Nghiên cứu tình hình thừa cân béo phì của học sinh trung học cơ sở huyện cai lậy, tỉnh tiền giang - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
MAI VĂN MÃI
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH
THỪA CÂN BÉO PHÌ CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG NĂM 2009
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

2010
- 1 -
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BDNGDXBV : Bề dày nếp gấp dưới xương bả vai
BDNGDTĐ : Bề dày nếp gấp dưới cơ tam đầu
BMI : Body mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
BPV : Bách phân vị (percentile)
CN/CC : Cân nặng/chiều cao
FAO : Food Agriculture Organization
(Tổ chức lương - nông)
GDP : Mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người
NCHS : National Center For Health Statistics
(Trung tâm Thống kê Sức khỏe quốc gia)
OR : Odd Ratio (Tỷ suất chênh)
SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)
SDD : Suy dinh dưỡng
TC-BP : Thừa cân-béo phì
TCYTTG : Tổ chức y tế thế giới
THCS : Trung học cơ sở
VB : Vòng bụng
VM : Vòng mông

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là tương lai của đất nước “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai ”, do
vậy việc chăm sóc sức khỏe trẻ em không chỉ là mối quan tâm của từng gia đình
mà còn là sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước, để có một thế hệ có đủ thể
lực và trí tuệ tốt.
Béo phì và suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em là hai thái cực của một
vấn đề. Người ta nhận thấy cả tình trạng thừa cân-béo phì và quá nhẹ cân đều liên
quan đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong [13], [19], [23], [84].
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em là sự tác động qua lại hết sức phức tạp
của các yếu tố kinh tế-văn hóa-xã hội và môi trường. Cho nên tính chất phổ biến
của tình trạng dinh dưỡng được coi là chỉ số hữu ích để đánh giá trình độ phát
triển của quốc gia.
Dinh dưỡng chiếm một vị trí quan trọng đối với sức khỏe trẻ em, nó ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển, ảnh hưởng đến tình hình
bệnh tật và tử vong của trẻ em. Tình trạng thể chất của trẻ không bình thường còn
liên quan đến khẩu phần ăn dư thừa, vượt quá mức nhu cầu của trẻ dẫn đến thừa
cân-béo phì. Do vậy, khi nói đến “Malnutrition” bao hàm cả “thiếu và thừa”
dinh dưỡng [19], [23].
Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu calo và năng lượng trong khi đó thừa
cân-béo phì là tình trạng tăng năng lượng thu vào hoặc giảm năng lượng tiêu hao
diễn ra trong một khoảng thời gian đáng kể [48]. Tuy nhiên có những yếu tố
nguy cơ khác cùng tác động lên mỗi cá thể để làm cho suy dinh dưỡng hoặc béo
phì dể xuất hiện [19], [72].
Thừa cân-béo phì đang được tổ chức Y tế thế giới xem xét dưới góc độ là
một “nạn dịch toàn cầu” (global epidemic) và người ta cho rằng béo phì xếp đầu
tiên của một nhóm được gọi là “các căn bệnh của nền văn minh” (Diseases of
civilization) [24], [32], [76], [78].
Việt Nam là nước đang phát triển vì vậy chúng ta đang ở trong xu hướng
chung của các nước đang phát triển đó là suy dinh dưỡng cùng tồn tại song hành
- 4 -

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa thừa cân-béo phì
Béo phì là sự tích tụ mỡ bất thường và quá mức tại mô mỡ và các tổ chức
khác gây hậu quả xấu cho sức khỏe [68]. Nguyên nhân có thể là thứ phát (nội
sinh) hoặc nguyên phát (ngoại sinh) [19], [38].
Cho đến nay, khác với người lớn người ta vẫn chưa có sự nhất trí cao về
định nghĩa cũng như trong việc sử dụng các ngưỡng thích hợp để phân định một
đứa trẻ là béo phì hay không.
Với khái niệm đơn giản được chấp nhận nhiều nhất thì thừa cân
(overweight) là một tình trạng tăng quá mức trọng lượng cơ thể so với trọng
lượng chuẩn và béo phì (obesity) là tình trạng tăng quá mức mỡ cơ thể một cách
cục bộ hay toàn thể [14], [36].
Trên thực tế có thể có một số trẻ thừa cân nhưng không béo phì do sự phát
triển quá mức của khối nạc và xương.
Sự tương quan chặt chẽ giữa chiều cao và cân nặng trong suốt thời kỳ phát
triển trẻ em cho thấy rằng chỉ số cân nặng theo chiều cao (weight for height):
W/H có thể là một phương pháp đơn giản để nhận định độ béo gầy [19], [24].
Một quần thể tham khảo đã được TCYTTG khuyến nghị sử dụng trên toàn
thế giới từ những năm 1970 là quần thể NCHS (National Center For Health
Statistics), Trung tâm thống kê Sức khỏe quốc gia của Hoa Kỳ. Trong các điều
tra sàng lọc giới hạn ngưỡng để đánh giá một đứa trẻ là thừa cân khi chỉ số cân
nặng theo chiều cao lớn hơn +2SD so với quần thể tham chiếu NCHS/WHO.
Một Ủy ban các chuyên gia của TCYTTG cũng đã đưa ra khuyến nghị rằng
mối liên quan này thay đổi nhiều theo tuổi, có lẽ là cùng với thời kỳ dậy thì và
trưởng thành. Vì vậy chỉ số cân nặng theo chiều cao chỉ nên được sử dụng trong
một khoảng tuổi nhất định mà thôi (<9 tuổi). Người ta cũng lưu ý rằng trong
điều tra cộng đồng chỉ số cân nặng theo chiều cao cao là đủ đánh giá béo phì, vì
đa số cá thể có cân nặng theo chiều cao cao đều béo [19], [34].
- 6 -
Để khắc phục nhược điểm trên, TCYTTG đã khuyến nghị sử dụng chỉ số

Hiện chưa có các “ngưỡng” quy ước với vòng bụng. Người ta thấy các nguy cơ
bị bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim tăng khi vòng bụng
- 7 -
≥ 94cm đối với nam, ≥ 80cm đối với nữ và tăng lên rõ khi các trị số tương ứng là
≥ 102cm và ≥ 88cm [2], [8], [19] là béo phì trung tâm.
1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của béo phì
Mọi người đều biết cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân
bằng giữa năng lượng do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động
và các hoạt động khác của cơ thể [72]. Cân nặng cơ thể tăng lên có thể do các chế
độ ăn dư thừa vượt quá nhu cầu hoặc do nếp sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao
năng lượng [68]. Người ta nhận thấy 60-80% trường hợp béo phì là do nguyên
nhân dinh dưỡng [19], [72].
Cơ sở sinh lý học của sự điều hòa cân nặng cơ thể là phương trình cân
bằng năng lượng:
Năng lượng dự trữ = Năng lượng hấp thu – Năng lượng tiêu hao.
Một cân bằng năng lượng dương tính xảy ra khi năng lượng hấp thu lớn
hơn năng lượng tiêu hao, điều này sẽ kích thích làm gia tăng dự trữ năng lượng
và tăng cân [68]. Ngược lại, một cân bằng âm tính xảy ra khi năng lượng hấp thu
thấp hơn năng lượng tiêu hao, điều này làm giảm năng lượng dự trữ và giảm cân
[13], [14], [19], [34]. Như vậy chỉ khi có cân bằng năng lượng dương tính xảy ra
thì mới có khả năng phát triển thành béo phì tức là năng lượng (Calo) đưa vào
cơ thể qua thức ăn, thức uống được hấp thu và dự trữ dưới dạng mỡ nhiều hơn
là được oxy hóa để tạo thành nhiệt lượng (TCYTTG 2000). Do đó người béo phì
cần hạn chế bớt thức ăn giàu năng lượng như chất béo, chất ngọt và cần tăng
hoạt động thể lực để tăng cường sử dụng năng lượng, không ăn quá mức
cần thiết [19], [71], [73], [85].
Các nghiên cứu về dịch tễ học, di truyền học và sinh thái học phân tử cho
thấy nhiều quần thể khác nhau trên thế giới có những người rất dễ nhạy cảm với
sự tăng cân và phát triển thành béo phì dễ hơn những người khác. Các yếu tố di
truyền, sinh học và các yếu tố cá nhân khác như tuổi, giới, hoạt động các

- 9 -
- Béo phì dạng nữ (gynoid obesity) hay còn gọi là béo phần dưới, béo
ngoại vi, béo dạng quả lê (pear – shapled), hay béo phần thấp kiểu đàn bà, kiểu ít
gây nguy cơ bệnh tật hơn [13], [19].
- Béo phì hỗn hợp: trường hợp này mô mỡ phân bố khá đồng đều.
Các trường hợp béo phì nặng và rất nặng thường là béo phì hỗn hợp [13], [19].
1.3.2. Theo nguyên nhân bệnh sinh
- Chỉ có một số ít (10%) béo phì ở trẻ em có nguyên nhân nội tiết hoặc do
khiếm khuyết di truyền (còn được gọi là béo phì thứ phát hay béo phì nội sinh),
còn lại hơn 90% là béo phì nguyên phát [19].
- Một số bệnh nội tiết có thể gây béo phì, tuy nhiên nguyên nhân này tương
đối hiếm gặp như trong hội chứng Cushing, thiểu năng giáp trạng, thiểu năng
sinh dục.
- Ngoại trừ bệnh cường insulin nguyên phát, các nguyên nhân béo phì thứ
phát đều làm trẻ chậm tăng trưởng, thường chỉ số chiều cao theo tuổi thấp hơn 5
bách phân vị. Trong khi đó các trẻ béo phì nguyên phát thường có chiều cao lớn
hơn chuẩn. Nói cách khác nếu trẻ béo phì có chiều cao theo tuổi lớn hơn 50 bách
phân vị thì không cần khảo sát thêm nguyên nhân của béo phì. Đây là một điểm
rất quan trọng trong thực hành lâm sàng.
Bảng 1.1. phân biệt giữa béo phì nguyên phát và béo phì thứ phát nội sinh
[13], [19].
Yếu tố Béo phì nguyên phát Béo phì thứ phát
1. Tần suất béo phì ở trẻ em > 90% < 10%
2. Chiều cao Cao, thường >50 BPV Lùn, thường < 5 BPV
3. Tiền sử gia đình Gia đình có béo phì
Gia đình có béo phì
không thường gặp
4. Chức năng tâm thần Bình Thường Chậm phát triển
5. Tuổi xương
Bình thường hoặc lớn

trong khi rau quả làm trẻ dễ chán. Không chỉ ăn nhiều mỡ, thịt mà ăn nhiều chất
bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo [19], [48], [58], [73], [85]. Những thức ăn
hấp thụ nhanh, đặc biệt là Carbonhydrate còn gây tăng nhanh Glucose, insulin
máu, kế đó giảm glucose và gây thèm ăn nhiều hơn. Nhiều tác giả cho rằng việc
thích ăn nhiều đường, Snack (giàu béo), những thức ăn nhanh nấu sẵn
(hamburger, sausage) và miễn cưỡng ăn rau quả là một đặc trưng của trẻ béo phì.
- 11 -
Thói quen ăn nhiều vào bữa tối cũng là một điểm khác nhau giữa trẻ béo và
không béo [4], [19]. Một số trẻ có thói quen nhấm nháp thứ gì đó khi thấy mệt
mỏi, buồn bã hoặc xúc động. Tiêu thụ đồ ăn nhanh, kể cả khi không thực sự thấy
đói, cũng khiến trẻ rơi vào tình trạng tăng cân khó kiểm soát.
1.4.2. Hoạt động thể lực kém
Trọng lượng cơ thể trước tiên được điều hòa bởi một loạt quá trình
sinh lý nhưng nó cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về nhận thức cũng như yếu tố
xã hội bên ngoài. Tuy nhiên yếu tố cơ bản để béo phì trở thành “nạn dịch toàn
cầu” chính là các yếu tố xã hội mà dẫn đến sự thay đổi về lối sống, thói quen ít
hoạt động thể lực, tăng tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng và có hàm lượng chất
béo cao [57], [78], [85]. Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỷ lệ béo phì đi
song song với sự giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại hơn, thời gian
dành cho xem tivi và đọc báo, làm việc bằng máy tính, nói chuyện qua điện thoại
dài, lái xe [67], [75].
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận trẻ em thừa cân ở thành thị nhiều hơn ở
nông thôn [3], [4], [42], [56], [84]. Phân tích nhận định này cho thấy ngoài tác
động do điều kiện kinh tế, trẻ sống từ môi trường thành thị hầu như thiếu cơ hội
để vui chơi bên ngoài trong những điều kiện an toàn. Chúng sẽ ở nhà để xem tivi
và do buồn chán, chúng sẽ tìm đến thức ăn để được thích thú [4]. Ngược lại, trẻ
sống ở nông thôn, nơi mà khí hậu ưu đãi quanh năm cho những hoạt động ngoài
trời, thì ít béo hơn. Nhiều tác giả đã xác định: trẻ thừa cân ít hoạt động thể lực
hơn trẻ có cân nặng bình thường [4], [60], [66]. Hai yếu tố quan trọng góp phần
đó là giảm hoạt động thể lực ở trẻ em trong những xã hội giàu có, hầu như trẻ

những thức ăn này khi buồn chán.
1.4.4. Ngủ ít
Yếu tố này cũng được xem như là một nguy cơ cao ở trẻ thừa cân dưới 5
tuổi. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng một số tác giả cho rằng kiểu sống gia đình
thiếu điều độ từ ngủ tới ăn hoặc do thiếu hoạt động thể lực tạo ra những sóng
thấp trên điện não khi ngủ cũng có thể do hoạt động tiêu mỡ của cơ thể là tối đa
- 13 -
về đêm và sự ngủ ít làm giảm tiêu mỡ nói chung (Poskitt-EME, 1995). Trong khi
ngủ cơ thể tiết ra hormone làm giảm sự thèm ăn. Nếu thức dậy giữa chừng
quá trình này bị gián đoạn sẽ làm cho bạn đói cồn cào và rất khó ngủ tiếp nếu
không được ăn một chút gì và đó chính là thủ phạm nhanh nhất để tích lũy mỡ
thừa [13], [19], [24].
Sự mất ngủ thường xuyên còn ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các
hormone đốt cháy calo thừa trong cơ thể bạn. Một nghiên cứu kéo dài 13 năm
trên gần 500 người ở Mỹ, tuổi từ 27 đến 40, cho thấy: những người tăng cân
nhiều nhất là những người ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi đêm. Một phần nguyên nhân là:
thời gian thức dậy giữa đêm càng dày thì xu hướng ăn thêm càng tăng, và sự
thiếu ngủ cũng đã thay đổi cả đồng hồ sinh học cũng như hệ sinh hóa tự nhiên
trong cơ thể. Các hóa chất và hormone kiểm soát cảm giác thèm ăn rất dễ bị thay
đổi khi thời gian ngủ giảm đi dù chỉ một hoặc hai tiếng so với bình thường [19].
Càng béo phì, càng khó ngủ. Đây là một vòng luẩn quẩn, người mất ngủ sẽ
bị tăng cân và càng béo thì họ càng khó ngủ hơn. Người béo phì dễ bị ngạt thở
lúc ngủ vì các cơ ở họng bị giãn, trùng xuống làm cản trở dòng khí ra vào. Vì thế,
họ buộc phải thức dậy một vài giây để dễ thở, sau đó ngủ lại, rồi lại thức giấc.
Cứ thế, cái vòng luẩn quẩn này lặp đi lặp lại suốt đêm khiến người béo phì không
thể có giấc ngủ sâu [19], [68], [69], [77].
1.4.5. Yếu tố di truyền
Đáp ứng sinh nhiệt kém có thể do yếu tố di truyền. Yếu tố di truyền có vai
trò nhất định đối với béo phì, những trẻ béo thường hay có cha mẹ béo, tuy vậy
nhìn trên đa số cộng đồng yếu tố này không lớn. Theo Mayer J (1995) thì nếu cả

Sự nhạy cảm của cá
thể
Kiểu hoạt động thể
lực và chế độ ăn
Hoạt động
thể lực
Sinh nhiệt
Chuyển
hóa cơ bản
Tăng cân Duy trì cân nặng Giảm cân
Dự trữ mỡ cơ thể
Sơ đồ 1.1. Các sự ảnh hưởng lên cân bằng và điều hòa năng lượng
Béo phì là một đơn vị bệnh lý độc lập đồng thời là một trong những yếu tố
nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành (CHD),
bệnh đái tháo đường týp 2 [45]. Các yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính
không lây (non commiucable disease NCD) là hút thuốc lá, béo phì, tăng huyết
áp và tăng Cholesterol máu [19], [20], [23], [39], [54], [57].
Béo phì làm gia tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong [8], [18], [19], [22], [40],
[61]. Các hậu quả xấu về sức khỏe của người béo phì rất nhiều và rất khác nhau.
Các nguy cơ này được sắp xếp từ những nguy cơ làm chết yểu cho đến những
nguy cơ tuy không nguy hiểm chết người nhưng lại làm kém đi chất lượng cuộc
sống [19].
Các hội chứng liên quan với béo phì ở trẻ em liên quan đến vấn đề tâm lý
xã hội [43], phát triển quá nhanh, dậy thì sớm, gia tăng khối mỡ tự do, rối loạn
lipit huyết, gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch, gan nhiễm mỡ, bất thường trong
chuyển hóa glucose. Các hậu quả ít gặp hơn gồm các biến chứng về hình thể
(orthopeadic complication), khó thở tắc nghẽn lúc ngủ [68], [69], [77], khối giả u
não, bệnh buồng trứng đa nang, sỏi mật.
Hậu quả lâu dài và quan trọng nhất của béo phì ở trẻ em là sự tồn tại dai
dẵng cho đến tuổi trưởng thành. Có khoảng 80% trẻ em béo phì sẽ trở thành béo

thần kinh và nội tiết. Trong đó, insulin là hormone duy nhất làm giảm đường
huyết. Khi bị béo phì khả năng làm giảm đường huyết của insulin giảm nhất là
những người béo bụng, chính vì vậy tế bào gan tăng sản xuất glucose, trong khi
tế bào cơ và mô mỡ lại giảm tiếp nhận glucose, gây tăng đường huyết. Để thích
ứng với mức đường huyết cao hơn bình thường như vậy, tuyến tụy tăng cường
sản xuất insulin, đến một thời điểm nào đó, khi lượng insulin không đủ sức để
khống chế đường huyết, các triệu chứng của bệnh đái tháo đường xuất hiện.
Chính vì vậy, người béo dễ mắc bệnh đái tháo đường hơn so với người có cân
nặng bình thường. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là người béo nào cũng mắc
- 17 -
bệnh đái tháo đường, bởi vì sự xuất hiện của bệnh cần có thời gian và còn phụ
thuộc khả năng thích ứng của cơ thể [1], [8], [36], [53], [59], [84]. Nguy cơ đái
tháo đường týp 2 tăng lên liên tục khi BMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm.
Một nghiên cứu gần đây cho thấy có thể giảm tới 64% trường hợp đái tháo đường
týp 2 ở nam và 74% ở nữ nếu BMI không vượt quá 24. Các nguy cơ trên tiếp tục
tăng lên khi:
- Béo phì ở thời kỳ trẻ em và thiếu niên.
- Béo bụng.
Khi cân nặng giảm, khả năng dung nạp glucose tăng, sự kháng lại insulin
giảm [8], [19].
1.5.5. Các biến chứng về hình thể (orthopeadic complication)
Các biến chứng nặng bao gồm chứng cong xương đùi do bị đè nén bởi cơ
thể quá nặng, bệnh Blount (biến dạng xương là hậu quả từ việc phát triển quá
mức xương chày) [74]. Các biến chứng nhẹ hơn gồm có tật chân vòng kiềng
(genuvalgum) và chứng dễ trẹo cổ chân [56], [72].
1.5.6. Các biến chứng khác
Bao gồm chứng khó thở tắt nghẽn lúc ngủ [8], [68], [69], [77] và khối giả
u não (Pseudotumor Cerebri) [58], [74]. Khó thở tắt nghẽn lúc ngủ có thể giảm
thông khí phổi, thậm chí gây đột tử trong các trường hợp nặng [74]. Khối giả u
não là một bệnh tâm lý hiếm gặp với triệu chứng tăng áp lực nội sọ, cần phải

làm bùng nổ các rối loạn liên quan đến ăn uống do sự lo sợ quá mức bệnh béo
phì, đặc biệt ở lứa tuổi mới lớn [60], [62], [66], [77], [85].
1. Dự phòng tăng cân
2. Khuyến khích duy trì cân nặng hiện tại
3. Kiểm soát bệnh tật đồng hành với béo phì
4. Khuyến khích giảm cân
Người ta áp dụng 3 mục tiêu dự phòng sau đây:
- Dự phòng cho cộng đồng: (Dự phòng toàn dân)
- 19 -
+ Dự phòng trực tiếp lên tất cả mọi người trong cộng đồng. Nhằm tuyên
truyền dinh dưỡng hợp lý và lối sống lành mạnh thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng, tại nơi làm việc, thông qua trường học và các tài liệu giảng dạy, tập
huấn qua mạng lưới của các câu lạc bộ và trung tâm của cộng đồng.
+ Các can thiệp thiết yếu: Nâng cao kiến thức của cộng đồng về
mối nguy hại của thừa cân-béo phì và 2 giải pháp quan trọng ngăn ngừa
thừa cân-béo phì được xác định rõ đó là: Nâng cao hoạt động thể lực và cải thiện
chất lượng bữa ăn. Hạn chế những thức ăn chế biến sẵn có đậm độ năng lượng
cao, nhiều chất béo đang thay thế dần những thức ăn truyền thống
(TCYTTG 2000) [61], [66], [72], [73], [86].
- Dự phòng chọn lọc: Dự phòng trực tiếp lên các cá nhân và các nhóm có
nguy cơ cao bị béo phì. Tuyên truyền sâu hơn để các đối tượng hiểu rõ và có thể
tự giải quyết các nguy cơ.
- Dự phòng có mục tiêu: là nhằm đến cá nhân đã bị thừa cân thực sự và
những người tuy chưa bị béo phì nhưng có những chỉ dấu sinh học cho thấy có sự
thừa chất béo quá mức. Dự phòng trẻ bị thừa cân không trở thành béo phì lúc
trưởng thành là một mục tiêu chiến lược dự phòng này.
Chiến lược dự phòng thừa cân-béo phì trong cộng đồng bao gồm các biện
pháp phối hợp như sau [82]:
- Tăng cường hiểu biết của cộng đồng về béo phì và các bệnh mạn tính
không lây có liên quan đến béo phì [19].

Đối với trẻ béo phì nặng, chương trình giảm cân phải được tiến hành từng
bước, lý tưởng nhất là giảm khoảng 0,5 kg/tuần. Điều này sẽ không kìm hãm sự
tăng trưởng chiều cao, quá trình chuyển hóa vẫn diễn ra an toàn, gây nên một
cảm giác đói tối thiểu, giữ an toàn khối nạc, không gây nên các rối loạn về
tâm lý. Chương trình điều trị gồm có: chế độ ăn, thể dục, trị liệu hành vi và một
số phương pháp trị liệu khác [19], [77].
- 21 -
Bảng 1.2. Các thành phần của một chương trình điều trị béo phì [19]
Thành phần Đề nghị
Mục tiêu giảm
cân thỏa đáng,
tiết chế
- Khởi đầu đạt được giảm 2,5 -5kg tốc độ 0,5-2kg/tháng
- Tính được tổng năng lượng mỗi ngày, phần trăm năng lượng
của các thành phần mỡ, protein và carbonhydrate
Hoạt động
Thực thể
- Bắt đầu tùy thuộc chức năng hô hấp và tuần hoàn của
trẻ, với mục tiêu cuối cùng là hoạt động 20-30phút/ngày
(không tính các hoạt động tay chân ở trường học)
Điều chỉnh
hành vi
- Tự kiểm soát, giáo dục dinh dưỡng, khuyến khích, điều chỉnh
các thói quen ăn uống, hoạt động thể dục thể thao, thay đổi thái
độ, củng cố và phần thưởng
Sự tham gia của
gia đình
Đánh giá sinh hoạt gia đình, kiểu xem tivi, tham vấn dinh
dưỡng cho cha mẹ bệnh nhi
1.7.1. Thay đổi chế độ ăn

- Các thức ăn giàu năng lượng như: đường mật, mứt, kẹo, bánh ngọt,
chocolat, nước ngọt… nên tránh ăn uống.
- Các thức ăn không nên dùng: Không uống các chất kích thích như rượu,
bia, café.
- Khi chế biến tránh xào rán nhiều mỡ, nên tăng các dạng rau luộc, nấu
canh, làm nộm, rau trộn xalat.
- Không nên ăn nhiều vào chiều và tối, phân chia các bữa ăn trong ngày
theo một thời gian biểu hợp lý, trẻ có thể ăn 3 bữa chính + 1-2 bữa phụ. Những
bữa ăn trong ngày nên càng sớm càng tốt (trước 19 giờ). Các thức ăn được đưa
vào cơ thể trong thời gian này được tiêu hóa trong thời gian ngủ, tức là khi cơ thể
không hoạt động chuyển thành năng lượng dự trữ.
Việc áp dụng chế độ ăn hạn chế protein một cách nhanh chóng chỉ nên
được áp dụng đối với những trường hợp nặng và phải được thực hiện tại các
trung tâm chuyên khoa dưới sự giám sát chặt chẽ. Cần lưu ý chương trình giảm
cân có thể làm tổn thương xúc cảm, tâm thần của trẻ. Các rối loạn hành vi ăn
- 23 -
uống như chứng chán ăn tâm thần (anorexia nervosa), chứng cuồng ăn (bulimia
nervosa) có thể xảy ra [13], [53].
Sự bận tâm lo lắng thái quá của cha mẹ hoặc của bản thân trẻ về cân nặng
có thể làm giảm đi tính tự tin của trẻ. Sau khi đã đạt được các mục tiêu ban đầu,
cả gia đình và đứa trẻ phải tích cực duy trì các thói quen tốt đã đạt được. Việc tái
khám đều đặn sẽ giúp đạt được điều này [19].
1.7.2. Thể dục
Tùy theo từng người mà có thể lựa chọn hình thức luyện tập cho thích hợp:
duy trì chế độ luyện tập thể thao ít nhất 30 phút/ngày với các loại hình như: đi bộ,
bơi, thể dục nhịp điệu, đi xe đạp… Người ta ước tính 1kg chất béo của cơ thể
cung cấp đủ năng lượng cho đi bộ hoặc đi nhanh 100km. Điều này tương ứng với
đi bộ 2,5km (20-30phút/ngày, 5 lần/tuần) sẽ mang đến giảm khoảng 6,5kg chất
béo trong 1 năm với điều kiện không ăn thừa năng lượng. Nhiều nghiên cứu
chứng tỏ rằng tăng hoạt động thể lực kết hợp với chế độ ăn hiệu quả hơn nhiều

học của béo phì như sử dụng leptin, trong tương lai sẽ là phương pháp hiệu quả
để điều trị cũng như dự phòng ở trẻ em.
1.8. Quá trình nghiên cứu bệnh béo phì
Các biểu hiện lâm sàng của bệnh béo phì đã được ghi nhận từ thời Hi Lạp
La Mã cổ [85]. Đầu thế kỷ XX, các phân tích về các dữ kiện bảo hiểm nhân thọ
đã chứng tỏ rằng béo phì có liên quan với sự gia tăng tỉ lệ tử vong. Yếu tố gia
đình trong bệnh béo phì được đề cập vào năm 1920, bệnh Cushing và bệnh béo
phì do tổn thương vùng dưới đồi được mô tả cũng trong thời gian này [82]. Nửa
đầu thế kỷ XX, nhiều thuốc mới để điều trị bệnh béo phì được giới thiệu, phẫu
thuật cắt 1 phần dạ dày cũng đã được áp dụng để điều trị cho những ca bệnh béo
phì trầm trọng [85].
Tại các quốc gia công nghiệp phát triển đã có rất nhiều nghiên cứu về béo
phì ở các khía cạnh khác nhau.
Tại Hoa Kỳ, béo phì đã trở nên 1 vấn đề dịch tễ quan trọng được quan tâm
nghiên cứu. Năm 1990 Hoa Kỳ tiêu tốn khoảng 68,8 tỷ USD để điều trị và
- 25 -

Trích đoạn Phương pháp nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status