BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Ngọc Loan
TỔ CHỨC NGOẠI KHÓA PHẦN ĐỊNH LUẬT
BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG – VẬT LÍ 10
NÂNG CAO NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY
SÁNG TẠO HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ DIỆU NGA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
PHỤ LỤC 1
PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG NGOẠI
KHÓA TRONG
NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
Để phục vụ tốt hơn t
rong việc nghiên cứu khoa học, chúng tôi mong
rằng các quí thầy cô có thể giúp đỡ chúng tôi trả lời những câu hỏi qua
phiếu điều tra: (Quí thầy cô đánh dấu x vào ô lựa chọn)
1. Hằng năm, tổ bộ m
ôn của quí thầy cô có kế hoạch tổ chức ngoại khóa cho
học sinh không?
Có
Không
giáo viên chỉ quan tâm đến những kiến thức liên
quan phục vụ cho các kì thi, không hoặc ít dành
thời gian cho việc tổ chức hoạt động ngoại khóa
cho học sinh.
Kinh phí cho hoạt động ngoại khóa : để tổ chức
được một buổi ngoại khoá cần nhiều kinh phí để
hỗ trợ chẳng hạn như : âm thanh, ánh sáng, thiết
bị, dụng cụ để phục vụ ngoại khóa… Thực tế
kinh phí các trường dành cho phần hoạt động
này quá eo hẹp, thậm chí không có.
Thời gian chuẩn bị : để tổ chức hoạt động ngoại
khóa, giáo viên tốn rất nhiều thời gian, công sức,
nhưng thù lao, kết quả họ nhận được không
tương xứng , thậm chí ở một số trường phổ thông
việc tổ chức hoạt động ngoại khóa là được coi là
trách nhiệm công việc của cá nhân giáo viên.
Giáo viên chưa có hoặc ít kinh nghiệm và kỹ
năng tổ chức hoạt động ngoại khóa.
Chương trình dạy nội khóa quá nặng nên giáo
viên và học sinh không còn thời gian để tổ chức
hoặc tham gia ngoại khóa. Nội dung ngoại khóa chưa hấp dẫn, dễ lặp đi lặp
lại, gây nhàm
chán.
o dưới đây động lượng được bảo toàn
A. Thẳng đều
B. Tròn đều C. Thẳng biến đổi đều D. A&B
Câu 4: Một vật có k
hối lượng 1 kg chuyển động tròn đều với vận tốc 10m/s
thì độ biến thiên động lượng của vật bằng bao nhiêu khi vật chuyển động
được ¼ vòng tròn?
10 2
A. 0kgm
/s B. 20kgm/s C.
kgm/s D. 10kgm/s
Câu 5: Một viên đạn khối lượng 2kg đang bay thẳng đứng l
ên trên với vận
tốc 40m/s thì nổ thành 10 mảnh đạn bay theo các hướng khác nhau. Tổng
động lượng của 10 mảnh đạn thì
A. có độ lớn là 80kg.m
/s và hướng thẳng đứng lên trên
B. độ lớn là 80 kg.m/s và hướng thẳng đứng xuống dưới
C. có độ lớn là 80 kg.m/s, hướng thì không xác định được
D. không xác định được vì không biết khối lượng, vận tốc, hướng bay của các mảnh
Câu 6
: Một vật khối lượng m
1
chuyển động đến va chạm trực diện với vật
1
2
4
m
m
đang nằm yên. Cho biết va chạm là va chạm mềm. Tỉ số (phần trăm)
giá trị động lượng bằng nhau và bằng giá trị động lượng ban đầu của viên đạn.
Vậy 2 mảnh hợp với nhau 1 góc là :
A. 30
0B. 60
0
C. 120
0
D. 180
0
PHỤ LỤC 3
PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC SI
NH
SAU KHI THAM GIA NGOẠI KHÓA
Để phục vụ tốt hơn trong việc nghiên cứu khoa học, chúng tôi m
ong
rằng các em có thể giúp đỡ chúng tôi trả lời những câu hỏi qua phiếu điều tra:
Phần 1: Một số câu trắc nghiệm liên quan đến kiến thức động lượng
Học sinh dùng bút chì tô đen câu trả lời. Ví dụ : chọn A
A
Câu 1: Một quả đạn có khối lượng 20kg đang bay t
hẳng đứng xuống dưới với
vận tốc 70m/s thì nổ thành hai mảnh. Mảnh thứ nhất có khối lượng 8kg bay
theo phương ngang với vận tốc 90m/s. Độ lớn vận tốc mảnh thứ hai có thể
nhận giá trị nào sau đây :
A. 56,7 m/s B. 131,1m/s C. 123m/s D. 680m/s
Câu 4: Một viên đạn có khối lượng m
đang bay với vận tốc v = 500m/s thì nổ
thành hai mảnh có khối lượng bằng nhau và có phương chiều như sau:
0
30
0
60
v
1
p
2
p
Độ lớn vận tốc của mảnh thứ nhất có giá trị:
A. 250 m
/s B. 850 m/s C. 400 m/s D. 500 m/s
Câu 5:
Không
Câu 8:
Trong các trò chơi của hoạt động ngoại khóa, em thích trò chơi nào? ( có
thể chọn nhiều trò chơi)
Phản ứng
nhanh
Giải ô chữ
Bức tranh bí mật
Đua xe tốc độ
cao
Bắn tên lửa nước
Ai khéo hơn
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
Chân thành cảm ơn các em
Chúc các em nhiều sức khỏe và học thật tốt !
PHỤ LỤC 4
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRÒ CHƠI DÀNH CHO KHÁN GIẢ, NGÀY
HỘI QUẬN ĐOÀN 5 VÀ GIAO LƯU VỚI CÂU LẠC BỘ
HÀNG KHÔNG PHÍA NAM Cảnh vui nhộn khi khán giả tham gia
trò chơi ai khéo hơn
Biểu diễn máy bay của SSRC
Học sinh thắc mắc về cách chế tạo tên
lửa nước với BGK và câu lạc bộ hàng
không phía Nam
Các thành viên trong câu lạc bộ hàng
không phía Nam giải thích những thắc
mắc của học sinh
Học sinh tham gia văn nghệ trong
ngày hội
Chuẩn bị phóng tên lửa dùng thuốc
phóng rắn
Ngày hội Quận đoàn 5-chuẩn bị tên lửa
Có nhiều cách phân loại các hìn
h thức dạy học vật lí, mỗi cách dựa trên
một dấu hiệu nhất định như:
- Dựa vào thành phần học sinh có thể chi
a thành dạy học cá nhân, dạy
học theo nhóm, dạy học theo lớp.
- Dựa vào mục đích có thể chia thành nghiên cứu kiến thức mới, luyện
tập, ôn tập….
- Theo địa điểm thì có thể làm việc ở lớp, làm việc phòng thí
nghiệm…Tuy nhiên, mỗi hình thức dạy học đều bao hàm nội dung của một số
cách phân loại khác.
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức dạy học thuộc hệ thống các
hình t
hức dạy học ở trường phổ thông hiện nay. Ngoại khóa vật lí nói riêng và
hoạt động ngoại khóa nói chung hỗ trợ cho học nội
khóa trong việc củng cố,
mở rộng, đào sâu kiến thức, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời
sống vào kỹ thuật, phát huy tính tích cực
sáng
tạo của học sinh. Những kiến
thức học sinh thu được khi tham gia các hoạt động ngoại khóa thường sâu sắc
và có tính bền vững, sản phẩm học sinh làm ra mang nhiều ý nghĩa.
Mặt khác, thời lượng phân bố từng phần trong chương trình còn rất ít
nên phần lớn học sinh chỉ nắm sơ lược về lí thuyết, hầu như không có thời
gian để làm
thí nghiệm và nghiên cứu những ứng dụng có liên quan. Chính
trình độ thực hành thí nghiệm của học sinh hạn chế nên trong các kỳ thi quốc
tế học sinh Việt Nam thường gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, tổ chức hình
thức ngoại khóa rất cần thiết cho việc dạy và học.
kích thích hứng thú học tập, phát huy tính sáng tạo của học sinh, đồng thời
củng cố kiến thức đã học một cách sâu sắc, bền vững hơn và học sinh hiểu rõ
hơn ứng dụng kiến t
hức vật lí vào thực tiễn đời sống, kỹ thuật.
4. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động ngoại khóa vật lí trong dạy học vật lí ở trường phổ thông.
5. Phạm vi nghiên cứu
Tổ chức hoạt động ngoại khóa phần “Định luật bảo toàn động lượng –
vật lí 10 nâng cao”.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động ngoại khóa nói chung và ngoại
khóa vật lí nói riêng.
- Nghiên cứu thực trạng các hoạt động ngoại khóa vật lí ở các trường phổ
thông hiện nay.
- Xây dựng nội dung hoạt động ngoại khóa phần “Định luật bảo toàn
động lượng – vật lí 10 nâng cao”.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của buổi ngoại
khóa đã
xây dựng.
7. Phương pháp nghiê
n cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của hoạt động ngoại khóa vật lí ở trường
phổ thông.
hức tổ chức hoạt động nào tùy thuộc
vào mục đích, nội dung, phương tiện dạy học và trình độ của học sinh. Mỗi
hình thức dạy học có những ưu- khuyết điểm riêng vì vậy việc phối hợp hài
hòa, khéo léo các hình thức tổ chức dạy học sẽ mang lại hiệu quả, tạo chất
lượng toàn diện cho quá trình học tập của học sinh.[7]
1.1.2. Hoạt động ngoại khóa
1.1.2.1. Khái niệm hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các
m
ôn văn hóa ở trên lớp, một trong những mảng hoạt động giáo dục quan
trọng ở nhà trường phổ thông. Hoạt động này có ý nghĩa hỗ trợ cho giáo dục
nội khóa, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu
và tài năng sáng tạo của học sinh. Nội dung ngoại khóa rất phong phú và đa
dạng nhờ đó các kiến thức tiếp thu được trên lớp có cơ hội được áp dụng, mở
rộng thêm trên thực tế, đồng thời có tác dụng nâng cao hứng t
hú học tập nội
khóa. Nó có những đặc trưng: dựa trên tính tự nguyện của học sinh, có sự
hướng dẫn của giáo viên, số lượng học sinh tham gia không hạn chế; việc
đánh giá kết quả không thông qua điểm mà thông qua sản phẩm của học sinh
làm được, thông qua
sự hứng thú, tích cực, tính sáng tạo của học sinh.[8]
1.1.2.2. Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống
các hình thức tổ chức dạy học trường trung học phổ thông
Hoạt động ngoại khóa có vị trí rất quan trọng đối với việc hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. Ngoài việc củng cố, bổ sung và
hoàn thiện hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ được học sinh lĩnh hội thông qua
- Về giáo dục nhận thức: hoạt động ngoại khóa giúp học sinh củng cố,
đào sâu, mở rộng những tri thức đã học trên lớp, ngoài ra gi
úp học sinh vận
dụng tri thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra,
theo phương châm học đi đôi với hành, lí thuyết gắn liền với thực tiễn.
- Về rèn luyện kỹ năng: hoạt động ngoại khóa rèn luyện cho học sinh khả
năng tự quản, kỹ năng tổ chức, điều khiển, làm việc theo nhóm, ngoài ra còn
góp phần phát triển kỹ năng gi
ao tiếp, giải quyết vấn đề, chế tạo dụng cụ và
làm thí nghiệm …
- Về giáo dục tinh thần thái độ: hoạt động ngoại khóa tạo hứng thú học
tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, lôi cuốn học sinh tự giác tham gia nhiệt tình
các hoạt động, phát huy tính tích cực, nỗ lực của học sinh.[1]
- Về rèn luyện năng lực tư duy: các loại tư duy có t
hể rèn luyện cho học
sinh trong dạy học là:
+ Tư duy lôgic: là tư duy về mối quan hệ nhân quả mang tính tất
yếu, quy luật. Vì vậy các yếu tố, đối tượng (gọi chung là các yếu tố) trong tư
duy lôgic bắt buộc phải có quan hệ với nhau, trong đó có những yếu tố là
nguyên nhân, tiền đề; những yếu tố còn lại là kết quả, kết luận.
+ Tư duy t
rừu tượng: giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái
quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.
+ Tư duy kinh nghiệm: kinh nghiệm bao hàm toàn bộ mọi sự hiểu
biết, mọi cách ứng xử mà một cá nhân tiếp thu được trong cuộc sống. Kinh
nghiệm có thể do cá nhân tự rút ra được trong quá trình hoạt động của mình
hoặc do tiếp thu từ người khác. Xét đến cùng mọi tri thức của nhân loại cũng
là kinh nghiệm bởi chúng được rút ra từ quá trình phát triển của loài người
dễ bị nhầm với sự thông m
inh hay thông thái. Trường hợp này xảy ra khi tại
địa điểm và thời gian đó không còn ai ngoài người giải quyết được vấn đề có
đủ kinh nghiệm. Tư duy kinh nghiệm chỉ là sự chấp nhận và sử dụng các kinh
nghiệm đã có.
+ Tư duy phân tích: phân tích là sự chia nhỏ sự vật, sự việc, vấn
đề, sự kiện..., gọi chung là các đối tượng, thành các thành phần để xem xét,
đánh giá về các mặt cấu trúc, tổ chức, mối liên hệ giữa các thành phần, vai trò
và ảnh hưởng của từng thành phần trong các đối tượng; trên cơ sở các phân
tích, đánh giá đó xác định mối quan hệ và ảnh hưởng của đối tượng được
phân tích tới các đối tượng khác. Tư duy phân tích là tư duy về một đối tượng,
tìm các thành phần tham gia vào đối tượng, các mối liên kết, quan hệ giữa các
đối tượng, xác định các đặc điểm
, tính chất, đặc trưng, vai trò của đối tượng
trong mối quan hệ với các đối tượng khác (gọi chung là các yếu tố). Với việc
xác định các yếu tố của một đối tượng, tư duy phân tích mang tính tư duy theo
chiều sâu. Mức độ sâu sắc của tư duy được đánh giá qua số lượng các yếu tố
mà tư duy phân tích tìm được.
+ Tư duy tổng hợp: trái ngược với tư duy phân tích, là sự chia nhỏ
đối tượng.
Tư duy tổng hợp tập hợp các yếu tố cùng loại, có liên quan với
nhau. Sự phân tích cho thấy tất cả hay phần lớn các yếu tố của đối tượng,
nhưng vai trò của từng yếu tố trong những hoàn cảnh, những thời điểm khác
nhau có thể thay đổi, có yếu tố chủ yếu và không thể thiếu, có yếu tố hỗ trợ,
có yếu tố cần cho hoàn cảnh này nhưng không cần cho hoàn cảnh khác. Tư
duy tổng hợp gi
úp đánh giá được các tính chất của từng yếu tố thuộc đối
tượng và xác định thành phần, đặc điểm, tính chất của đối tượng phù hợp với
tượng và đối tượng không bị hiểu sai. Khái quát hoá có vai trò quan trọng khi
các đối tượng có nhiều yếu tố cấu thành, mối quan hệ phức tạp, lượng tri thức
lớn với khả năng ghi nhớ của bộ não. Bộ não cần biết về sự tồn tại, vai trò và
một số đặc điểm, tính chất của đối tượng. Nếu ghi nhớ đầy đủ các yếu tố của
một đối tượng thì bộ nhớ của não sẽ không còn đủ chỗ cho việc ghi nhớ về
các đối tượng khác, do đó sẽ hạn chế một số khả năng tư duy. Vì vậy, sử dụng
thêm các phương pháp ghi nhớ ngoài để ghi nhớ đầy đủ các yếu tố của đối
tượng là sự hỗ trợ tốt cho tư duy.
+ Tư duy sáng tạo: tư duy sáng tạo cũng có yêu cầu về sự tích
luỹ
kinh nghiệm hay tri thức. Nhưng tư duy sáng tạo vận hành không hoàn toàn
dựa trên các liên kết ghi nhớ được hình thành do các tác động từ bên ngoài mà
có nhiều liên kết do hệ thần kinh tự tạo ra giữa các vấn đề, các sự vật, sự việc
tác động ri
êng rẽ lên hệ thần kinh. Tư duy sáng tạo tìm ra cách giải quyết vấn
đề không theo khuôn mẫu, cách thức định sẵn. Trong tư duy kinh nghiệm, để
giải quyết được vấn đề đòi hỏi người giải quyết phải có đủ kinh nghiệm về
vấn đề đó, còn trong tư duy sáng tạo chỉ yêu cầu người giải quyết có một số
kinh nghiệm tối thiểu hoặc có kinh nghiệm g
iải quyết những vấn đề khác. Tư
duy sáng tạo là sự vận dụng các kinh nghiệm giải quyết vấn đề này cho những
vấn đề khác. Người chỉ có tư duy kinh nghiệm sẽ lúng túng khi gặp phải
những vấn đề nằm ngoài kinh nghiệm, còn người có tư duy sáng tạo có thể
giải quyết được những vấn đề ngoài kinh nghiệm mà họ có. Tư duy sáng tạo
tạo nên các kinh nghiệm mới trên các kinh nghiệm cũ vì vậy làm
phong phú
thêm kinh nghiệm, tạo nên sự thay đổi về chất cho các vấn đề, sự vật, sự việc
mà nó giải quyết. Biểu hiện của tư duy sáng tạo là sự thông minh, dám thay
đổi kinh nghiệm. Tư duy sáng tạo cũng góp phần tạo nên kinh nghiệm. [18]