BỘ Y TẾ
=====O=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ
SINH KHẢ DỤNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC
TRÊN CHẾ PHẨM SẢN XUẤT TRONG NƯỚC, GÓP
PHẦN HOÀN THIỆN HƯỚNG DẪN THỬ BA/BE
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Trịnh Văn Lẩu
Đồng chủ nhiệm: TS. Phùng Thị Vinh
Cơ quan chủ trì: Viện Kiểm nghiệm thuốc TW, Bộ Y tế 7096
16/02/2009
HÀ NỘI - 2008
HÀ NỘI - 2008
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
1. Tên đề tài:
Nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh
học chế phẩm sản
xuất trong nước, góp phần hoàn thiện bản hướng dẫn thử
BA/BE2. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Trịnh Văn Lẩu; TS. Phùng Thị Vinh
3. Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Kiểm nghiệm thuốc TW, Bộ Y tế
Địa chỉ: 48 - Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (84 – 4) 9 363 114 Fax: (84 – 4) 8 356 911
4. Cơ quan quản lý: Bộ Y tế
5. Thư ký đề tài: Ths. Tạ Mạnh Hùng
6. Danh sách những người thực hiện chính
Ths. Tạ Mạnh Hùng
4 Các ý kiến đề xuất 5
PHẦN B: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI CẤP BỘ
6
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 6
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 6
1.2 Giả thiết nghiên cứu của đề tài 6
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 7
2 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 8
2.1 Tình hình nghiên cứu và ban hành các hướng dẫn về sinh
khả dụng và tương đương sinh học
8
2.1.1 Ngoài nước 8
2.1.2 Trong nước 9
2.2 Tổng quan về một số chế phẩm dùng trong nghiên cứu thực 10
nghiệm
2.2.1 Chế phẩm phóng thích ngay (thuốc qui ước) 10
2.2.2 Chế phẩm phóng thích chậm 12
2.3 Phương pháp đánh giá tương đương sinh học 14
2.4 Điều kiện hoạt động và cơ sở vật chất 17
3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Nghiên cứu thực nghiệm 18
3.1.1 Hóa chất, thiết bị 18
3.1.2 Thuốc nghiên cứu 18
3.1.3 Thiết kế nghiên cứu 20
3.1.4 Đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu 20
3.1.5 Người tình nguyện 20
3.1.6 Phương pháp cho uống thuốc và lấy mẫu 21
3.1.7 Phương pháp phân tích 22
3.1.8 Phân tích mẫu huyết tương NTN sau khi uống thuốc 23
4.3.3 Xây dựng bản thảo lần 2 43
4.3.4 Hội thảo 43
4.3.5 Hoàn thiện bản thảo 43
4.4 Xây dựng qui trình thử 44
5 BÀN LUẬN 45
5.1 Nghiên cứu thực nghiệm 45
5.1.1 Điều kiện nghiên cứu chung 45
5.1.2 Nghiên cứu thuốc phóng thích chậm 46
5.1.3 Nghiên cứu thuốc phóng thích ngay (thuốc qui ước) 47
5.2 Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn 47
6 KẾT LUẬN 49
6.1 Nghiên cứu thực nghiệm 49
6.2 Nghiên cứu xây dựng dự thảo Hướng dẫn 49
6.3 Xây dựng quy trình 49
7 TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
8 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG KẾT QUẢ
Bảng 1.1. Tóm tắt nghiên cứu thự nghiệm đánh giá TĐSH.
Bảng 4.1. Tóm tắt kết quả thẩm định phương pháp xác định Nifedipin trong huyết
tương
Bảng 4.2. Thời gian và bố trí cho NTN uống thuốc Nifedipin
Bảng 4.3. Nồng độ thuốc nghiên cứu trung bình –thời gian sau khi uống Nifedipin
Bảng 4.4. Thông số dược động học trung bình sau khi uống Nifedipin
Bảng 4.5. Tóm tắt kết quả thẩm định phương pháp xác định Rosiglitazon trong
huyết tương
Bảng 4.6. Th
ời gian và bố trí cho NTN uống thuốc Rosiglitazon
Bảng 4.7. Nồng độ thuốc nghiên cứu trung bình –thời gian sau khi uống
GCP Thực hành lâm sàng tốt
GLP Thực hành phòng thí nghiệm tốt
MeCN Acetonitril
MeOH Methanol
NTN Người tình nguyện
SD Độ lệch chuẩn
SKD Sinh khả dụng
T
1/2
Thời gian bán thải
TB Trung bình
TĐSH Tương đương sinh học
Tmax Thời gian đạt nồng độ thuốc tối đa
TW Trung ương
US - FDA Cơ quan Quản lý thuốc - thực phẩm Mỹ
USP Dược điển Mỹ
VKNTTW Viện Kiểm nghiệm thuốc trung ương
WHO Tổ chức y tế thế giới
1PHẦN A: TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI
1.Kết quả nổi bật của đề tài
a. Đóng góp mới của đề tài
- Lần đầu tiên triển khai thực nghiệm đánh giá tương đương sinh học một
cách hệ thống, tuân thủ các yêu cầu về thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng (GCP)
+ Nghiên cứu, phân tích hướng dẫn của các nước và tổ chức trên thế gi
ới.
+ Dự thảo Hướng dẫn nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học:
Đã dự thảo Bản Hướng dẫn và các phụ lục kèm theo, lấy ý kiến đóng góp của các
chuyên gia và tổ chức hội thảo để thảo luận về nội dung bản Hướng dẫn nói riêng
và về vấn đề nghiên cứu lĩnh vực này nói chung. 2
Kết quả thực nghiệm được tóm tắt trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Tóm tắt nghiên cứu thực nghiệm đánh giá TĐSH
Nội dung Nifedipin Hasan so với
Nifehexal 20mg (n = 14)
Dorosi so với Avandia
(n= 24)
Thử Chứng Thử Chứng
Cmax (ng/ml) 65 ± 17 65 ± 9
399 ± 18 403 ± 17
AUC
0-∞
(ng.giờ/ml)
363 ± 127 342 ± 91
1772 ± 17 1796 ± 19
Tmax (giờ) 2,3 ± 0,7 2,5 ± 0,5
0,62 ± 0,25 0,67 ± 0,28
Khoảng tin cậy
ện (3/2007).
- Thực hiện chương trình hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới, hai cán bộ
tham gia đào tạo ở nước ngoài (Malaysia), với sự hỗ trợ kinh phí bởi WHO. Ngoài
ra, Viện đã tổ chức và tham gia 03 lớp tập huấn kỹ thuật về TĐSH cho các cán bộ
thuộc hệ thống Kiểm nghiệm và một số doanh nghiệp.
+ Một lớp do chuyên gia của WHO hướng dẫn cùng với các cán bộ c
ủa
Viện Kiểm nghiệm thuốc TW và đại diện của Viện Kiểm nghiệm thuốc Thành
phố Hồ Chí Minh: tháng 12/ 2006. 3
+ Hai lớp do Viện KN thuốc Trung ương phối hợp với VKNT Thành phố
Hồ Chí Minh tổ chức tháng 11/ 2007.
- Kết hợp với cơ sở đào tạo (Đại học Dược Hà Nội) để đào tạo cán bộ đại
học. Đã có 01 dược sĩ tốt nghiệp với luận văn thuộc nội dung của đề tài này.
01 học viên thạc sĩ và 01 nghiên cứu sinh đang thực hiện các nghiên cứu có
nội dung liên quan tới đề tài.
d, Hiệu quả về kinh tế
Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá TĐSH cho chế phẩm Nifedipin đã cung
cấp kết quả cho nhà sản xuất, sử dụng trong xin cấp phép lưu hành sản phẩm,
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, nghiên cứu đã cung cấp thêm các thông
tin về phương pháp phân tích, kinh nghiệm thiết kế nghiên cứu cho các nhà khoa
học khi thực hiện nghiên cứu đánh giá tương đương sinh họ
c các chế phẩm có
chứa Nifedipin và Rosiglitazon. Nhờ đó, có thể hạn chế được một số nghiên cứu
về phân tích cũng như các nghiên cứu thăm dò không cần thiết.
e, Hiệu quả về xã hội
Kết quả đánh giá TĐSH cho các chế phẩm đã nghiên cứu giúp cho người
Cục Quản lý Dược đã bắt đầu xây dựng những yêu cầu đầu tiên và danh
mục thuốc bắt buộc phải cung cấp dữ liệu về TĐSH khi xin cấp phép lưu hành.
4
2. Áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội
Bản thảo hướng dẫn được cơ quan quản lý là Cục Quản lý Dược xem xét
để ban hành hướng dẫn chính thức cho Việt Nam. Bên cạnh đó, các cơ sở nghiên
cứu và doanh nghiệp rất hưởng ứng nếu có một hướng dẫn và các qui định rõ ràng
cho việc áp dụng nghiên cứu này. Tuy mới ở hình thức bản thảo, nhưng đã được
cán bộ khoa học cũng như quản lý tham khảo để có thêm kiến thức, thông tin về
lĩnh vực này.
Các kỹ thuật và phương pháp phân tích cũng như thiết kế nghiên cứu đã được ứng
dụng tại Trung tâm đánh giá TĐSH của Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương.
Đã đăng hai bài trên tạp chí kiểm nghiệm để lấy ý kiến đóng góp cho bản thảo
hướng dẫn
3. Đánh giá thự
c hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã phê duyệt
a, Tiến độ
- Đúng tiến độ X
- Rút ngắn thời gian nghiên cứu 0
- Tổng số thời gian rút ngắn 0
- Kéo dài thời gian nghiên cứu 0
b, Thực hiện mục tiêu nghiên cứu
- Thực hiện đầy đủ các mục tiêu đề ra X
- Thực hiện được các mục tiêu nhưng không hoàn chỉnh 0
- Chỉ thực hiện được một số mục tiêu đề ra 0
được thuận lợi và có hiệu quả hơn.
6
PHẦN B: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học đã được đề cập
và bắt đầu thực hiện một vài năm gần đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu còn mang
tính chất tự phát, từ nhu cầu tiếp cận khoa học, kỹ thuật phân tích, đến nh
ững
mong muốn hòa hợp khu vực và toàn cầu. Hầu hết các quốc gia đều ban hành qui
chế rõ ràng trong cấp phép lưu hành cũng như các hướng dẫn cụ thể cho việc thực
hiện nghiên cứu. Những nghiên cứu vừa qua thường áp dụng một số hướng dẫn
của nước ngoài và bản dự thảo của khu vực. Nhưng tình hình kinh tế, xã hội của
Việt Nam so với các nước phát triển hiện vẫn còn chênh l
ệch nhiều. Hơn nữa, về
trình độ kỹ thuật và trang thiết bị, khả năng đầu tư cho lĩnh vực này ở nước ta còn
rất hạn chế, nên việc áp dụng những qui chế, hướng dẫn của các nước tiên tiến
trong điều kiện hiện tại đã gặp nhiều điều bất cập. Chính vì vậy, việc xây dựng và
ban hành một Hướng dẫn riêng cho nướ
c ta là rất cần thiết.
Để có thể xây dựng một bản Hướng dẫn dựa trên kinh nghiệm thực tế trong
nghiên cứu cũng như đánh giá trong điều kiện của Việt Nam, Hội đồng khoa học
Bộ Y tế đã đề xuất chủ đề nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học một
số chế phẩm trong nước, tiến tới hoàn thiện hướng dẫ
n thử BA/BE vào chương
trình nghiên cứu của đề tài cấp bộ năm 2005. Đề cương nghiên cứu của đề tài này
đã được Hội đồng cấp Bộ xem xét và phê duyệt qua một qui trình tuyển chọn, so
kế nghiên cứu trên đối tượng người tình nguyện khỏe mạnh sau khi uống liều đơn,
thiết kế chéo, 2 thuốc, 2 giai đoạn. Đánh giá bằng xác định nồng độ thuốc trong
huyết tương. Xác định nồng độ thuốc trong huyết tương NTN sau khi uống thuốc
và tính các thông số dược động học của từng thuốc. Tính thống kê và đánh giá
mức độ tương đươ
ng theo phương pháp khoảng tin cậy 90%.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tính khả thi của bản dự thảo ASEAN về Hướng dẫn nghiên cứu
sinh khả dụng và tương đương sinh học của thuốc.
- Hoàn chỉnh bản hướng dẫn nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh
học của thuốc phù hợp với điều kiện Việt Nam và hòa hợp với các nước.
Những mục tiêu này được xác đị
nh trong đề cương phê duyệt, và nội dung nghiên
cứu đã thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu trên. 8
2. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
2.1. Tình hình nghiên cứu và ban hành các hướng dẫn về sinh khả dụng và
tương đương sinh học
2.1.1 Ngoài nước
Tương đương sinh học được sử dụng để chỉ các sản phẩm cùng dạng bào
chế, chứa một lượng dược chất như nhau mà có sinh khả dụng tương tự trong
cùng điều kiện thử nghiệm. Trên thế giới, đánh giá SKD và TĐSH đã được thực
hiệ
n từ nhiều thập kỷ trước ở các nước có nền công nghiệp dược phát triển như
cho việc thử nghiệm BA/BE (bằng tiếng địa phương).
Trong khu vực, các nước như Malaysia, Indonexia cũng đã ban hành các
hướng dẫn, chủ yếu để thống nhất những thử nghiệm trong quốc gia đáp ứng tiêu
chuẩn cho sản phẩm nội địa [32]. Với các sản phẩm dành cho xuất khẩu hoặc các
thử
nghiệm đa quốc gia, thường có sự kết hợp hướng dẫn của nước sở tại và nước
nhập khẩu.
Bên cạnh hình thức ban hành Hướng dẫn chung của cơ quan quản lý. một số
nước đã ban hành hướng dẫn mang tính kỹ thuật trong dược điển như dược điển
9
Mỹ (USP) và dược điển Trung Quốc. Dược điển Mỹ, bên cạnh những qui định
chung cho nghiên cứu tương đương sinh học, còn giới thiệu protocol cho thực
hiện đánh giá một số loại thuốc cụ thể [40].
Những vấn đề thường được các hướng dẫn đề cập đến như: khái niệm chung về
tương đương sinh học và các thuật ngữ liên quan; yêu cầu về TĐSH khi c
ấp phép
lưu hành các thuốc mới cũng như các thuốc generic; một số hương dẫn về kỹ thuật
như thiết kế nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển chọn người tình nguyện, nguyên tắc
chọn thuốc đối chứng cũng như các qui định về phương pháp phân tích. Hướng
dẫn của WHO còn đề cập đến những yêu cầu tối thiểu về cơ sở vậ
t chất và hoạt
động của cơ sở thực hiện các nghiên cứu này.
2.1.2. Trong nước
Cho tới nay, Việt Nam chưa ban hành một văn bản nào hướng dẫn thực
hiện các thử nghiệm đánh giá SKD và TĐSH.
Lần đầu tiên, Bộ Y tế ban hành “Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội
đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học” (số 5129/ 2002 QĐ-BYT, năm 2002)
đã tạo điều ki
ện thuận lợi cho các thử nghiệm lâm sàng nói chung và các nghiên
Trước nhu cầu của ngành, ngày 12/ 4/ 2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã có công
văn gửi Viện kiểm nghiệm (nay là VKN thuốc TW) và Phân viện kiểm nghiệm
10
(nay là Viện Kiểm nghiệm thuốc TP Hồ Chí Minh) chuẩn bị lập đề án xây dựng
Trung tâm nghiên cứu SKD và TĐSH của thuốc. Trong giai đoạn chuẩn bị đề án,
hai cơ quan đầu ngành về kiểm nghiệm thuốc là những đơn vị đầu tiên triển khai
thực hiện các nghiên cứu đánh giá TĐSH một cách chính quy theo yêu cầu của
nhà nước, Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương (từ 2005) và Viện Kiểm nghiệm
thuốc TP Hồ Chí Minh(2006). Cũng từ đó, đến nay đã có 2 trung tâm trực thuộc
2 Viện này được thành lập và có chức năng thực hiện nghiên cứu về lĩnh vực này.
Một số nghiên cứu đã được thực hiện, có thể theo yêu cầu của cơ quan quản lý
(Cục quản lý Dược) như sản phẩm của Phú Yên, của Công ty TNHH dược phẩm
Vellpharm; hoặc một số nghiên cứu xuất phát từ nhu c
ầu của chính các doanh
nghiệp nhằm tự đánh giá chất lượng thuốc của mình. Dự án nâng cấp và hoàn
thiện Trung tâm đánh giá TĐSH của Viện Kiểm nghiệm thuốc TW đang được
xem xét.
Những nghiên cứu của 2 trung tâm này mang tính chất thực tiễn để đánh
giá chất lượng thuốc sản xuất trong nước nên phải tuân thủ theo các qui định về
đảm bảo chất lượng nghiên cứu. Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu c
ủa các cơ sở
này còn hạn chế, một phần do nhận thức ban đầu chưa đầy đủ, phần khác do thiếu
cơ sở vật chất, thiết bị và phương pháp nghiên cứu. Chính vì vậy, những nghiên
cứu đã thực hiện trong thời gian qua của các trung tâm này cũng mới đáp ứng
được yêu cầu cho sản phẩm lưu hành trong nước, và để có thể được chấp nhận ở
nước ngoài sẽ
còn phải hoàn chỉnh thêm.
Để có thể thống nhất cơ bản về mặt kỹ thuật, Hội đồng Dược điển dự kiến
sẽ đưa chuyên luận chung “Hướng dẫn nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương
đạt xấp xỉ 99%. Nồng độ đỉnh huyết tương đạt được khoảng 150ng/ml sau khoảng
1h. Thức ăn không ả
nh hưởng nhiều đến AUC, nhưng làm giảm đáng kể tốc độ
hấp thu (Cmax giảm khoảng 28%) và làm chậm hấp thu (Tmax từ 1,0h kéo dài
đến 1,75h). Thuốc liên kết với protein rất cao, khoảng 99%, chủ yếu là albumin.
Thuốc thải trừ dưới dạng không biến đổi qua đường nước tiểu (64%) và phân
(23%). Thời gian bán thải 3-4 giờ và không phụ thuộc vào liều dùng. Với liều 4
mg và 8 mg, uống xa bữa ăn, nồng độ đỉnh trong huy
ết tương trung bình đạt được
khoảng từ 560 và 650 ng/mL. Nồng độ tối đa trong huyết tương và diện tích dưới
đường cong của Rosiglitazon tăng tỷ lệ với liều dùng cao hơn liều điều trị.
Chỉ định: Rosiglitazon được dùng trong điều trị bệnh đái tháo đường khi bệnh
nhân không có đáp ứng với metformin. Dùng riêng hoặc phối hợp với metformin.
Chống chỉ định: Mẫn cả
m với thuốc, thận trọng với người có men gan tăng (cao
gấp khoảng 2 lần bình thường).
Phản ứng bất lợi: một số phản ứng thường gặp có thể xảy ra khi điều trị với
rosiglitazon như đau đầu, đau lưng, tăng đường huyết, mệt mỏi, viêm mũi, viêm
đường hô hấp trên.
Liều dùng và cách dùng: Liều thường dùng cho người lớn là 4mg/lần/ ngày. Liều
tố
i đa là 8mg/ lần/ ngày. Thuốc có thể uống lúc đói hoặc no.
Trên thế giới, Avandia là một biệt dược khá nổi tiếng của công ty
GlaxoSmithKline, thuốc sáng chế của dược chất rosiglitazon. Ngoài ra, một số
chế phẩm phối hợp với metformin cũng đang được dùng khá phổ biến (viên
Avandamet với 3 hàm lượng phối hợp (metformin + rosiglitazon), tỷ lệ : 500mg
+1mg; 500mg + 2mg; 500mg + 4mg.
Nghiên cứu sinh khả dụng viên Avandamet (500mg/ 4mg), nồng độ đỉnh huyết
tương
đạt được khoảng 1,1 – 1,35 mcg/ ml (metformin) và 242 – 254ng/ml
O
∗
S
NH
O
O
CH
3
HC
HC
COOH
COOH
Hệ số phân bố dầu/nước của Rosiglitazon là logP = 2,1, do đó có khả năng
dùng phương pháp chiết lỏng – lỏng bằng dung môi hữu cơ để chiết tách ra khỏi
dịch sinh học. Giá trị pKa của Rosiglitazon maleate là 6,8 và 6,1.
Rosiglitazon có khả năng phát huỳnh quang tự nhiên (E
m
= 367nm) khi bị kích
thích dưới bức xạ E
x
= 247 nm, vì vậy có thể định lượng bằng phương pháp HPLC
với detector huỳnh quang.
Một số tài liệu giới thiệu có thể tách rosiglitazon ra khỏi dịnh sinh học bằng
phương pháp chiết pha rắn tạo cặp ion, sau đó được xác định bằng phương pháp
HPLC và/ hoặc LC/MS
Vài năm trước đây, Rosiglitazon vẫn được dùng khá phổ biến trong điều trị và đã
được một số công ty dược trong nước nghiên cứu sản xuấ
t. Tuy nhiên, từ đầu năm
2007, một vài phản ứng bất lợi gặp phải khi dùng thuốc đã thấy thông báo như
tác dụng hơn với tế bào cơ tim. Do vậy, ở liều điều trị thuốc không ảnh hưởng
trực tiếp trên co bóp và dẫn truy
ền xung động tim. Trên huyết áp, thuốc làm giảm
sức căng ở cơ trơn các tiểu động mạch do đó làm giảm sức cản ngoại vi nên giảm
huyết áp [3].
Thuốc được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn qua đường tiêu hoá, nhưng
do chuyển hoá bước 1 mạnh nên SKD sau khi uống chỉ đạt 45 – 75%. Với dạng
viên nén, sau khi uống thuốc khoảng 1 giờ thì phát huy tác dụng và sau 2 – 3 giờ
đạt nồng độ tối đa trong máu; t1/2 huyết tương kho
ảng 6 – 11 giờ. Thức ăn làm
chậm nhưng không giảm mức độ hấp thu. Thuốc liên kết với protein cao, khoảng
92 – 98%. Một số tác dụng phụ có thể xảy ra ở giai đoạn đầu dùng thuốc. Trước
đây, thuốc hay được dùng dưới dạng viên nang phóng thích tức thì, để điều trị cao
huyết áp, nhưng gần đây ít được dùng do có thể gây tai biến do thuốc phóng thích
quá nhanh. Chính vì vậy, dạng viên nén phóng thích chậm ít gây tác dụng phụ
hơn
do thuốc được phóng thích từ từ ra khỏi dạng bào chế. Nếu thuốc hấp thu quá
nhanh, mạnh có thể gây hạ huyết áp quá mức, gây tim đập nhanh nên có thể gây
thiếu máu cục bộ cơ tim hoặc não. Một số phản ứng có thể thấy như: đánh trống
ngực, tim đập nhanh, buồn nôn, ỉa chảy hoặc táo bón; đau đầu, mệt mỏi, chóng
mặt, nóng đỏ bừng mặt; ít gặp hơ
n là hạ huyết áp, tăng nặng cơn đau thắt ngực,
nổi ban, mày đay.
Hiện nay, trên thị trường đang lưu hành khoảng 30 chế phẩm nhập ngoại có
chứa nifedipin, bao gồm cả dạng phóng thích nhanh (viên nang) và một số dạng
phóng thích chậm (viên nang). Viên nén Nifedipin Hasan là một chế phẩm phóng
thích chậm do Công ty TNHH Hasan nghiên cứu sản xuất, để xét cấp phép lưu
hành, Cục Quản lý Dược Việt Nam đã yêu cầu công ty cung cấp các dữ li
ệu về
tương đương sinh học của chế phẩm này.
trường acid hóa, vì vậy có thể định lượng Nifedipin bằng HPLC kết nối với
detector UV hoặc DAD.
Một số tài liệu giới thiệu có thể tách nifedipin ra kh
ỏi dịnh sinh học bằng
phương pháp chiết lỏng lỏng với dung môi hữu cơ, sau đó được xác định bằng
phương pháp HPLC và/ hoặc LC/MS
2.3 Phương pháp đánh giá tương đương sinh học
Hiện nay, có thể đánh giá so sánh các chế phẩm theo 2 phương pháp:
- Đánh giá tương đương in vitro: Dùng phép thử độ hoà tan
- Đánh giá TĐSH in vivo: So sánh một số thông số dược động học hoặc hiệu
quả sinh học trên ngườ
i tình nguyện.
Những chế phẩm có chứa dược chất có độ tan cao, tính thấm tốt (thuộc nhóm I
trong hệ thống phân loại sinh dược sẽ được xem xét xem xét miễn thử TĐSH in
vivo dựa trên các dữ liệu tương đương in vitro bằng phép thử độ hoà tan. Khi đó,
sẽ giảm được một phần lớn kinh phí cho các việc nghiên cứu, đánh giá TĐSH.
Tuy nhiên, với các dược chất ít tan, tính thấm kém (thuộc các nhóm 4, 3, hoặc 2
trong BCS) và các thuốc có kho
ảng điều trị hẹp, việc xem xét miễn thử TĐSH in
vivo hạn chế hơn. Hơn nữa thông tin về độ tan và tính thấm (theo BCS) của các
dược chất còn chưa nhiều.
Đánh giá TĐSH in vivo: là thực hiện so sánh sự đáp ứng sinh học của thuốc cần
nghiên cứu với một thuốc đối chứng trên cơ thể người hoặc sinh vật sống. Có một
số
phương pháp đánh giá, nhưng thông dụng nhất là đánh giá so sánh các thông số
dược động học (Cmax, AUC, Tmax ), thông qua việc xác định nồng độ thuốc
trong máu theo thời gian của thuốc nghiên cứu với thuốc đối chứng. Ngoài ra, một
số phương pháp như so sánh dược lực hoặc hoặc lâm sàng cũng có thể được áp
dụng nếu phương pháp đánh giá đáp ứng yêu cầu.
khoẻ mạnh. Trừ một số trường hợp thuốc có độc tính cao như các thuốc chống
ung thư, thuốc chống HIV – Aids có thể phải thử trên bệnh nhân. Người tình
nguyện phải được kiểm tra sức khoẻ và đạt tiêu chuẩn các yêu cầu nghiên cứu đề
ra. Số lượng cá thể cho mỗi nghiên cứu tuỳ thuộc từng thiết kế. Mặc dù với các
phép đánh giá sinh học cần số lượng cá th
ể (giá trị n) lớn để thu được giá trị trung
bình có khả năng đại diện cao. Tuy nhiên, trong đánh giá TĐSH, hầu hết các tài
liệu đều khuyến cáo nên sử dụng số lượng cá thể nhỏ nhất nhưng vẫn đảm bảo yêu
cầu mức độ tin cậy tính thống kê của phép thử. Với các thuốc có sinh khả dụng
biến thiên cao, số lượng người tình nguyện cần nhiều hơn. Số lượ
ng có thể từ 12,
18, 24, 30, tuỳ từng loại thuốc và qui định của mỗi quốc gia. Hướng dẫn của
ASEAN khuyến cáo nên dùng số lượng NTN tối thiểu là 12.
- Thuốc đối chứng: thuốc được chọn làm đối chứng tốt nhất là chế phẩm phát
minh (thuốc đầu tiên được lưu hành trên thị trường), đã được nghiên cứu một cách
đầy đủ về hoá học cũng như đặc tính lâm sàng, đ
ã được cấp phép lưu hành hoặc
một thuốc tương tự có chất lượng cao đang lưu hành trên thị trường ở thời điểm
nghiên cứu. Để thống nhất trong việc so sánh các kết quả đánh giá, mỗi quốc gia
(Bộ Y tế hoặc hiệp hội các nhà sản xuất dược phẩm) cần qui định thuốc đối chứng
cho từng loại dược chất.
- Phương pháp phân tích
: Hầu hết các tài liệu tham khảo đều hướng dẫn áp dụng
một phương pháp phân tích đã được thẩm định trong các nghiên cứu phân tích xác
định nồng độ thuốc trong dịch sinh học như các nghiên cứu sinh khả dụng và
tương đương sinh học. Hướng dẫn của FDA [21] qui định thẩm định phương pháp
phân tích với 6 chỉ tiêu và mức chất lượng cần phải đạt. Trên thực tế, với các
nghiên cứu cho các sản ph
ẩm xuất khẩu vào Mỹ hoặc các nước Châu Âu, phương
pháp được thẩm định một cách đầy đủ. Nghiên cứu ở một số nước trong giai đoạn
Độ đúng (Accuracy):
Độ đúng của một phương pháp phân tích là giá trị phản ánh độ gần sát của kết
quả phân tích v
ới giá trị thực của mẫu đã biết.
Hầu hết các phép đo trong phân tích về bản chất đều mang tính tương đối, có
nghĩa là kết quả thu được đều dựa vào việc so sánh đáp ứng của mẫu thử so với
chất chuẩn tin cậy.
Độ chính xác (Precision):
Độ chính xác của một phương pháp phân tích là mức độ thống nhất giữa các
kết quả riêng biệt khi qui trình phân tích được áp dụng lặp
đi lặp lại nhiều lần trên
cùng một mẫu đồng nhất. Độ chính xác được biểu thị bằng được biểu thị bằng giá
trị CV (%).
Độ ổn định của chất phân tích (Stability of the samples):
Để đánh giá độ ổn định, người ta so sánh kết quả phân tích mẫu bảo quản với
các mẫu mới chuẩn bị. Kết quả so sánh được đánh giá theo thống kê dựa trên
độ
tin cậy áp dụng trong đánh giá sinh học.
Độ ổn định của chất phân tích trong dịch sinh học gồm
+ Độ ổn định sau 3 chu kỳ để đông – rã đông.
+ Độ ổn định thời gian ngắn ở nhiệt độ phòng đối với dung dịch mẫu thử sau
khi đã chiết tách.
+ Độ ổn định thời gian dài để đông lạnh của mẫu thử trong thời gian dự định.
17
Ngoài những chỉ tiêu trên, một số chỉ tiêu khác cũng cần phải nghiên cứu và xác
định trước khi phân tích mẫu như hiệu suất chiết (khả năng thu hồi chất phân
tích), đánh giá về tính thích hợp của thiết bị, khả năng lặp lại giữa các phòng thí
nghiệm khác nhau (repeatibility), nếu trường hợp thực hiện mẫu phân tích ở các
phòng thí nghiệm khác nhau, khác với phòng thí nghiệm đã thẩm định phương