HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC INVIVO CÁC CHẾ PHẨM THUỐC - Pdf 19

HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG
SINH HỌC INVIVO CÁC CHẾ PHẨM THUỐC

Sinh khả dụng biểu thị tốc độ và mức độ hấp thu của dược chất từ chế phẩm thuốc vào
hệ tuần hoàn. Hai chế phẩm được coi là tương đương sinh học nếu sinh khả dụng khác
nhau không đáng kể khi dùng cùng mức liều trong cùng điều kiện thử nghiệm.
Mức độ hấp thu dược chất từ các chế phẩm dùng đường uống hoặc dùng tại chỗ có thể
bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến quá trình
hấp thu là kỹ thuật sản xuất, kích thước hạt, dạng tinh thể của dược chất, các tá dược
như: tá dược độn, dính, rã, trơn, bao, tá dược làm tăng độ tan, tá dược gây tác dụng kéo
dài Sinh khả dụng là một chỉ số quan trọng đảm bảo chất lượng thực của sản phẩm,
và tương đương sinh học là cơ sở chủ yếu để đảm bảo độ đồng nhất về chất lượng giữa
các chế phẩm khác nhau của cùng một dược chất. Hai khái niệm này có thể không hoàn
toàn giống nhau, nhưng về phương pháp thử nghiệm thì tương tự. Hướng dẫn này đưa
ra một số nguyên tắc cơ bản trong đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học để
thu được kết quả tin cậy. Chế phẩm thuốc có cần phải đánh giá sinh khả dụng và tương
đương sinh học hay không tuỳ thuộc vào quy định của Bộ Y tế. Những yêu cầu cơ bản của phương pháp phân tích mẫu sinh học
Các phương pháp sắc ký, như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sắc ký khí (GC) và
các kỹ thuật phối hợp, GC - MS, LC - MS, là những phương pháp tốt nhất được sử
dụng trong nghiên cứu sinh khả dụng và đánh giá tương đương sinh học. Những
phương pháp này có tính đặc hiệu cao; có khả năng tách và định lượng trên cùng một
hệ thống và cùng thời điểm. Nếu chọn được một detector có độ nhạy thích hợp phương
pháp sẽ đáp ứng được yêu cầu phân tích các loại mẫu sinh học. Trong một số trường
hợp, có thể sử dụng phương pháp phân tích sinh hóa và sinh học nếu cần.
Do quá trình phân tích mẫu sinh học bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lượng mẫu ít,
nồng độ thấp, lẫn nhiều tạp chất là các chất nội sinh (các muối vô cơ, lipid, protein và
chất chuyển hoá) và sự khác nhau giữa các cá thể, nên phương pháp phân tích phải
được thiết lập và thẩm định để đảm bảo độ tin cậy.

thấp nhất của đường chuẩn có thể xác định được với độ đúng và độ chính xác
cho phép. Giới hạn định lượng ít nhất phải thoả mãn khả năng phân tích nồng độ
của mẫu thử lấy ở thời điểm bằng 3-5 lần thời gian bán thải hoặc bằng 1/10 đến
1/20 giá trị Cmax của chất phân tích.
5. Độ ổn định của mẫu thử: Độ ổn định của mẫu sinh học có chứa chất cần phân
tích cần được khảo sát khi bảo quản ở nhiệt độ phòng, đông lạnh trong khoảng
thời gian khác nhau để xác định điều kiện bảo quản và thời gian bảo quản mẫu
sau khi lấy.
6. Hiệu suất chiết: Khả năng tìm lại sau khi chiết được đánh giá với ít nhất 3 nồng
độ: cao nhất, trung bình và thấp nhất của đường chuẩn. Chỉ tiêu giới hạn có thể
tham khảo những tài liệu liên quan.
7. Mẫu chuẩn đối chiếu (QC): Mẫu chuẩn đối chiêú được dùng để so sánh khi định
lượng là những mẫu tự tạo biết trước nồng độ, chuẩn bị bằng cách pha chất
chuẩn của chất cần phân tích trong mẫu sinh học trắng.
8. Phân tích mẫu thử: Định lượng các mẫu thử bằng phương pháp phân tích đã
được thẩm định. Mỗi mẫu thử có thể phân tích 1 lần hoặc lặp lại nếu cần. Với
mỗi lô mẫu phân tích sinh học (các mẫu phân tích cùng một thời gian trong một
buổi hoặc ngày), nên thiết lập một đường chuẩn mới để phân tích và dùng các
mẫu QC với 3 nồng độ (thấp, trung bình và cao) để định lượng đồng thời trong
mỗi lô phân tích. Nói chung, độ lệch giữa các kết quả của mẫu chuẩn đối chiếu
không được quá 20%.
Qui định chung:
1. Lựa chọn người tình nguyện:
Tiêu chuẩn: trong nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học, đa số trường
hợp thường chọn người tình nguyện là nam giới khoẻ mạnh. Một số trường hợp cần
thiết có thể dùng đối tượng là phụ nữ, khi đó cần giải thích rõ. Với thuốc dùng cho
trẻ em, vẫn nên chọn người lớn để thử nghiệm. Các tiêu chuẩn cụ thể như sau:
a, Giới tính: Nam hoặc nữ
b, Tuổi: thông thường từ 18 – 40 tuổi. Trong cùng một nhóm nghiên cứu, giữa
các cá thể khác nhau không quá 10 tuổi.

3. Chế phẩm thử: chế phẩm thử phải đạt các yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn và
yêu cầu trong thực hành lâm sàng. Phải có đủ các dữ liệu in vitro về độ hoà tan, độ ổn
định, hàm lượng hoặc hoạt lực. Đối với chế phẩm đặc biệt, cần phải có thêm những tài
liệu về cấu trúc tinh thể và đồng phân quang học.
4. Thiết kế nghiên cứu: Khi so sánh 2 chế phẩm, tức là thuốc thử và thuốc đối chứng,
người ta thường áp dụng thiết kế chéo, 2 thuốc, 2 giai đoạn. Để hạn chế ảnh hưởng của
sự khác biệt giữa các cá thể và giai đoạn thử nghiệm, các đối tượng nghiên cứu được
chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Một nhóm sẽ được sử dụng thuốc thử trước và thuốc
chứng sau; ngược lại, nhóm kia sử dụng thuốc chứng trước và thuốc thử sau. Giữa 2
giai đoạn thử, cần có một khoảng thời gian để đảm bảo cho thuốc của lần thử trước loại
hết ra khỏi cơ thể, thường từ 1 đến 2 tuần. Để so sánh 3 chế phẩm: 2 thuốc thử và một
thuốc chứng, người ta thường sử dụng nghiên cứu chéo, 3 thuốc, 3 giai đoạn. Tương tự,
thời gian rửa giải cần để loại trừ thuốc ra khỏi cơ thể giữa các giai đoạn thường từ 1
đến 2 tuần.
Thời điểm lấy mẫu: Thiết kế thời điểm lấy mẫu rất quan trọng để thu được kết quả
nghiên cứu tin cậy. Cần phải lấy một điểm trước khi uống thuốc (mẫu trắng, thời điểm
0). Một đường cong nồng độ thuốc trong máu hoàn thiện phải bao gồm cả các pha hấp
thu, phân bố và thải trừ. Thông thường, ít nhất nên có 4 thời điểm lấy mẫu trước khi
đạt tới đỉnh của đường cong nồng độ – thời gian, 6 hoặc nhiều hơn điểm lấy mẫu sau
đỉnh, 3 giá trị xung quanh đỉnh của đường cong, tổng số điểm lấy mẫu nên nhiều hơn
11. Thời gian lấy mẫu nên kéo dài tới khoảng 3 – 5 lần thời gian bán thải của dược chất
hoặc khi nồng độ trong máu ở trong khoảng 1/10 – 1/20 giá trị Cmax. Mẫu máu (huyết
tương, huyết thanh hay máu toàn phần) phải bảo quản đông lạnh ngay sau khi lấy để
chờ phân tích.
Khi không thể xác định được nồng độ thuốc trong huyết tương, có thể thực hiện trên
một mẫu sinh học khác như nước tiểu, nhưng chất xác định được và phương pháp phân
tích phải phù hợp với những yêu cầu về đánh giá sinh khả dụng.
5. Xác định liều thử : Trong nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học, liều
thử thường giống với liều dùng trong lâm sàng. Tốt nhất là liều thử của thuốc thử giống
với liều thử của thuốc chứng. Trong trường hợp phải sử dụng liều khác nhau, phải nêu

AUC
0-∞
= AUC
0-tn
+ C
tn
/ z, trong đó C
tn
là nồng độ của thuốc tại thời điểm lấy mẫu
cuối cùng, và z là hằng số tốc độ thải trừ. T
1/2
có thể được tính bằng công thức:
T
1/2
= 0,693/ z, trong đó z được tính từ độ dốc của đoạn tuyến tính trên đường biểu
diễn logarit nồng độ - thời gian.
AUC
o-tn
từ thời điểm 0 đến thời điểm cuối cùng phải thoả mãn:
(AUC
o-tn
/AUCo-∞) x 100% > 80%.
8. Tính toán sinh khả dụng
(1) Dùng đơn liều: Sinh khả dụng F được tính toán lần lượt bằng cách sử dụng AUC
0-tn
và AUC
0-∞
của mỗi cá thể, đồng thời tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Khi liều
của thuốc thử (T) giống với liều của thuốc đối chứng (R).
F= (AUC

x D
T
] x 100%
F= [(AUC
0-∞
)
T
x D
R
/(AUC
0-∞
)
R
x D
T
] x 100%
Trong đó, D
R
và D
T
là liều uống của thuốc chứng và thuốc thử, tương ứng.
Phân tích các chất chuyển hoá: Một vài thuốc là dạng tiền chất của thuốc không thể
định lượng được trong máu vì dạng tiền chất của thuốc chuyển hoá rất nhanh trong cơ
thể. Sinh khả dụng của những loại thuốc này có thể được đánh giá qua đáp ứng thích
hợp của chất chuyển hoá có hoạt tính.
F = [(AUC
0-tn
)
m
T

được dùng như một đối
chứng.
(2) Dùng đa liều: Nếu trạng thái ổn định đạt được sau khi uống nhiều liều, sinh khả
dụng có thể được ước tính bằng trung bình nồng độ thuốc trong huyết tương ở trạng
thái ổn định.
a. Mức độ hấp thu của thuốc tương tự nhau, nhưng có thể khác về tốc độ hấp thu.
b. Sinh khả dụng giữa các cá thể khác nhau nhiều.
c. Thuốc giải phóng có kiểm soát, tác dụng kéo dài
d. Sau khi uống liều đơn, nồng độ của thuốc dưới dạng tiền chất của thuốc hoặc
chất chuyển hoá thấp, không thể xác định được bởi phương pháp phân tích thích hợp.
Sau khi uống đa liều với cách khoảng thời gian t bằng nhau có thể đạt tới trạng thái ổn
định, lấy mẫu máu nhiều lần trong quá trình uống thuốc. Phân tích xác định nồng độ
thuốc và tính giá trị AUC
ss
0-t
. Khi liều của thuốc thử giống thuốc đối chứng, sinh khả
dụng tương đối có thể được tính toán theo biểu thức:
F = (AUC
ss
t
/ AUC
ss
R
) x 100%
Trong đó, AUC
ss
t
và AUC
ss
R

b. Tính các thông số Cmax, Tmax, AUCo-tn, AUCo-∞, F, các giá trị trung bình và
độ lệch chuẩn. Ngoài ra, nên trình bày thêm một số thông số khác như thời gian
lưu trú trung bình (MRT).
(5) Đánh giá tương đương sinh học: Khi so sánh thuốc thử và thuốc đối chứng đều
là chế phẩm giải phóng có kiểm soát hoặc tác dụng kéo dài, 2 thuốc được coi là
tương đương sinh học với nhau nếu giá trị AUC và Cmax đáp ứng yêu cầu về
tương đương sinh học, và giá trị Tmax khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Khi so sánh thuốc thử là chế phẩm giải phóng có kiểm soát hoặc kéo dài với
thuốc chứng là chế phẩm qui ước, mức độ hấp thu của 2 thuốc là tương đương
sinh học nếu giá trị AUC đáp ứng được những yêu cầu của tương đương sinh
học (80% -125%) và thuốc thử có khả năng giải phóng có kiểm soát hoặc kéo
dài, nếu như giá trị Cmax giảm và Tmax kéo dài hơn thuốc qui ước.
2. Nghiên cứu đa liều, thử chéo 2 giai đoạn: Mục tiêu của nghiên cứu là tìm tốc độ
và mức độ hấp thu, khoảng dao động của nồng độ thuốc trong máu ở trạng tháí
ổn định sau khi uống nhiều lần.
(1) Người tình nguyện và tiêu chuẩn lựa chọn.
Việc lựa chọn người tình nguyện cũng giống như trong nghiên cứu đơn liều, những
người đã tham gia nghiên cứu đơn liều cũng có thể tiếp tục được sử dụng trong
nghiên cứu đa liều. Số lượng người tình nguyện cần thiết khoảng từ 12-24. Lựa
chọn thuốc đối chứng cũng tương tự như trong nghiên cứu đơn liều.
(2) Thiết kế và các bước nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu chéo, ngẫu nhiên và đa liều với cả thuốc thử và thuốc đối
chứng. Đối với thuốc thử, thực hiện nghiên cứu với liều và cách dùng như đã dự
định. Các chế phẩm uống ngày 1 lần, nên uống vào buổi sáng sau khi đã nhịn đói ít
nhất 10h, sau đó không ăn gì trong vòng 2 - 4h sau khi uống thuốc. Với các chế
phẩm dùng 2 lần trong ngày, liều đầu tiên được cho uống vào buổi sáng sau khi đã
nhịn đói ít nhất 10h, sau đó không ăn gì trong vòng 2-4h; liều thứ 2 được uống
trước hoặc sau bữa ăn 2 giờ và tiếp tục nhịn trong vòng 2 giờ sau khi uống thuốc.
Mỗi liều được uống với 250ml nước ấm. Nói chung, người tình nguyện có thể uống
nước sau khi uống thuốc 1-2h. Khi thuốc đối chứng là chế phẩm qui ước, nên thử

DF = 100% x (Cmax - Cmin)/ Cav
Trong đó, Cmax là nồng độ đỉnh, thu được từ các số liệu thực, sau khi dùng liều
cuối cùng ở trạng thái ổn định và Cmin là nồng độ cực tiểu ở thời điểm cuối trong
khoảng thời gian dùng liều cuối cùng ở trạng thái cân bằng.
d. Phân tích thống kê và đánh giá tương đương sinh học: Phương pháp phân tích
thống kê và đánh giá tương đương sinh học tương tự như đã trình bày trong nghiên cứu
đơn liều của thuốc tác dụng kéo dài, thuốc giải phóng có kiểm soát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status