Nghiên cứu tình hình thừa cân béo phì ở học sinh tiểu học tại huyện cái nước tỉnh cà mau, năm 2009 - Pdf 18

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y- DƢỢC

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỪA CÂN - BÉO PHÌ
Ở HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU, NĂM 2009

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ Y TẾ
MÃ SỐ: CK 62 72 76 05


TCYTTG : Tổ chức y tế thế giới
TH : Tiểu học
VB/VM : Vòng bụng/vòng mông
WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ .1
Chƣơng 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU .3
1.1. Tình hình thừa cân béo phì. .3
1.2. Phân loại béo phì. .10
1.3. TỶ lệ mắc bệnh béo phì. .12
1.4. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của béo phì. .13
1.5. Các yếu tố liên quan đến thừa cân - béo phì. .15
1.6. Các hậu quả đối với sức khoẻ của béo phì ở trẻ em. .19
1.7. Điều trị béo phì ở trẻ em .23
1.8. DỰ phòng béo phì. .27
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .29
2.1. ĐỐi tượng nghiên cứu. .29
2.2. Phương pháp nghiên cứu .29
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1. Tình hình thừa cân – béo phì của trẻ Huyện Cái Nước 41
3.2. Các yếu tố liên quan đến thừa cân - béo phì 54
Chƣơng 4: BÀN LUẬN 62
4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu 62
4.2. Thừa cân béo phì ở trẹ em tiểu học huyện Cái Nước 62
4.3. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến thừa cân - béo phì 70
KẾT LUẬN 87
KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bảng 3.19. Mối liên quan giữa nhận thức của cha(mẹ) với TC-BP ở trẻ em 61
DANH MỤC SƠ ĐỒ - BIỂU ĐỒ

Biểu đồ Nội dung Trang
Biểu đồ 3.1. Phân bố giới tính theo tuổi 42
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ TC-BP theo giới và tuổi .44
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ béo bụng theo giới 46
Biểu đồ 3.5. TC-BP theo trường 50
Biểu đồ 3.6. Mức độ béo phì theo giới. 52
Biểu đồ 3.7. Chiều cao, cân nặng của 02 nhóm. 53
Biểu đồ 3.8. Nghề nghiệp cha mẹ của 02 nhóm. 56
Biểu đồ 3.9. So sánh thói quen ăn, uống giữa 2 nhóm. 57
Biểu đồ 3.10. So sánh số giờ ngủ của 2 nhóm 60
Sơ đồ 1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến cân bằng năng lượng cơ thể và sự
tăng cân 19
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa cân béo phì (TC- BP) đã trở thành một bệnh khá phổ biến khắp
thế giới, tỷ lệ ngày càng tăng, đƣợc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xem xét
nhƣ là một nạn dịch toàn cầu. Đó không chỉ là vấn đề sức khỏe của những
nƣớc đã phát triển mà ngay ở cả những nƣớc đang phát triển cũng đã có TC-
BP ngày càng nhiều, đặc biệt là vùng đang đô thị hóa.
TC- BP đóng vai trò làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong, do đó xã hội
cần quan tâm nhiều đến TC- BP trẻ em, đặc biệt là TC- BP ở lứa tuổi học
đƣờng vì tốc độ phổ biến của bệnh hiện nay ở học đƣờng sẽ ảnh hƣởng sớm
đến sức khỏe của các em khi trƣởng thành, có mối liên quan đối với các bệnh
cao huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu đƣờng típ 2, rối loạn chuyển hóa lipid,

cứu đề tài “ với hai mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ thừa cân - béo phì ở học sinh tiểu học tại huyện Cái
Nước, tỉnh Cà Mau, năm 2009.
2. Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ đến tình trạng thừa cân - béo phì ở
học sinh tiểu học tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. 3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH THỪA CÂN BÉO PHÌ
1.1.1. Sơ lƣợc lịch sử bệnh béo phì
Các biểu hiện lâm sàng của bệnh béo phì đã đƣợc ghi nhận từ thời Hi
Lạp La Mã cổ đại.
Đầu thế kỷ XX, các phân tích về các dữ kiện bảo hiểm nhân thọ đã
chứng tỏ rằng béo phì có liên quan với sự gia tăng tỷ lệ tử vong.
Yếu tố gia đình trong bệnh béo phì đƣợc đề cập vào năm 1920; bệnh
Cushing và bệnh béo phì do tổn thƣơng vùng dƣới đồi đƣợc mô tả cũng trong
thời gian này.
Nửa đầu thế kỷ XX, nhiều thuốc mới để điều trị bệnh béo phì đƣợc giới

Tại Apia (thuộc Samoa – Vùng Tây Thái Bình Dƣơng) Từ ngày 26 đến
29/9/2000 đã diễn ra Hội nghị về “chiến lƣợc dự phòng và kiểm soát béo phì”
tại vùng Thái Bình Dƣơng dƣới sự tổ chức của WHO, tổ chức Lƣơng Nông
Quốc tế (FAO), Đội đặc nhiệm về béo phì quốc tế, Hiệp hội nghiên cứu về
béo phì, Học viện khoa học đời sống Quốc tế của Đông Nam Á và cũng
không phải ngẫu nhiên ngƣời ta chọn Somoa một đảo quốc xa xôi để tổ chức
một hội nghị quốc tế về béo phì. Samoa là một trong những nơi có tỷ lệ béo
phì cao nhất thế giới. Trung bình 10 ngƣời dân có đến 6 – 7 ngƣời bị béo phì.
Hội nghị đã ra lời kêu gọi hành động làm giảm béo phì tại vùng Thái Bình
Dƣơng trong vòng 10 năm.
Tại Việt Nam cũng có tổ chức Hội nghị “Thừa cân và béo phì với sức
khỏe cộng đồng” đƣợc tổ chức vào ngày 10/01/2002 tại Hà Nội dƣới sự tổ
chức của Bộ Y Tế và Viện Dinh Dƣỡng.
Tƣ tƣởng chỉ đạo của Bộ Y Tế là đề ra các giải pháp thích hợp nhằm

5
kiểm soát thừa cân và béo phì là rất cần thiết ngay từ bây giờ mà không nhất
thiết phải chờ đợi các kết quả nghiên cứu dài hơn, vì đây là bài học kinh
nghiệm của nhiều nƣớc.
Tại hội nghị đã có 27 bài báo cáo và nghiên cứu khoa học đã đƣợc
trình bày, trong đó có một số nghiên cứu béo phì ở học sinh và cộng đồng ở
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang và Hải Phòng cho thấy tỷ lệ
thừa cân béo phì đang càng tăng ở các lứa tuổi đặc biệt là học sinh từ 6 đến
15 tuổi trở lên.
Một số nghiên cứu thực hiện ở Viện Nhi nhằm nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng và cận lân sàng, xét nghiệm và một số yếu tố nguy cơ của béo phì
Một số nghiên cứu về điều trị béo phì bằng phƣơng pháp uống thuốc Y học
dân tộc cũng đã thực hiện và cho thấy có kết quả cao [7], [49], [54], [62], [63]
Nhƣ vậy béo phì đã trở thành một vấn đề sức khỏe có tính thời sự đang
đƣợc quan tâm nghiên cứu.

tỷ lệ béo phì tăng ở tầng lớp khá giả trong xã hội với chỉ số khối cơ thể (BMI)
trung bình cao sau đó tỷ lệ béo tăng dần ở tầng lớp thu nhập thấp.
Ở các nƣớc đã phát triển, tỷ lệ béo phì cao ở tầng lớp nghèo thu nhập
thấp và ở nông thôn nhiều hơn thành thị.
Đáng chú ý là tình hình béo phì trẻ em không ngừng gia tăng ở Hoa
Kỳ, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em 5-14 tuổi Bang Louisiana tăng gấp đôi trong
khoảng 1973 và 1994.
Ở Nhật Bản cũng có tình trạng tƣơng tự, tỷ lệ trẻ em học sinh thừa cân
(12% cân nặng nên có) tăng từ 5% đến 10 % trong khoảng 1973 đến 1993.
Tỷ lệ tăng cao nhất ở trẻ em học sinh 9-11 tuổi. Béo từ lúc còn bé có nhiều
nguy cơ dẫn đến béo về sau này, cũng nhƣ các rối loạn bệnh lý khác liên
quan đến béo phì. Hơn nữa, tỉ lệ mắc bệnh và tử vong ở ngƣời trƣởng thành
tăng nếu có thừa cân - béo phì thời thiếu niên thậm chí họ đã giảm cân lúc
trƣởng thành [70].

7
Ở Thái Lan tỷ lệ trẻ em béo phì ở học sinh 5-12 tuổi ở Bangkok tăng
từ 12,2% năm 1991 đến 15,6% năm 1993. Tại Việt Nam, trong một vài năm
gần đây, một hiện tƣợng sức khoẻ đáng quan tâm xuất hiện ở nƣớc ta đó là
thừa cân - béo phì. Trƣớc năm 1975, hầu nhƣ tỷ lệ thừa cân - béo phì không
đáng kể.
Những bằng chứng khoa học mới đây cho phép chúng ta nhận định đây
là một vấn đề dinh dƣỡng mới nảy sinh không kém phần quan trọng, với tỷ lệ
tăng nhanh theo thời gian.
Hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh trong Hội Nghị “thừa cân - béo phì mối
nguy cơ của các bệnh thời đại” nhiều nhà khoa học cho biết tỷ lệ thừa cân -
béo phì taị Việt Nam đã tăng gấp đôi trong vòng 10 năm qua. Tỉ lệ này ở
nhóm tuổi 25- 64 là 16,3%, ở phụ nữ là 18,1%, nam giới 14,6%. So với ngƣời
bình thƣờng, ngƣời béo phì có tỉ lệ tăng huyết áp cao gấp 2.5 lần, nhồi máu cơ
tim cao gấp 3 lần, dễ mắc bệnh đái tháo đƣờng type 2 gấp 5 lần. làm tăng

thì và trƣởng thành. Vì vậy chỉ số cân nặng theo chiều cao chỉ nên đƣợc sử
dụng trong một khoảng tuổi nhất định mà thôi (< 9 tuổi). Ngƣời ta cũng lƣu ý
rằng trong điều tra cộng đồng chỉ số cân nặng theo chiều cao là đủ đánh giá
béo phì, vì đa số cá thể có cân nặng theo chiều cao cao đều béo.
Để khắc phục nhƣợc điểm trên, TCYTTG đã khuyến nghị sử dụng chỉ
số BMI là một chỉ số thực hành lâm sàng đơn giản đƣợc mô tả đầu tiên vào
thế kỷ XIX bởi Quetelet. Vì vậy, BMI còn đƣợc gọi là chỉ số Quetelet, là một
chỉ số kết hợp hai yếu tố cân nặng và chiều cao.
Chỉ số BMI ở ngƣời trƣởng thành gia tăng chậm theo độ tuổi, vì vậy
ngƣỡng này không phụ thuộc vào độ tuổi khi đánh giá độ béo gầy. Trái lại với
trẻ em, BMI thực tế thay đổi cùng với tuổi: Gia tăng nhanh chóng ở tuổi sơ
sinh, giảm xuống ở tuổi tiền học đƣờng và rồi tăng trở lại suốt thời kỳ thiếu
niên và giai đoạn sớm ở ngƣời trƣỏng thành. Chính vì lý do này mà BMI chỉ
nên sử dụng ở trên trẻ lớn (>9tuổi) và ngƣời trƣỏng thành và đánh giá chỉ số

9
BMI ở trẻ em cần thiết phải đƣợc đánh giá cùng biểu đồ tham khảo liên quan
với giới và tuổi (bách phân vị với giới và tuổi).
Bách phân vị (Percentile) là số phần trăm của các cá thể trong nhóm
mà những cá thể này đã đạt đến một mức tăng trƣởng hoặc một đo lƣờng về
lƣợng nào đó (ứng với một cột cao 95cm). Đối với số liệu nhân trắc, các
ngƣỡng bánh phân vị có thể đƣợc tính toán từ trung bình và độ lệnh chuẩn. Ở
mốc 5, 10, 25 bách phân vị tƣơng với – 1,65SD, -1,3SD và -0,7SD [15], [22],
[26], [27], [28].
Ở trẻ em, BMI ≥ 85 bách phân vị thì đƣợc xem là thừa cân và > 95
bách phân vị đƣợc xem là béo phì.
Ngoài ra ngƣời ta còn sử dụng việc đo bề dày nếp gấp da để loại trừ các
trƣờng hợp thừa cân do phát triển khối nạc. Hai vị trí: nếp gấp da cơ tam đầu
và góc dƣới xƣơng bả vai. Gọi là béo phì ở một trẻ vừa có thùa cân vừa có
nếp gấp da cơ tam đầu và góc dƣới xƣơng bả vai > 90 bách phân vị so với

- Một số bệnh ngoại tiết có thể gây béo phì, tuy nhiên nguyên nhân này
tƣơng đối hiếm gặp trong hội chứng Cushing, thiểu năng giáp trạng, thiểu
năng sinh dục…
- Ngoại trừ bệnh cƣờng insulin nguyên phát, các nguyên nhân béo phì
thứ phát đều làm trẻ chậm tăng trƣởng, thƣờng chỉ số chiều cao theo tuổi thấp
hơn 5 bách phân vị. Trong khi đó các trẻ béo phì nguyên phát thƣờng có
chiều cao lớn hơn chuẩn.

11
Bảng 1.1. Phân biệt giửa béo phì nguyên phát và béo phì thứ phát nội sinh

Yếu tố
Béo phì nguyên phát
Béo phì thứ phát
1. Tần suất béo phì ở trẻ em
> 90%
<10%
2. Chiều cao
Cao, thƣờng > 50 BPV
Lùn, thƣờng < 5
BPV
3. Tiền sử gia đình
Gia đình có béo phì
Gia đình có béo phì
không thƣờng gặp
4. Chức năng tâm thần
Bình thƣờng
chậm phát triển
5. Tuổi xƣơng
Bình thƣờng hoặc lớn

của nó sẽ trở nên một yếu tố chủ yếu làm kiệt quệ các nguồn lực dành cho y tế
tại vùng Thái Bình Dƣơng trong một tƣơng lai gần.
Dựa vào số liệu của NHANES 1999-2004 tỷ lệ béo phì gia tăng ở các
độ tuổi 6-10 tuổi từ 4% đến 17.5% độ tuổi 12-29 tuổi tăng từ 6.1% đến 17%
Điểm qua các quốc gia thuộc ASIAN ta thấy tại Singapore, tỷ lệ béo
phì của học sinh tiểu học là 9% ở nam và 8% ở nữ vào năm 1984, đến năm
1989 tỉ lệ này đã đạt 14.5% ở nam và 10.4 % ở nữ.
1.3.2. Tại Việt Nam
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị
trƣờng, sự phân cực trong xã hội dẫn đến sự phân cực trong ăn uống, lối sống.
Bên cạnh vấn đề suy dinh dƣỡng còn rất cao nhƣng đã có xu hƣớng giảm dần
nhờ các chiến lƣợc can thiệp tích cực, thì số trẻ thừa cân và béo phì đã gia
tăng đáng kể đặc biệt tại các thành phố lớn, tại Nha Trang tỷ lệ thừa cân ở trẻ
em là 2,7% năm 1997, đã tăng lên 5,88% vào năm 2001, tại thành phố Huế là
2,2%, tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ thừa cân ở trẻ em là 3% năm 1999, đã
tăng lên 6% vào năm 2000. Một nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ béo phì 1,2%,
thừa cân là 4,6% [51]. Tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh Hà Nội ở tất cả các
lứa tuổi điều có xu hƣớng tăng và tốc độ tăng nhanh vào những năm gần đây:
3,3% năm 1995 và 11,5% năm 2000 trong đó cao nhất là học sinh tiểu học:
8.8%, ở trẻ em dƣới 5 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh là 3.3% - 5,8% và
tăng nhanh ở thành phố hơn là ở nông thôn, tăng dần theo tuổi [8], [14], [15],
[34], [36], [42], [52]. 13
1.3.3. Tại tỉnh Cà Mau
Trong những năm gần đây tỉnh Cà Mau nói chung và huyện Cái Nƣớc
nói riêng chƣa có đề tài nào nghiên cứu về thừa cân- béo phì ở trẻ em nói
chung và độ tuổi 06 đến 10 tuổi nói riêng, nên chƣa có số liệu chính xác. Qua
thống kê báo cáo hàng năm của các phòng khám nhi thì tỷ lệ thừa cân-béo phì

tính sinh học trở nên dễ nhạy cảm với sự gia tăng hay là không.
Sự hấp thu năng lƣợng: năng lƣợng thu vào là toàn bộ thức ăn và đồ
uống mà có thể đƣợc chuyển hoá bên trong cơ thể. Chất béo cung cấp nhiều
năng lƣợng nhất tính trên mỗi đơn vị trọng lƣợng thức ăn, carbonhydrate và
protein là ít nhất. Năng lƣợng của chất xơ đƣợc ƣớc tính vào khoảng 6,3KJ/g,
rƣợu: 29KJ/g, protein: 17KJ/g, carbonhydrate: 10KJ/g.
Các quan sát trực tiếp về hấp thu năng lƣợng đều cho thấy ngƣời béo
phì thƣờng ăn nhiều và ăn nhanh hơn ngƣời gầy, sự hấp thu chất béo liên
quan chặt chẽ với béo phì ở trẻ em. Sự nở lớn của khối mỡ làm giảm các phản
ứng chuyển hoá bù trừ dẫn đến sự tích luỹ mỡ nhiều hơn nữa. Hoạt động tĩnh
tại tạo nên nhu cầu năng lƣợng thấp ở trẻ em. Hơn thế nữa hoạt động cơ bắp
thấp làm giảm sự oxy hoá chất béo thuận lợi cho việc tích luỹ mỡ [55].
- Sự tiêu hao năng lƣợng: Sự tiêu hao nặng lƣợng - yếu tố thứ hai của
phƣơng trình cân bằng năng lƣợng gồm 3 phần chính.
+ Năng lƣợng dành cho chuyển hoá cơ bản
+ Năng lƣợng dành cho quá trình sinh nhiệt
+ Năng lƣợng dành cho các hoạt động thể lực
Tuỳ theo tính chất thƣờng xuyên và mức độ hoạt động thể lực của từng
ngƣời mang các thành phần cơ bản của sự tiêu hao năng lƣợng có sự thay đổi
khác nhau, những ngƣời có mức hoạt động thể lực thấp là tƣơng đồng với sự
gia tăng của tỷ lệ béo phì [5].

15
1.5. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA CÂN - BÉO PHÌ
1.5.1. Chế độ ăn nhiều lipit hoặc đậm độ nhiệt- năng lƣợng cao
Liên quan chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ béo phì. Các thức ăn nhiều chất
béo thƣờng ngon nên ngƣời ta ăn quá nhiều mà không biết. Khi vào cơ thể các
chất protit, lipit, gluxit đều có thể chuyển thành chất béo dự trữ. Các nghiên
cứu cho thấy chỉ cần ăn dƣ 70 calo mỗi ngày sẽ dẫn tới tăng cân mặc dù số
calo nhỏ này có thể không đƣợc nhận ra dễ dàng, nhất là khi ăn những thức ăn

phát triển khi thiếu ăn ít phổ biến thì tỷ lệ béo phì lại thƣờng cao ở tầng lớp
nghèo, ít học so với tầng lớp trên [10].
Nguyên nhân khác nhau này là do ở những nƣớc nghèo, sự tiếp cận
thực phẩm hạn chế, nên ngƣời béo là biểu hiện của sự giàu có, hấp dẫn giới
tính. Ngƣời ta tin rằng béo là khoẻ mạnh. Ngƣợc lại ở nƣớc giàu, béo lại bị
xem là kém thông minh, chậm chạp và thiếu sự kiềm chế, dễ tự ti bất thƣờng
về tâm lý.
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy trẻ là con một, con út hay con
càng đƣợc cƣng chiều, không có sự tranh giành trong gia đình đều có tỷ lệ dƣ
cân cao. Những trẻ không đƣợc bú mẹ cũng làm tăng nguy cơ béo phì [73].
Các nhà tâm lý học cũng nhất trí rằng nhiều cha mẹ nuông chiều quá
mức trong việc ăn uống của trẻ, dùng những thực phẩm không thích hợp để
làm yên những đứa trẻ hiếu động, quấy khóc đã tạo ở trẻ thói quen đòi và tìm
ăn những thức ăn này khi bất bình, buồn chán. Tỷ lệ cân nặng (bao gồm cả
béo phì trong 6386 trẻ em Nauy là 13,8% (13, 5 nam và 14,5 % nữ ) không có
sự khác biệt giữa nam và nữ p = 0,146. trẻ ở lứa tuổi tiểu học 6-11 tuổi chiếm
tỉ lệ cao 17% và sự khác biệt của nhóm này cao hơn các nhóm còn lại
p < 0,001. Không có mối liên qua giữa nghề nghiệp của cha mẹ, tình trạng gia
đình kiểu mới hay gia đình truyền thống [78].

17
1.5.4. Ngủ ít
Yếu tố này cũng đƣợc xem nhƣ một nguy cơ cao ở trẻ thừa cân dƣới
5 tuổi.
Nguyên nhân chƣa rõ, nhƣng một số tác giả cho rằng kiểu sống gia
đình thiếu điều độ từ ngủ tới ăn hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo ra những
sóng thấp trên điện não khi ngủ cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể
là tối đa về đêm và sự ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nói chung (Poskitt - EME,
1995). Trong khi ngủ cơ thể tiết ra hoóc môn làm giảm sự thèm ăn. Nếu thức
dậy giữa chừng thì quá trình này bị gián đoạn sẽ làm cho bạn đói cồn cào và

bà có cân nặng bình thƣờng tỷ lệ quá cân là 7,9%. Ngƣợc lại, trẻ có cha mẹ
quá cân và ông bà có cân nặng bình thƣờng có tỷ lệ quá cân là 17,9%. Trẻ có
cha mẹ béo phì và ông bà có cân nặng bình thƣờng có tỷ lệ quá cân là 31,9%
(p<0,0001). Trẻ có cha mẹ có cân nặng bình thƣờng và ông bà có cân nặng
béo phì có tỷ lệ quá cân là 17,4% (p<0,0001) [68].
Có ngƣời rất sợ bị tăng cân, trong khi có trƣờng hợp chẳng cần lo giữ
gìn mà trọng lƣợng vẫn không thay đổi trong nhiều năm. Gien là yếu tố tạo sự
khác biệt này.
Các nhà khoa học đã nhận dạng nhiều loại gene làm tăng hoặc làm
giảm cảm giác thèm ăn, khiến một số ngƣời chóng đói hơn so với ngƣời khác,
hoặc phải cần ăn nhiều hơn mới đủ no. Năm 2007 tạp chí Sciens công bố
nghiên cứu từ Anh trong đó phát hiện gien FTO có ảnh hƣởng đến nguy cơ
bệnh đái tháo đƣờng và béo phì. Đó chính là nguyên nhân gây ra hiện tƣợng
ăn quá nhiều và tăng cân [60].
1.5.6. Lối sống tĩnh tại
Xem tivi thật ra không gây nên thay đổi trong tốc độ chuyển hoá của
trẻ, nhƣng tăng thời lƣợng xem tivi đồng nghĩa với tăng thời gian không hoạt
động. Hoạt động ở đây là cả lao động chân tay và trí óc.
Những ngƣời hoạt động thể lực nhiều thƣờng ăn thức ăn nhiều giàu

19
năng lƣợng, khi họ thay đổi lối sống, hoạt động nhƣng vẫn giữ thói quen ăn
nhiều nên dễ bị béo [11], [19], [21]. Xem tivi nhiều và lối sống tĩnh tại làm
tăng nguy cơ béo phì 23% và 14% đái tháo đƣờng type 2 qua 6 năm theo dõi
50277 phụ nữ [74]. Những trẻ không tự đi học mà đƣợc cha mẹ đƣa rƣớc
cũng làm tăng nguy cơ béo phì [53].
1.6. CÁC HẬU QUẢ ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ CỦA BÉO PHÌ Ở TRẺ EM

Chất béo
Glucid
Protein Hoạt động thể lực
Tiêu hoá thức ăn
Chuyển hoá cơ bản Tăng
cân
Cân nặng
ổn định
Giảm
cân
Dự trữ mỡ
Ảnh hƣởng môi trƣờng
và xã hội

Trích đoạn Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status