I
IBộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học giao thông vận tải
Phạm Lê Tiến
Nghiên cứu đánh giá độ bền mỏi và tuổi
thọ mỏi của khung giá chuyển hớng và
trục bánh xe đầu máy D19E vận dụng trên
đờng sắt Việt Nam
Chuyên ngành: Khai thác bảo trì đầu máy xe lửa, toa xe
Mã số: 62.52.44.01
LUN N TIN S K THUT
NGI HNG DN KHOA HC:
1. GS. TS. Đỗ Đức Tuấn
2. PGS. TS. Ngô Văn Quyết
Hà Nội
-
2010
- III -
Lời cam đoan TôI xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung
thực và cha từng ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Viện Khoa học vật liệu; Phòng thí nghiệm vật liệu tính năng kỹ thuật cao-Viện Cơ
khí năng lượng và mỏ; Ban khoa học công nghệ, Ban đầu máy toa xe, Xí nghiệp
đầu máy Hà Nội-Tổng công ty đường sắt Việt Nam; Viện Cơ học Việt Nam; Học
Viện Kỹ thuật Quân sự.
Tác giả vô cùng cảm ơn GS.TS Đỗ Đức Tuấn, PGS.TS Ngô Văn Quyết,
những người Thầy đã định hướng, và gửi lời cảm ơn đến GS.TSKT Phạm Văn
Lang, ThS. Nguyễn Ngọc Viên, TS. Lương Xuân Bính, đã cung cấp các tài liệu
quý báu trong quá trình thực hiện Luận án. Cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Đầu
máy toa xe, Khoa cơ khí, Trường đại học giao thông vận tải.
Trong quá trình làm tác giả đã có trao đổi và gửi cảm ơn tới NCS. Trần Viết
Bản, ThS. Trần Văn Khanh, ThS. Nguyễn Trung Kiên và nhiều người bạn nữa đã
nhiệt tình cung cấp các tài liệu quý báu. Hà nội, tháng 7 năm 2011
Phạm Lê Tiến
- V -
MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
16
1.5 Tình hình về vấn đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước
18
1.5.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề ở ngoài nước
18
1.5.2. Tình hình nghiên cứu vấn đề ở trong nước
21
1.6. Mục tiêu, hướng, phương pháp và nội dung nghiên cứu của đề tài
26
1.7 Kết luận chương 1
28
Chương 2: Cơ sở lý thuyết đánh giá độ bền mỏi và dự báo tuổi thọ mỏi
khung giá chuyển hướng và trục bánh xe đầu máy 30
2.1. Sự lan truyền vết nứt mỏi
30
2.1.1 Cơ học phá huỷ đối với vết nứt mỏi
30
2.1.2 Đặc điểm của vùng đàn - dẻo ở đầu vết nứt
32
2.1.3 Tốc độ phát triển vết nứt mỏi
33
44
2.4.2. Tính độ bền mỏi theo các hệ số an toàn khi đặt tải không ổn định
46
2.5. Dự báo tuổi thọ mỏi
46
2.5.1. Khái niệm cơ bản về tuổi thọ mỏi
46
2.5.2. Các phương pháp ước lượng sức sống các bộ phận khi đặt tải không ổn định
47
2.6. Kết luận chương 2
48
Chương 3: Nghiên cứu thử nghiệm xác định các đặc trưng cơ học,
đặc trưng mỏi mẫu vật liệu khung giá chuyển hướng và
trục bánh xe đầu máy D19E 49
3.1. Phân tích thành phần kim loại, xác định mác
49
3.1.1. Phân tích vật liệu trục bánh xe đầu máy D19E
49
3.1.2. Phân tích vật liệu khung giá chuyển hướng đầu máy D19E
50
3.2. Xác định tiêu chuẩn thử nghiệm
3.4.2. Thiết bị thử nghiệm xác định giới hạn mỏi
58
3.4.3. Thiết bị thử nghiệm xác định tốc độ lan truyền vết nứt và độ dai phá huỷ
59
3.5. Thử nghiệm xác định các đặc trưng cơ học của mẫu thử nghiệm:
giới hạn chảy, giới hạn bền, môđun đàn hồi và hệ số biến dạng
61
3.6. Thử nghiệm xác định giới hạn mỏi
63
3.6.1. Thử nghiệm xác định giới hạn mỏi của vật liệu KGCH
63
3.6.2. Thử nghiệm xác định giới hạn mỏi của vật liệu TBX
66
3.7. Thử nghiệm xác định tốc độ lan truyền vết nứt và độ dai phá huỷ
69
3.7.1. Thử nghiệm xác định tốc độ lan truyền vết nứt và độ dai phá huỷ của
mẫu vật liệu KGCH
69
3.7.2. Thử nghiệm xác định tốc độ lan truyền vết nứt và độ dai phá huỷ của
mẫu vật liệu TBX
74
4.2.2. Tính toán lý thuyết kiểm nghiệm độ bền TBX đầu máy D19E
87
4.3. Tính toán độ bền mỏi theo lý thuyết cơ học phá huỷ
92
4.3.1. Tính độ bền mỏi mỏi theo lý thuyết đồng dạng phá huỷ mỏi
92
4.3.2. Tính toán độ bền mỏi theo ngưỡng phát triển vết nứt mỏi
125
4.4. Dự báo tuổi thọ mỏi KGCH đầu máy D19E
133
4.5. Một số biện pháp nâng cao độ bền mỏi cho KGCH
136
4.5.1. Giảm mức độ ứng suất tập trung cục bộ của kết cấu KGCH
137
4.5.2. Tránh vận dụng đầu máy khi chịu tải với tần số nhỏ bất lợi
139
4.6. Kết luận chương 4
139
Kết luận chung 143
- građien tương đối của ứng suất lớn nhất.
mu
G
,
mx
G
- građien tương đối ứng suất lớn nhất của mẫu khi uốn và xoắn.
ctu
G
,
ctx
G
- građien tương đối ứng suất lớn nhất của chi tiết khi uốn và xoắn.
K
I
-
hệ số cường độ ứng suất đối với dạng tải sinh ra biến dạng dạng I.
K
Ii
-
hệ số cường độ ứng suất đối với dạng tải sinh ra biến dạng dạng I thứ i.
K
th
- giá trị tới hạn của hệ số cường độ ứng suất.
K
IC
- độ dai phá hủy của vật liệu.
K
m
- hệ số cường độ các ứng suất tại thời điểm mở vết nứt.
k
1
- hệ số tính tới độ không đồng nhất của vật liệu.
k
2
- hệ số tính tới nội ứng suất.
k
σ
và k
τ
- hệ số tập trung ứng suất pháp và ứng suất tiếp thực tế.
L - tuổi thọ (số giờ, km) của chi tiết thuộc bộ phận chạy của đầu máy.
n
i
- tổng số chu ký ứng suất của σ
i
(hoặc τ
i
).
N
i
- số lượng chu trình dẫn tới phá huỷ mỏi tương ứng với giới hạn mỏi hạn chế
i
σ
- IX -
trưng cho các trạng thái vận hành đầu máy.
u
p
(z
p
) - phân vị với xác suất phá huỷ P%.
u, σ
0
, m - các thông số phân bố khởi thuỷ của Veibull trong phương trình đồng dạng phá hủy mỏi
W
m
- chiều rộng mẫu thử nghiệm xác định da/dN và K
IC
.
W
mu
, W
ctu
- mômen chống uốn của mẫu chuẩn trơn, của chi tiết.
W
mx
, W
ctx
- mômen chống xoắn của mẫu chuẩn trơn, của chi tiết.
w - Kích thước vùng biến dạng dẻo.
V - vận tốc của đầu máy.
f
i
- tần số tải trọng thứ i.
f
max
- u).
s
σ,
s
τ
- hệ số an toàn mỏi ứng suất phápvà ứng suất tiếp.
s - hệ số an toàn mỏi toàn phần.
α
σ
; α
τ
- hệ số tập trung ứng suất lý thuyết.
β - hệ số tính tới chất lượng bề mặt gia công.
ε
σ
và ε
τ
- hệ số ảnh hưởng kích thước của chi tiết.
ε
∞
- hệ số ảnh hưởng của kích thước tuyệt đối tới sức chống phá huỷ mỏi của chi tiết.
ϕ
K
- hệ số ma sát giữa quốc hãm bánh xe.
φ
σ
- hệ số độ nhạy của vật liệu ứng với chu trình không đối xứng.
µ - hệ số Poisson.
Π - được gọi là chỉ tiêu đồng dạng phá huỷ mỏi không thứ nguyên.
-
giới hạn mỏi của vật liệu với hệ số chu trình ứng xuất R.
σ
N
-
ứng suất ứng với số chu trình N.
σ
-1ct
- giới hạn mỏi của chi tiết.
σ
0
- giới hạn bền mỏi các mẫu thí nghiệm với chu trình mạch động.
k1−
σ
- giới hạn mỏi uốn thuần tuý, chu trình đối xứng, có xét tới hệ số tập trung ứng suất.
σ
-1KGCH
, τ
-1KGCH
- giới hạn mỏi của vật liệu khi chịu uốn và xoắn của KGCH đầu máy D19E.
σ
-1TBX
, τ
-1TBX
- giới hạn mỏi của vật liệu khi chịu uốn và xoắn của trục bánh xe đầu máy D19E.
1−
σ
và
τ
, ψ
τ σ
và ψ
στ
- hệ số ảnh hưởng sự bất cân đối đến biên độ giới hạn của vật liệu.
b
ψ
- hệ số bám giữa mặt lăn bánh xe và ray.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. KGCH: Khung giá chuyển hướng.
2. TBX: Trục bánh xe.
3. TĐĐ: Truyền động điện.
4. ĐCĐK: Động cơ điện kéo.
5. ĐSVN: Đường sắt Việt Nam.
6. HSCĐUS: Hệ số cường độ ứng suất.
7. HSATM: Hệ số an toàn mỏi.
8. GHBM: Giới hạn bền mỏi.
- XI - DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ: Trang
Hình 1.1. Sự định hướng các mầm tinh thể so với các lực tác động 8
Hình 1.2. Sự xuất hiện các vết nứt mỏi 8
Hình 1.3. Vết nứt trên xà dọc KGCH đầu máy D19E số 902 17
Hình 1.4. Vết nứt trên tấm cạnh ngoài và tấm đáy của xà d
ọc KGCH số 907 18
Hình 1.5. Giản đồ Haigh 19
của mẫu vật liệu KGCH 71
- XII - Hình 3.19. Kiến tạo vết nứt ban đầu của mẫu vật liệu KGCH 71
Hình 3.20. Kết quả thí nghiệm da/dN của mẫu vật liệu KGCH 72
Hình 3.21. Thí nghiệm xác định K
IC
của mẫu vật liệu KGCH 72
Hình 3.22. Mẫu sau khi thử đặc trưng mỏi vật liệu KGCH 72
Hình 3.23. Tải trọng theo vị trí vết nứt của mẫu vật liệu KGCH 73
Hình 3.24. Kích thước vết nứt của mẫu vật liệu KGCH sau khi thử nghiệm 73
Hình 3.25. Kết quả thí nghiệm xác định độ dai phá huỷ K
IC
của mẫu vật liệu KGCH 73
Hình 3.26. Các thông tin và thông số chung việc thử nghiệm vật liệu TBX 74
Hình 3.27. Các thông số của mẫu thử nghiệm vật liệu TBX 75
Hình 3.28 Các thông số điều chỉnh việc thử nghiệm xác định K
IC
của mẫu vật liệu TBX 75
Hình 3.29. Kiến tạo vết nứt ban đầu của mẫu vật liệu TBX 75
Hình 3.30. Tải trọng theo vị trí vết nứt của mẫu vật liệu TBX 76
Hình 3.31. Kích thước vết nứt của mẫu vật liệu TBX sau khi thử nghiệm 76
Hình 3.32. Kết quả thí nghiệm xác định độ dai phá huỷ K
IC
của mẫu vật liệu TBX 76
Hình 4.1. Hình tổng thể đầu máy D19E 79
Hình 4.2. Hình tổng thể giá chuyển hướng đầu máy D19E 80
Hình 4.3. Kết cấu trục bánh xe đầu máy D19E 81
Hình 4.4. Kết cấu khung giá đầu máy D19E 82
)
Pf
TBXTBX
=
−− 11
;
τ
σ
; s
TBX
= f(P) của mặt
cắt I của TBX đầu máy D19E 108
Hình 4.18. Sơ đồ khối tính toán ξ
KGCH
= f(P) và
(
)
Pf
KGCHKGCH
=
−− 11
;
τ
σ
110
Hình 4.19. Sơ đồ khối tính toán s
KGCH
= f(P) 111
Hình 4.20. Kết quả tính toán ξ
KGCH
KGCH
= f(P) của
điểm 34, KGCH đầu máy D19E theo kết quả đo được của Trung Quốc 115
Hình 4.22.Kết quả tính toán ξ
KGCH
= f(P);
(
)
Pf
KGCHKGCH
=
−− 11
;
τ
σ
; s
KGCH
= f(P) của
điểm P9, KGCH đầu máy D19E theo kết quả tính toán lý thuyết 115
Hình 4.23. Sơ đồ khối tính toán Π
u
, Π
x
,
(
)
Pf
TBXTBX
=
−− 11
,
(
)
Pf
KGCHKGCH
=
−− 11
;
τ
σ
và s
KGCH
= f(P) 120
Hình 4.26. Kết quả tính toán Π
u
;
Π
x
;
(
)
Pf
KGCHKGCH
=
−− 11
;
τ
σ
; s
(
)
Pf
KGCHKGCH
=
−− 11
;
τ
σ
; s
KGCH
= f(P) của
điểm P9 trên KGCH theo lý thuyết 124
Hình 4.29. Kết quả tính toán ξ
KGCH
= f(P);
(
)
Pf
KGCHKGCH
=
−− 11
;
τ
σ
; s
KGCH
= f(P) của
điểm A9 KGCH đầu máy D19E đợt nhập thứ 3 vượt đèo Khe Nét 124
Hình 4.30. Đồ thị quan hệ giữa log(da/dN) và log(∆K) của vật liệu KGCH 126
Bảng 4.1. Các lực tác dụng trên KGCH với tổ hợp 1 84
Bảng 4.2. Các lực tác dụng trên KGCH với tổ hợp 2 85
Bảng 4.3. Giá trị ứng suất tại các điểm trên KGCH đầu máy 903 86
Bảng 4.4. Giá trị ứng suất tại các điểm trên KGCH đầu máy 907 86
Bảng 4.5. Các lực tác dụng trên TBX với tổ hợp 1 90
Bảng 4.6. Các lực tác dụng trên TBX với tổ hợp 2 91
Bảng 4.7. Kết quả ứng suất tại các mặt cắt của TBX 92
Bảng 4.8. Phân vị ứng với xác suất phá huỷ 103
Bảng 4.9. Kết quả tính toán ξ
TBX
= f(P);
(
)
Pf
TBXTBX
=
−− 11
;
τ
σ
; s
TBX
= f(P) của
các mặt cắt của TBX đầu máy D19E 109
Bảng 4.10. Các giá trị ứng suất ở các điểm trên KGCH khi vượt đèo Khe Nét 112
Bảng 4.11. Thống kê các mức đỉnh biến dạng động của các điểm trên KGCH 113
Bảng 4.12. Kết quả tính s
KGCH
= f(P) của các điểm KGCH đầu máy D19E vượt
đèo Khe Nét 113
*
tại các điểm trên KGCH
theo kết quả tính toán lý thuyết 130
Bảng 4.22. Kết quả thử nghiệm xác định tốc độ lan truyền vết nứt vật liệu TBX 131
Bảng 4.23. Kết quả tính toán (∆K)
Ii
và ngưỡng (∆K)
th
*
tại các mặt cắt của TBX
theo kết quả tính toán lý thuyết 133
Bảng 4.24. Số chu trình ứng suất N tại điểm P4 KGCH bắt đầu phá huỷ 135
Bảng 4.25. Số chu trình ứng suất N tại điểm A2 KGCH bắt đầu phá huỷ 135
Bảng 4.26. Số chu trình ứng suất N tại điểm A9 KGCH bắt đầu phá huỷ. 136
- 1 - Lêi nãi ®Çu
Giao thông Vận tải đường sắt là một trong các hình thức giao thông vận tải
quan trọng của một xã hội phát triển. Công cuộc đổi mới của ngành Đường sắt Việt
Nam trong những năm qua đã thu được nhiều thắng lợi: Chất lượng vận tải đường
sắt đã không ngừng được nâng cao, góp phần thu hút khách hàng đến với đường
sắt nhiều hơn, từng bước nâng cao thị phần vận tải đường sắt trong hệ thống giao
thông vận tải quốc gia.
Để đạt được mục tiêu đó, chất lượng đầu máy toa xe của ngành Đường sắt
Việt Nam đã có nhiều thay đổi lớn để đảm bảo đủ sức kéo đáp ứng yêu cầu phát
triển của ngành và của xã hội. Những đầu máy có công suất lớn, độ bền cao để
vai trò là sức kéo chủ yếu trong hiện tại và những năm tiếp theo. Chính vì vậy mà
việc đánh giá chất lượng của khung giá chuyển hướng và trục bánh xe trên đầu
máy diesel truyền động điện có ý nghĩa lớn trong công tác lựa chọn, thiết kế, kiểm
tra, bảo dưỡng sửa chữa bộ phận chạy, cũng như phương pháp vận dụng đầu máy.
Hiện nay, phương pháp tính toán của cơ học phá hủy đàn hồi và các tiêu
chuẩn thử nghiệm tính năng phá hủy đối với các loại vật liệu đều đã được hoàn
thiện. Phương pháp cơ học phá hủy đàn hồi được ứng dụng vào việc phân tích kết
cấu phá hủy giòn và vấn đề phát triển vết nứt mỏi trong kết cấu đều có thể nhận
được kết quả có ý nghĩa quan trọng và cần thiết.
Bởi vậy, việc nghiên cứu xác định đặc trưng mỏi của mẫu vật liệu cũng như
phương pháp xác định độ an toàn mỏi của kết cấu, chi tiết cho phép đánh giá một
cách đầy đủ hơn về tình trạng độ bền mỏi và tuổi thọ mỏi của khung giá chuyển
hướng và trục bánh xe đầu máy diesel trong quá trình vận dụng hiện nay. Từ đó
đưa ra các giải pháp ngăn chặn vết nứt mỏi, nâng cao độ bền mỏi, đảm bảo độ tin
cậy, độ bền của khung giá chuyển hướng và trục bánh xe trong quá trình vận dụng,
khai thác ở đường sắt nước ta là một vấn đề quan trọng, cấp thiết đang được đặt ra. - 3 - ch−¬ng 1
tæng quan vÒ vÊn ®Ò nghiªn cøu
1.1. Khái niệm về cơ học phá huỷ
Cơ học phá huỷ là một môn khoa học được hình thành và phát triển trong
những năm gần đây, cơ học phá huỷ đã có những kết quả nghiên cứu đáng kể. Hệ
thống lý luận và phương pháp đo của cơ học phá huỷ sau vài chục năm phát triển
và hoàn thiện ngày càng chính xác hơn. Cơ học phá huỷ có tác dụng ngày càng
quan trọng trong việc thiết kế chống phá huỷ, khống chế phá huỷ và phân tích sự
cố phá huỷ kết cấu.
th
thì vết nứt sẽ tiếp tục phát triển từ từ theo
một quy luật nào đó; Nhưng trước khi kích thước a của vết nứt phát triển tới kích
thước tới hạn a
th
, thì kết cấu sẽ không phát sinh mất ổn định hoặc bị phá huỷ. Bởi
vậy, tốc độ phát triển vết nứt của vật liệu da/dN là một lượng đo khả năng chống
phát triển vết nứt của vật liệu. Trên cơ sở này,với kết cấu có vết nứt ban đầu là a
0
và kích thước tới hạn là a
th
, thì tuổi thọ phát triển vết nứt N
p
của nó có thể tính
- 4 - toán như sau:
∫
=
th
a
1. Dùng quan điểm cơ bản và chuẩn tắc độ bền phá huỷ để bổ sung cho lý
thuyết độ bền truyền thống, chỉ đạo việc thiết kế kết cấu, tức là kết cấu thiết kế
chẳng những phải thoả mãn các yêu cầu của độ bền truyền thống, mà còn đồng thời
thoả mãn yêu cầu của cơ học phá huỷ, đặc biệt là tính năng chống phá huỷ mỏi.
2. Dùng lý thuyết cơ học phá huỷ làm căn cứ, đưa ra yêu cầu, đặc biệt là đối
với phương pháp và quá trình công nghệ chế tạo và kiểm tu kết cấu, đưa ra các
quy trình tương ứng để vừa thoả mãn yêu cầu ứng dụng vừa đạt hiểu quả kinh tế
tương đối cao.
3. Dùng lý thuyết cơ học phá huỷ tiến hành phân tích sự cố phá huỷ kết cấu,
đưa ra giải pháp đề phòng và biện pháp giải quyết.
4. Lấy việc nâng cao tính chống phá huỷ của kết cấu làm mục đích, nghiên cứu
tạo ra vật liệu mới có tính năng chống phá huỷ tốt.
5. Xuất phát từ nghiên lý cơ bản của cơ học phá huỷ, đề xuất phương pháp mới
để ngăn nứt trong thiết kế và kiểm tu kết cấu.
Cơ học phá huỷ đàn hồi chẳng những là cơ sở của toàn bộ hệ thống lý luận
cơ học phá huỷ, mà còn là nội dung phát triển thành thục nhất, hoàn thiện nhất
trong hệ thống cơ học phá huỷ. Cơ học phá huỷ đàn hồi là nền tảng của toàn bộ lý
thuyết cơ học phá huỷ. Phương pháp phân tích chủ yếu của nó là dùng phương
pháp cơ đàn hồi để tiến hành phân tích trường ứng suất tại đầu vết nứt và khu vực
- 5 - phụ cận. Nội dung phân tích bao gồm: Hình dạng, độ lớn, phương vị của vết nứt
(hoặc khuyết tật giống vết nứt) và phân tích tính năng vật liệu có vết nứt.
1.1.3. Những khái niệm cơ bản về Lý thuyết mỏi
Theo lý thuyết cơ học phá huỷ ta nhận thấy lý thuyết mỏi là một nhánh của
cơ học phá huỷ chuyên nghiên cứu về ứng xử của vật liệu và chi tiết dưới tác động
của ứng suất thay đổi theo thời gian có kể tới ảnh hưởng của hàng loạt các yếu tố,
đồng thời nêu ra phương pháp tính toán và những giải pháp kỹ thuật nhằm nâng
cao độ bền mỏi.
0
= l0
7
đối với vật liệu kim loại nói chung và N
0
= l0
8
đối với các hợp kim nhẹ có độ bền cao.
Tùy theo đặc trưng của chu trình ứng suất, giới hạn mỏi có thể được xác
định ở chu trình ứng suất đối xứng, chu trình ứng suất mạch động hoặc ở chu trình
ứng suất phi đối xứng
- 6 - e. Đường cong mỏi: Đường cong mỏi là đường cong biểu diễn mối liên hệ giữa các
ứng suất thay đổi với các số chu trình ứng suất tương ứng.
Ứng suất thay đổi có thể là ứng suất lớn nhất hoặc là biên độ ứng suất.
Đường cong mỏi cổ điển S = f(N) còn gọi là đường cong Veller (Wohler's Curve).
1.1.4. Những chỉ tiêu phá huỷ mỏi
Để đánh giá quá trình phá hủy mỏi, các nhà nghiên cứu về phá hủy mỏi đưa
ra những chỉ tiêu sau đây:
a. Chỉ tiêu về ứng suất và biến dạng [17]
Nếu gọi S là ứng suất, N số chu trình ứng suất tương ứng thì chỉ tiêu về ứng
suất và biến dạng lần lượt là:
S
i
m
. N
i
- độ dãn dài tới hạn tại lúc phá hủy;
N
p
- số chu trình ứng suất tại lúc phá hủy;
K
bd
- số mũ (≈ 0,01 ÷ l,0);
C
e
- hằng số.
b. Chỉ tiêu về năng lượng
CE. Feltner và J.D. Marlow đưa ra chỉ tiêu này với nội dung sau: sự phá hủy
mỏi bắt đầu xảy ra tại thời điểm khi mà tổng số năng lượng tản mác (quá trình này
chỉ xảy ra một chiều) đạt tới giá trị đúng bằng công biến dạng riêng khi chất tải tĩnh.
Các tác giả trên đã tính được trị số tới hạn của năng lượng tản mác trong vật
liệu sau N chu trình ứng suất là:
∫
∆
=
ε
ε
σ
0
.2
plsum
dND
(1.5)
Số chu trình ứng suất (hay tuổi thọ) khi phá hủy N
+
=
n
n
sum
O
K
nD
K
n - hằng số tăng bền do biến dạng chu trình;
K - hằng số của vật liệu.
Phát triển thuyết cân bằng năng lượng khi phá hủy, nhà nghiên cứu I .Ivanova đã
- 7 - khởi xướng thuyết cấu trúc - năng lượng và đưa ra chỉ tiêu phá hủy [18]:
2
1
m
ppc
AETcN
β
γ
=
(l.7)
Và
m
hằng số, giá trị trung bình: β
m
= 8,5 kG/ mm
2
.
c. Chỉ tiêu về vết nứt mỏi
Động học của quá trình phá hủy mỏi bao giờ cũng gồm có các giai đoạn xuất
hiện, hình thành, phát sinh và phát triển vết nứt. Vết nứt mỏi lan truyền với tốc độ
nhất định và khi đạt được tốc độ truyền âm trong vật liệu thì sự phá hủy hoàn toàn
xảy ra. Sự tích lũy phá hỏng mỏi thì diễn tiến cả quá trình, còn sự phá hủy hoàn
toàn thì xảy ra tức thời. Gọi v là tốc độ lan truyền vết nứt, người ta đã xây dựng
được quan hệ:
( )
CFSf
dN
da
v ,,==
(l.9)
trong đó: S - trạng thái ứng suất ;
F - đặc trưng hình học của chi tiết ;
C - điều kiện vật liệu và điều kiện làm việc của chi tiết.
1.2 Bản chất sự phá huỷ mỏi
Các công trình nghiên cứu về phá hủy mỏi đã cho thấy sự phá huỷ mỏi là kết
quả của các biến dạng dẻo và đàn hồi luân phiên nhau, lặp lại nhiều lần, phân bố
không đều trên toàn bộ thể tích chi tiết do tính không đồng nhất vật liệu, những hư
hỏng đầu tiên xuất hiện trong các vi khối định hướng không thuận lợi so với tác
động của tải trọng, chịu trước các ứng suất dư và bị yếu bởi các khuyết tật cục bộ.
Hình 1.2 Sự xuất hiện các vết nứt mỏi
Ở một giai đoạn đặt tải nhất định, các tầng kim loại giống như là một bức
tranh khảm hạt bị biến dạng dẻo (hình 1.2a) và các hạt chịu ứng suất ít hơn do sự
định hướng thuận hơn các mặt phẳng tinh thể so với các ứng suất tiếp tuyến. Sự
biến dạng dẻo - đàn hồi tổng quát của kim loại là do sự giãn của các hạt bị quá ứng
suất, do sự trượt giữa các hạt và do sự xoay các hạt với nhau.
Sự hình thành các vết nứt mầm kết tinh trong phạm vi hạt là kết quả của sự
tăng số lượng có định hướng và sự dịch chuyển (khuếch tán) các biến dạng lỗ trống
tới các ranh giới hạt. Tốc độ khuếch tán tỷ lệ với ứng suất và nhiệt độ và tất nhiên
là được sự gia tốc nhờ sự nung nóng tế vi vật liệu.
Sự tích tụ lỗ trống gây ra sự phân tán cấu trúc, làm xuất hiện các lỗ rỗ á tế vi
và hình thành các vết nứt đầu tiên.
Ở những giai đoạn đầu, quá trình có tính chất thuận nghịch. Khi ứng suất
ngừng tác động (thời kỳ nghỉ), các lỗ trống dịch chuyển theo hướng dịch lại; những
lỗ trống tích tụ dần dần tan đi, phân bố đều trong các vi khối của hạt; vật liệu trở
lại trạng thái ban đầu. Có thể đẩy nhanh quá trình này bằng cách tăng nhiệt độ. Các
a
b
c
d
I
II
thuộc vào độ bền lớp xen giữa các hạt và mức tái định hướng các mặt phẳng kết
tinh các hạt kề cận. Dễ vượt qua hơn cả là các lớp xen giữa các hạt có các mặt
phẳng kết tinh định hướng như nhau. Nhưng hiếm có các trường hợp phân bố kề
cận các tinh thể định hướng như nhau.
Trị số trung bình của ứng suất cần thiết để vượt qua rào cản giữa các hạt
quyết định sức bền mỏi của vật liệu. Giới hạn mỏi có thể được xem xét như là mức
trung bình ứng suất mà trong đó các vết nứt vẫn còn trong phạm vi các hạt và được
chữa một phần hoặc chữa hoàn toàn trong các giai đoạn nghỉ.
Sức cản của vật liệu đối với sự trượt bên trong hạt phụ thuộc vào các tính
chất cơ lý của vật liệu và vào cấu trúc tinh thể mịn của hạt.
Chuyển động của các lỗ trống bị kìm hãm bởi sự tích tụ các nguyên tử tạp,
bởi các gianh giới pha và gianh giới các thành phần cấu trúc, bởi các bề mặt của
các khối tinh thể (sự hình thành tinh thể bên trong hạt với kích thước vài trăm
micrômet).
Ra khỏi phạm vi các hạt, vết nứt phát triển tăng vọt biến thành vết nứt nhìn
thấy được và đổi hướng, chạy theo các đoạn vật liệu yếu nhất gần như vuông góc
với hướng tác động của các ứng suất cực đại (hình 1.2c). Sự phát triển vết nứt tăng
nhanh là do sự tập trung ứng suất đột ngột xuất hiện ở nền vết nứt. Sự nóng lên
diễn ra khi phá huỷ cục bộ đã làm mềm kim loại, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lan
toả vết nứt. Vết nứt nhìn thấy được có thể phát triển dưới tác động của ứng suất
thấp hơn nhiều so với các ứng suất cần thiết để vượt qua rào cản giữa các hạt, trong
- 10 - khi đó các ứng suất cần thiết để làm lan toả vết nứt sẽ giảm bớt theo mức phát triển
của vết nứt [14].
Một số lượng lớn các vết nứt phát triển đồng thời (hình 1.2d). Vài vết nứt
chạm phải chướng ngại, dừng lại; Những vết nứt khác tiếp tục phát triển. Ở một
giai đoạn nhất định, quá trình bị hạn chế trong một phạm vi nhất định; chủ yếu lan
rộng một vết nứt hoặc một nhóm vết nứt gần nhau trội hơn các vết nứt khác do trên
- 11 - trường xung quanh. Trên bề mặt hình thành các màng hút bám hơi, khí ẩm, dầu
v.v…chắc chắn mà không thể loại trừ được bằng các phương pháp cơ khí và hoá học
thông thường. Các màng hút thu thấm qua các vết nứt tế vi vào sâu trong kim loại và
phá vỡ liên tục của kim loại và gây ra sự yếu lớp sát bề mặt.
Thứ ba, cần chú ý tới các yếu tố công nghệ. Lớp bề mặt luôn bị hư hỏng
nhiều hoặc ít bởi việc gia công trước đó. Việc gia công cơ khí, về bản chất, là quá
trình biến dạng dẻo và phá huỷ kim loại, nó xẩy ra cùng với sự cắt hạt, làm tróc và
bứt hạt, cùng với sự xuất hiện các vết nứt tế vi và cùng với sự xuất hiện ở các lớp
bề mặt và sát bề mặt các ứng suất kéo tổng cộng gần tới giới hạn chảy của vật liệu.
Sự toả nhiệt khi gia công cơ khí gây ra sự tái kết tinh một phần lớp bề mặt, đôi khi
còn đi với sự biến đổi pha và biến đổi cấu trúc.
Khi nung nóng trong quá trình xử lý nhiệt, ở lớp bề mặt thường diễn ra sự
thay đổi pha và thay đổi hoá học ví dụ trong các loại thép - sự khử cacbon (phân
huỷ xenmentit cùng với sự hình thành lớp vỏ pherit không bền).
Thứ tư, bề mặt kim loại bị tấn công của tất cả các dạng ăn mòn gặp trong
khai thác gây ra những hư hỏng ăn sâu lớp bề mặt. Sự ăn mòn thường lan toả theo
các lớp xen giữa các hạt và theo các vết nứt tế vi.
Như vậy, ở lớp bề mặt tập trung nhiều loại khuyết tật khác nhau như khuyết
tật trông thấy, khuyết tật tế vi, khuyết tật á tế vi do các yếu tố vật lý, hoá học, cơ khí
gây ra và những khuyết tật không thể tránh khỏi theo các điều kiện công nghệ hình
thành lớp bề mặt, cũng như do vai trò đặc biệt của lớp bên ngoài như là một bề mặt
phân chia giữa kim loại và môi trường xung quanh. Lớp bề mặt là nơi tập trung ứng
suất vốn có của từng chi tiết. Có thể làm giảm bớt ảnh hưởng của nó bằng một tập
hợp các biện pháp nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn.
Tất cả các yếu tố phá vỡ tính liên tục tính đồng nhất của lớp bề mặt và tạo ra
các nguồn ứng suất đứt gãy cao đều tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các
vết nứt đầu tiên và làm giảm rõ rệt độ bền tuần hoàn của vật liệu. Ngược lại, sự nén