Hàn Mặc Tử và mĩ học
của khát vọng Trong lịch sử thơ ca dân tộc, Hàn Mặc Tử là một “ca” đặc biệt. Đặc biệt vì bệnh tật và
cô đơn: Thịt da tôi sượng sần và tê điếng - Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên - Tôi dìm hồn
xuống một vũng trăng êm - Cho trăng ngập dồn lên tới ngực(Hồn là ai?). Đặc biệt về tài năng:
“Mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến đi, và còn lại của cái thời kỳ này chút
gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” (Chế Lan Viên, Người mới, số 5, ngày 23.11.1940). Đặc biệt
trong tiếp nhận: bên cạnh những lời ngợi ca là những cái nhìn đầy nghi hoặc. Lại nữa, hoàn
cảnh chiến tranh và biết bao định kiến hẹp hòi đã làm cho nhiều người hiểu sai lệch về ông.
Nhưng cùng với thời gian, người ta đã dần vén lên sự thật về một tài năng cỡ độc nhất vô nhị
của thơ ca Việt Nam hiện đại. Cái gì của Cesar thì trả lại Cesar. Đã có rất nhiều công trình đã
viết về Hàn Mặc Tử, nhưng ai dám chắc mình đã hiểu được những vẻ đẹp mà ông đã góp cho
thơ? Câu hỏi Hàn Mặc Tử - anh là ai vẫn còn đó. Như một thách đố và một mời gọi
Tài năng thi ca của Hàn Mặc Tử được bộc lộ từ rất sớm. Ngay từ năm 1931, khi Hàn Mặc
Tử đăng ba bài thơ trên tờThực nghiệp dân báo (số 3248), Phan Bội Châu đã họa lại cả ba bài và
tỏ lời khen ngợi nồng nhiệt. Rồi từ Gái quê đầy hiền lành, bẽn lẽn, Hàn Mặc Tử gây sửng sốt thi
đàn bằng việc dựng lên cả một thế giới “kinh dị” với những “lời thơ như dính máu” (Hoài
Thanh). Thế giới ấy đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của lý trí thông thường vì đó là kết quả của
những giây phút siêu thăng:
Tôi điên tôi nói như người dại
Van lạy không gian xoá những ngày
(Lưu luyến)
Sẽ khó lòng đo ướm và cắt nghĩa thơ Hàn từ những kinh nghiệm thông thường đậm màu
lý tính và thiếu vắng đức tin. Ngay đến nhà thơ mới nhất của phong trào Thơ mới là Xuân Diệu
cũng tỏ ý nghi ngờ: “Tôi điên đây! Tôi điên đây! - Điên cũng không dễ như người ta tưởng đâu.
Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”( Ngày nay, số ra ngày
(2)
. Ảnh hưởng Thiên Chúa giáo đối với thơ Hàn Mặc Tử là một sự thật, có ý nghĩa
như một nét trội trong tư duy nghệ thuật thơ ông, và là nhân tố quan trọng tạo nên sự mê hoặc
và vẻ sang trọng của một cõi thơ “rộng rinh không bờ bến” (Đỗ Lai Thúy). Nhìn về ảnh hưởng
và tư duy tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử một cách rộng hơn, nhiều nhà nghiên cứu lại khẳng
định trong thơ Hàn Mặc Tử có sự dung hòa, tích hợp tôn giáo, và những tôn giáo ấy, suy cho
cùng, cũng là để phụng sự và làm giàu cho một tôn giáo khác là thi ca
(3)
. Thơ là mục đích sống
cao nhất của Hàn Mặc Tử, mang đặc tính cứu rỗi và cũng là phương thức để Hàn giao cảm với
Thượng Đế. Nhưng hướng về Thượng Đế, Hàn Mặc Tử vẫn “ngông cuồng” so bì với Đấng
Tối Cao: Ta chắp hai tay lạy quỳ hoan hảo/ Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian/ Để
vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân/ Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế (Đêm xuân cầu
nguyện). Đây chính là chỗ phi thường của Hàn Mặc Tử, khiến ông trở thành giáo chủ của
trường thơ Loạn Quy Nhơn và trở thành người “lạ nhất” của thời đại Thơ mới.
*
Đúng là không có Đau thương thì sẽ không có một Hàn Mặc Tử lạ kỳ như chúng ta
đang thấy. Không nên phủ nhận ảnh hưởng của bệnh tật và nỗi cay đắng vì phải xa lánh mọi
người của Hàn Mặc Tử. Trong thơ ông có nhiều chi tiết đầy “tính hiện thực” về nỗi đau này.
Thậm chí, ngay cả những câu thơ mộng ảo, nỗi đau trần thế vẫn hiện hữu: Trời hỡi, nhờ ai cho
khỏi đói - Gió trăng có sẵn làm sao ăn? (Lang thang). Những ánh sáng tri thức của nhân điện
học hiện đại cũng cho phép ta hiểu sâu hơn về sự bí ẩn trong nhịp sinh học của con người mà
Hàn Mặc Tử không là một ngoại lệ. Rất có thể, hoàn cảnh đặc biệt của ông đã làm biến đổi
nhịp sinh học và mở ra những khả năng dị biệt đến mức xuất thần mà người bình thường
không thể có
(4)
. Nhưng điều cốt yếu hơn là phía khác của đau thương: sự chuyển hóa thành
năng lượng sáng tạo. Đây mới là yếu tố quan trọng nhất tạo nên vẻ đẹp thơ Hàn Mặc Tử. Tựa
như Arthur Rimbaud trong Mùa địa ngục, Hàn Mặc Tử đã biến đau thương thành sức mạnh và
khoái cảm sáng tạo. Đó cũng là thứ hạnh phúc mà Baudelaire từng cảm thấy:
lại xuất nhiều máu huyết đến vậy:
Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
(Say trăng)