất nhanh chóng
trong nhóm người nghiện ma túy tại nhiều nước thuộc Nam, Trung và Đông
Nam Á. Sự kết hợp nhân tố đó đã làm gia tăng số lượng lớn những người dễ
bị tổn thương của nhiều nước thuộc khối Asean, nó đẩy nhanh sự lan truyền
bệnh dịch HIV. Một trong số đó là vùng có vị trí địa lý nằm giữa vùng Tam

2003, có khoảng 13,2 triệu người trên toàn thế giới tiêm chích ma túy, 78%
trong số đó ở các nước đang phát triển. Số người chích ma túy ở Nam và
Đông Nam Á ước tính khoảng 3,3 – 5,6 triệu người [37], [73], [74], [64].
Đông Nam Á ước tính khoảng 3,3 – 5,6 triệu người 23
Việc sử dụng thuốc phiện, cây gai dầu và cần sa là phổ biến và lâu đời
tại Châu Á. Phong trào sử dụng heroin phát triển rất mạnh vào năm 1980. Trải
qua hai thập kỷ chúng ta lại phải chứng kiến việc sử dụng ma túy qua con
đường tiêm chích trở nên rất phổ biến, không chỉ sử dụng heroin mà còn sử
dụng cả những loại ma túy tổng hợp hay những chất gây nghiện khác [37].
Kể từ cuối những năm 1990, thuốc ATS trở thành một loại ma túy được
người sử dụng ma túy lựa chọn tại các nước Thái Lan, Hàn Quốc, Philipine,
Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Campuchia, Lào và Indonesia. Việc sử
dụng Ectasy (gồm Methylenedioxymethamphetamine viết tắt là MDMA), là
một loại thuốc thuộc nhóm ATS, đã được dùng rất phổ biến tại các sàn nhảy ở
Châu Á. Nguồn cung cấp ATS tăng vào năm 2005. Theo báo cáo của Bộ
Công An số lượng ma túy tổng hợp ATS bị bắt giữ đã tăng gấp năm lần
(210.800 viên) vào năm 2005 so với số lượng 39.500 viên bị bắt vào năm
2004. Số lượng heroin bị bắt giữ vẫn không giảm trong cùng thời điểm. Năm
2003 có khoảng 18.260 trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy –
theo báo cáo của Tổ chức Liên hiệp quốc về phòng chống tội phạm ma túy
(UNODC) năm 2005 thì số vụ vi phạm về ma túy giảm khoảng 21% kể từ
năm 2002 [37], [61].
Thuốc Polysybstance được sử dụng bằng cách pha chế vào các ly
Cocktail, hoặc rượu mạnh “cocktailing” cũng được sử dụng tại những vùng
này như một loại ma túy. Việc góp tiền để mua ma túy và dùng chung BKT
xảy ra rất phổ biến ở Châu Á. Đã có sự gia tăng rõ rệt việc sử dụng ma túy với
nhiều lý do khác nhau tại những vùng này của Châu Á, dĩ nhiên việc sử dụng

1.10. CÁC CHƢƠNG TRÌNH DỰ PHÒNG HIV/AIDS CHO NHÓM
NCMT
Khi HIV nhiễm vào nhóm NCMT thì nguy cơ truyền nhiễm cho những
người dùng chung kim tiêm là hết sức lớn – cao hơn và ngay lập tức hơn bất cứ
nhóm có hành vi nguy cơ nào khác. Do HIV tăng nhanh chi phí cá nhân cho 25
việc dùng chung dụng cụ tiêm chích. Vấn đề mua được các dụng cụ tiêm chích
tiệt trùng có lẽ đặc biệt nghiêm trọng ở các nước phát triển do không tiếp cận
được các dụng cụ đã tiệt trùng. Khi được trang bị với kiến thức về rủi ro và
tiếp cận hợp pháp với các dụng cụ tiêm chích tiệt trùng, những người TCMT
trong nhiều hoàn cảnh đã nhanh chóng có những hành vi an toàn hơn. Những
chương trình giảm thiểu tác hại của TCMT đối với dịch HIV đã giữ cho tỷ lệ
huyết thanh dương tính thấp đáng ngạc nhiên trong số những người tiêm chích
[37], [21], [65], [63].
Một chương trình dự phòng HIV đa dạng và toàn diện có nhiều nội dung
hoạt động bổ trợ cho nhau nhằm giúp đỡ người sử dụng MT phát huy những
hành vi BVSK và giảm những hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cũng
như các bệnh LTQĐTD khác như viêm gan B, C và các bệnh lây truyền
QĐTD [37], [38], [66].
Những nội dung hoạt động của một chương trình dự phòng HIV toàn
diện gồm có: Dự phòng từ xa đối với việc sử dụng ma túy; Tiếp cận cộng
đồng; Chương trình tiếp cận và hủy BKT; Chương trình điều trị lạm dụng ma
tuý: Mục tiêu của chương trình là giảm sử dụng ma tuý, giảm TCMT, giảm
hành vi nguy cơ liên quan đến lây truyền HIV qua đường tình dục và cơ hội
chăm sóc về GDSK và y tế, hỗ trợ tinh thần và thể chất cho người sử dụng ma
tuý [37], [75],[68],[69].
- Tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện: Tăng việc tiếp cận với tư vấn
xét nghiệm HIV là yếu tố chính là giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status