BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Ngọc Phượng XÂY DỰNG LỚP HỌC VẬT LÝ TRỰC TUYẾN
NHẰM HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ HỌC
CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM”
(VẬT LÝ 10 NÂNG CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ÐỖ XUÂN HỘI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong thời đại hiện nay, khi mà công nghệ thông tin (CNTT) phát triển vượt
bậc, các thành tựu khoa học liên tiếp nhau ra đời đã làm cho việc học và dạy học có
những đổi mới phù hợp. Mỗi cá nhân phải biết cách tự tìm kiếm nguồn thông tin
phù hợp, xử lý nguồn thông tin đó để vận dụng vào các vấn đề cụ thể. Vì vậy học và
dạy học cần có những bước chuyển m
ình theo xu hướng của thời đại mới. Để đáp
ứng cho nhu cầu của xã hội, nền giáo dục nước ta cũng đã có những biến chuyển
tích cực với những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục. Mục tiêu hàng đầu
đặt ra cho giáo dục là phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
(HS). HS sẽ là chủ, là trung tâm của quá trình nhận thức diễn ra trong mỗi tiết học.
Để làm được điều nà
y một trong những vấn đề cần phải lưu ý đến là việc tự học của
HS. HS không chỉ cần nắm bắt được nội dung kiến thức mà các em còn cần phải
biết đến phương pháp, đến cách thức tìm ra và sử dụng chúng sao cho hiệu quả
nhất. Khả năng tự học, tự tìm tòi không những quan trọng trong quá trình học tập
khi HS còn đến trường mà còn rất quan trọng trong khoảng t
hời gian về sau, khi các
em lên các cấp học trên, và nhất là khi các em đã trưởng thành.
Tuy nhiên, trong thực tế, đối với môn vật lý nói riêng, để tổ chức một giờ
học trên lớp theo định hướng mới như hiện nay mà trong đó HS giữ vai trò làm chủ
quá trình nhận thức trong tiết học đó quả thật là không dễ dàng. Thời lượng mỗi tiết
n trọng đóng vai trò cơ sở cho các chương
học sau đó, hơn thế nữa nó còn là chương học có khá nhiều ứng dụng gần gũi trong
đời sống. Tuy nhiên do vừa chuyển từ khối THCS sang khối THPT, lượng kiến thức
cần tiếp thu, các kỹ năng cần rèn luyện lúc này đối với các em HS là khá nhiều. Nếu
không c
ó sự hỗ trợ thì từ chương học này sẽ trở nên khá nặng nề đối với các em, với
các khó khăn nhất định dễ dẫn đến tình trạng HS học vẹt, học đối phó.
Bên cạnh thực trạng trên, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông
tin, các phương tiện hỗ trợ cho giáo dục cũng tăng lên mạnh mẽ. Học tập không còn
nhất thiết phải đến lớp và gặp trực tiếp với GV mà một người hoàn toàn có thể tíếp
nhận một, hoặc nhiều lớp học trực tuyến cùng lúc bằng hệ thống Internet với những
hình ảnh, â
m thanh minh họa, hỗ trợ thiết thực từ công nghệ hiện đại. Thời gian học
của người học không còn bó gọn trong thời gian bốn mươi lăm phút trong mỗi tiết
học mà nó sẽ kéo dài hơn, ở mọi lúc mọi nơi (có
hệ thống Internet) cho đến khi nào
họ cảm thấy là mình đã thực sự nắm vững kiến thức mới. Đó là hình thức học e-
learning (học tập điện tử).
Do đó, tôi nghĩ rằng rất cần thiết nên có một một lớp học vật lý trực tuyến
(LHVLTT) nhằm hỗ trợ cho việc tự học bộ môn này cho học sinh trung học phổ
thông (THPT) theo hình thức e-learning. Những thông tin được cung cấp, được trao
đổi thông qua lớp học này sẽ gi
úp cho HS cảm thấy tự tin hơn, hứng thú và thực sự
làm chủ được quá trình nhận thức trên lớp với từng tiết học vật lý theo phương pháp
mới ở trường phổ thông hiện nay. HS sẽ thật sự trở thành trung tâm của tiết học.
Hơn thế nữa, sau khi đã làm quen với cách học với sự hỗ trợ từ các thông tin trên
mạng Internet, cảm thấy hứng thú với cách học
này với các kết quả mà nó đem lại,
người học, mà cụ thể là HS vẫn có thể chủ động tự học về sau.
- Đối tượng HS đang theo học chương trình vật lý 10 Nâng cao tại trường
THPT.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của việc sử dụng CNTT trong dạy và học môn vật lý.
- Hoạt động học và tự học của HS.
- Nội dung, cấu trúc, mục tiêu, yêu cầu và các tài liệu hỗ trợ dạy và học của
chương “Động lực học chất điểm”
, thuộc chương trình vật lý 10 Nâng cao.
- LHVLTT theo hình thức dạy học e-learning và vai trò của nó trong việc hỗ
trợ hoạt động tự học của HS.
- Xây dựng cấu trúc và nội dung cụ thể LHVLTT.
- Đề xuất hướng sử dụng và phối hợp LHVLTT nhằm hỗ trợ cho quá trình tự
học của HS.
- Thực nghiệm sư phạm ở trường THP
T nhằm xác định mức độ phù hợp, tính
khả thi và hiệu quả mà đề tài đem lại.
7. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học nhằm tìm hiểu về các định hướng
đổi mới trong dạy học, cơ sở lý luận của việc tự học, giúp phát huy tính tích cực,
chủ động trong học tập của HS.
- Nghiên cứu các tài liệu về hoạt động học và tự học của HS.
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách GV, sách bài tập, và các
sách tham khảo chuyên môn để xác định nội dung và cấu trúc logic của lớp học.
- Nghiên cứu các tài liệu về hình thức học e
-learning, lớp học trực tuyến và
tác dụng của nó trong việc hỗ trợ quá trình tự học của HS.
- Nghiên cứu, tìm hiểu, lựa chọn hệ thống xây dựng LHVLTT với các chức
thức trong quá trình tự học.
- Đưa công nghệ hiện đại vào trường học, tập cho HS thói quen tự sử dụng
Internet hỗ trợ việc học tập.
- Góp phần nâng cao dần khả năng tự học, tự đánh giá, tự tìm kiếm thông tin
cần thiết cho HS.
- Góp phần nâng cao chất lượng học tập môn vật lý trong trường phổ thông.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG LỚP HỌC TRỰC TUYẾN
HỖ TRỢ QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
-
1.1. Mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Trước sự phát triển ngày càng nhanh của đất nước, để đáp ứng nhu cầu ngày
càng phong phú và đa dạng của xã hội, thực tiễn giáo dục của nước ta hiện nay đã
và đang có những bước đổi mới về tất cả các mặt. Trong đó mục tiêu giáo dục, kim
chỉ nang cho mọi hoạt động đổi mới trong dạy và học, theo điều 2 của Luật Giáo
dục có nêu “Mục tiêu giáo dục hiện na
y là đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bào
vệ Tổ quốc” [61]
Đối với giáo dục phổ thông, theo Chiến lược phát triển giáo dục 2001 –
2010, trong mục 4.
2.b về mục tiêu giáo dục phổ thông có nêu “Thực hiện giáo dục
toàn diện về trí, đức, thể, mỹ. Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có
tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ phát triển các nước trong khu vực. Xây dựng
thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; l
òng
ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc
2008-2009 trên phạm vi toàn quốc. Để có cái nhìn rõ hơn về việc ứng dụng công
nghệ thông tin và đặc biệt là về e-learning tôi xin trích một số phát biểu của ông
Quách Tuấn Ngọc trong buổi trao đổi với phóng viên như sau.
Về sự chuẩn bị của cục CN
TT, ông Tuấn Ngọc cho biết “Năm học 2008-
2009 sẽ là bước ngoặt lớn trong lịch sử Internet ở Việt Nam nói chung và trong giáo
dục nói riêng. Ngày 4/1/2008, Tổng công ty Viễn thông Quân đội Viettel đã ký văn
bản hợp tác với Cục CNTT về triển khai mạng giáo dục. Theo đó, Viettel cung cấp
dịch vụ kết nối Internet băng thông rộng, kết nối kênh thuê riêng (leased line) qua
đường cáp quang… nhằm giải quyết tình trạng học sinh, sinh viên, giáo viên là
những người cần dùng Inter
net nhất thì lại gặp khó khăn nhất do giá thành cao, do
tốc độ kết nối quá chậm”.
Khi nói về việc năm học 2008 – 2009 ứng dụng công nghệ thông tin như thế
nào, ông cũng nói rõ “Năm học ứng dụng CNTT sẽ tạo ra bước ngoặt mới về việc
làm bài giảng điện tử theo công nghệ e-learning. Trong những năm qua, Cục CNTT
đã xây dựng website e-learning để tuyên truyền phổ cập công
nghệ, nghiên cứu thử nghiệm và tuyển chọn các phần mềm e-learning thích hợp, đã
Việt hoá phần mềm mã nguồn mở Moodle và đến nay đã có khoảng 70 trường ĐH,
CĐ sử dụng. Cục CNTT sẽ tổ chức chuyển giao các phần mềm công cụ tạo bài
giảng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp với yêu cầu Việt Nam cho các Sở.
Bộ Giáo dục và đào tạo (Cục CNTT chủ trì) sẽ tổ chức cuộc thi
giáo viên
làm bài giảng điện tử theo công nghệ e-learning, giáo viên dạy giỏi ứng dụng
CNTT, nhằm mục đích khuyến khích động viên giáo viên tiếp cận công nghệ mới
cũng như chia sẻ kinh nghiệm. Khẩu hiệu của chúng ta là: Nếu mỗi giáo viên góp
mỗi năm 1 bài giảng e-learning, chúng ta sẽ có 1 triệu bài giảng điện tử trong 1 năm
và nếu bài giảng đó soạn thêm bằng tiếng Anh, c
húng ta có thể chia sẻ với bạn bè
sử dụng khá rộng rãi trong dạy học như một phương tiện dạy học hiện đại và hiệu
quả.
1.2.2.1. Máy vi tính đóng vai trò làm phương tiện dạy học
Hiệu quả mà MVT đem lại cho hoạt động dạy và học, cụ thể là dạy và học
m
ôn vật lý là nhờ vào một số chức năng nổi bật sau :
Chức năng lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin
MVT có khả năng lưu trữ và hiển thị lại một lượng thông tin khá lớn dưới
nhiều hình thức khác nhau từ đơn giản như văn bản, hình ảnh, âm thanh, … cho đến
những hình thức phức tạp hơn như video, hoạt hình. Khả năng xử lý thông tin nhanh
chóng của MVT đã đem lại sự tiện lợi, nha
nh chóng cho người dùng. MVT cùng
với những phần mềm hỗ trợ tích cực có thể giúp cho GV tạo ra những bài giảng đa
dạng, sinh động thu hút sự tập trung của người học. [17]
Chức năng điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra và luyện tập
Việc học tập trên MVT có tính cá biệt khá cao. Người học có khả năng tự
chọn, tự điều chỉnh thời gian học, nội dung học theo trình độ và khả năng của bản
thân. Người học còn có thể lặp lại quá trình học tập một nội dung cụ thể vô số lần
tùy thích. Hơn thế nữa, với sự phát triển nhanh chóng của các phần mềm phục vụ
cho nhu cầu của người dùng cùng với khả năng lưu trữ khá lớn, MV
T có khả năng
lưu trữ kết quả học tập của người học để từ đó kịp thời đưa ra những thông tin phản
hồi giúp cho người học kiểm tra lại kiến thức, tự điều chỉnh quá trình học tập của
bản thân.[14]
Chức năng minh hoạ, trực quan hoá bằng mô phỏng
Đối với quá trình dạy học môn vật lý nói riêng và các môn học khác nói
chung, muốn cho HS hiểu vấn đề một cách sâu sắc thì phải xây dựng các khái niệm,
các thuyết, các định luật từ sự quan sát trực tiếp. Tuy nhiên, trong điều kiện cơ sở
vật chất còn hạn c
liệu, phần mềm phục vụ cho việc dạy và học, giải trí. Các nhà kinh doanh thì sử
dụng Internet như một p
hương tiện quảng cáo, giao dịch thương mại, mua bán hàng
hóa. [16]
Một trong những yếu tố cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn vật
lý là việc tìm kiếm nguồn thông tin, tư liệu, hình ảnh, phần mềm phù hợp để bổ
sung, mở rộng những nội dung được đề cập đến trong SGK. Internet chính là nguồn
tư liệu vô tận cho GV và HS.
Hiện nay, mọi loại thông tin, dữ liệu âm
thanh hình ảnh đều có thể chuyển về
dạng kỹ thuật số để các máy tính lưu trữ, xử lý và gửi chuyển tiếp cho nhiều người.
Internet chính là hệ thống mạng thông tin của MVT được liên kết với nhau trên
phạm vi toàn thế giới, nhờ đó người sử dụng có thể liên lạc với nhau để trao đổi,
dùng chung, khai thác các thông tin trên mạng.
Về dung lượng thông tin
Hiện nay Internet đã trở thành kho thông ti
n khổng lồ và phong phú nhất
trong lịch sử nhân loại với hàng trăm triệu các website liên quan đến tất cả các lĩnh
vực trong đời sống của con người. Số website cùng với lượng kiến thức mà nó cung
cấp đang ngày càng tăng lên nhanh chóng bởi khả năng chia sẻ gần như tuyệt đối
của Internet. [17]
Về khả năng truy cập
Ngoại trừ một số ít thông tin được bảo vệ thì bất kì người dùng nào sử dụng
Internet dù đang ở đâu đều c
ó thể truy cập được các thông tin có trên Internet. Với
một MVT được nối mạng Internet là người dùng đã có cơ hội tiếp xúc với một kho
tàng kiến thức đồ sộ của nhân loại. [17]
em cần biết cách đánh giá, lựa chọn những thông tin phù hợp.
HS có thể tận dụng được những hiệu quả mà phương pháp dạy học có sự hỗ
trợ của CNTT đem lại hay không là tùy thuộc vào khả năng đánh giá, lựa chọn và
xử lí các thông tin mà các em được cung cấp, mà cụ thể trong luận văn này chính là
nguồn thông tin được đưa lên sẵn trên lớp học trực vật lý trực tuyến. Để làm rõ điều
này, ta tiếp tục tìm hiểu về sự phát triển trí tuệ và hoạt động học tập của HS
THPT,
là đối tượng mà đề tài hướng đến.
1.3. Sự phát triển trí tuệ và hoạt động học tập của HS THPT [15]
Bước vào năm đầu cấp THPT cũng là lúc đồng thời HS phải tiếp nhận nhiều
sự thay đổi mới mẻ. Sự thay đổi bắt nguồn từ chính bản thân các em, từ lứa tuổi
thiếu niên bước sang giai đoạn thanh niên, cho đến các điều kiện học tập, xã hội đều
gây ảnh hưởng đối với sự phát triển và hoà
n thiện nhân cách của mỗi cá nhân.
1.3.1. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ ở HS THPT
Lứa tuổi HS THPT, tuổi thanh niên mới lớn, tính chủ định được phát triển
mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Tri giác có mục đích đã đạt đến mức cao.
Quan sát trở nên có hệ thống và toàn diện hơn.
Ở lứa tuổi này, ghi nhớ chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ,
đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt.
Các em không còn học vẹt, học thuộc lòng một cách
máy móc mà đã biết cách sử
dụng các phương pháp ghi nhớ như tóm tắt ý chính, so sánh, đối chiếu, … Đặc biệt
hơn so với lứa tuổi THCS là các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ.
Các em bước đầu biết được tài liệu nào cần nhớ từng câu, từng c
hữ, nội dung nào
chỉ cần hiểu mà không cần nhớ.
Sự phát triển của cấu trúc, chức năng não, hoạt động tư duy của HS trong
này, điều có ý nghĩa nhất đối với các em là động cơ thực tiễn (ý nghĩa thực tiễn của
m
ôn học đối với cá nhân, khả năng tiếp thu môn học của các em), động cơ nhận
thức, sau đó là ý nghĩa xã hội của môn học.
Tuy vậy, hiện nay số HS, nhất là HS đầu cấp THPT, đạt được mức tư duy
đặc trưng c
ho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều. Nhiều khi các em chưa chú ý phát
huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm
tính. Để phát triển năng lực nhận thức của các em cần có sự hướng dẫn khoa học
của GV. Sự hướng dẫn, hỗ trợ này không chỉ giới hạn ở thời gian trên lớp, mà cần
biết cách tận dụng mọi khoảng thời gian để hướng các em đến việc phát huy năng
lực, nâng cao hơn nữa hiệu quả học tập.
Với các đặc điểm về sự phát triển trí tuệ và hoạt động học tập của HS THPT
thì đây là lứa tuổi khá phù hợp để hướng dẫn các em cách tự học dưới sự hỗ trợ của
lớp học trực tuyến.
Vậy hoạt động học và tự học của
HS là gì? Những điều kiện nào là cần thiết
cho việc tự học? Vai trò của GV trong việc hướng dẫn HS tự học là gì?
1.4. Hoạt động học và tự học của HS
1.4.
1. Tìm hiểu về hoạt động học tập của học sinh
1.4.
1.1. Hoạt động học tập ([27], [38])
Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của người dạy (người thầy,
GV), người học (HS) tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ mô
i
trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và tay chân, nhằm hình thành cấu trúc
tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng hoàn thiện hơn.
với những người khác thực hiện các quyết định cần thiết để đáp ứng các nhu cầu
của người học. Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể
tự thể hiện và biến đổi m
ình, tự làm phong phú giá trị con người mình bằng cách
thu nhận và xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình. [65]
Tự học có thể xem là một hướng cho giáo dục, tuyệt đối không phải là một
tiêu chuẩn. Quá trình tự học có thể diễn ra với các hình thức khác nhau tuỳ thuộc
vào các HS khác nhau và nó cũng thay đổi theo chủ đề mà HS quan tâm cũng như
khả năng của HS đối với môn học. [65]
Hiệu quả của hoạt động tự học có thể thấy qua sơ đồ lưu giữ thông tin trong
trí nhớ của HS như sau [24]
Lời nói
Hình ảnh
Lời và hình
Lời, hì
nh và hành động
Tự phát hiện
99%
90%
80%
60%
Sau 3 giờ
30%
90%
80%
70%
10%
20%
Sau 3 ngày
Thực hà
nh
Thảo luận nhóm
Thuyết minh
Nghe -nhìn
Nghe
Dạy các hữu ích khác/ trực tiếp của việc học tập
Đọc
5 %
10 %
20 %
30 %
50 %
75 %
90 %
- Tăng dần
hoạt động và
độ khó nhiệm
vụ cho HS
- Kinh nghiệm
được tăng
thêm trong quá
trình thực hành
HS
chấp
nhận
thông
tin
nghiệm trong quá trình tự học sẽ giúp cho kết quả học tập tăng lê
n rất nhiều.
1.4.2. Phân loại hoạt động tự học
Như phân tích ở trên mọi hoạt động học suy cho cùng vẫn là tự học, sự phân
loại hoạt động học dưới đây chỉ dựa vào cách thức tương tác giữa người học - HS
và người thầy - GV.
1.4.2.1. Học trực tiếp (giáp mặt, face to face) với GV [20]
Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn, hình thức học trực tiếp với GV là hình thức
học
mà HS và GV giáp mặt nhau trên lớp. GV truyền thụ kiến thức cho HS và dẫn
giải cả cách tư duy để đi đến kiến thức, giáo dục cho HS những phẩm chất cần có để
thắng các lực cản trong quá trình học tập.
Với cách học này, ta có thể nhận thấy rằng với sự hướng dẫn trực tiếp của
GV, HS có thể tiếp thu một cách nhanh và chính xác nhất một dung lượng kiến thức
đáng kể. K
hi nghe GV giảng, HS có gì không hiểu có thể hỏi ngay để GV giảng lại
kỹ hơn. Toàn bộ nhân cách của người GV sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến HS. Chỉ cần
một cái gật đầu, một nụ cười hay một cử chỉ tán đồng cũng có thể khuyến khích HS
trở nên tự tin và hứng khởi thêm rất nhiều.
Tuy nhiên, cách học giáp mặt với GV cũng có những khuyết điểm ảnh hưởng
đến hiệu quả học tập của HS.
Nếu lớp học đông, trong một tiết học, GV rất khó trả lời hết tất cả các thắc
mắc của HS. Trình độ các HS chênh lệch nhau, GV việc dạy thế nào cho vừa sức
học của từng H
S cũng không phải dễ dàng. Lúc này ta thường thấy có tình trạng
những HS khá giỏi thì trở nên rất tự tin hơn rất nhiều và đôi khi c
òn trở nên khá tự
phụ, còn những HS yếu kém sẽ càng trở nên rụt rè, nhút nhát. Nếu HS không biết
cách mạnh dạn tự tìm đến câu trả lời bằng cách nguồn tư liệu khác như sách giáo
túng trong quá trình tự tìm hiểu vấn đề. Giúp HS chọn lọc những kiến thức cần thiết
và phù hợp với khả năng của mỗi HS. Sự dẫn dắt, gợi ý, định hướng từ phía GV sẽ
giúp cho HS khám phá và nắm bắt kiến thức một cách hợp lý và nhanh c
hóng.
Sự hướng dẫn này chỉ dừng ở việc gợi ý, định hướng chỉ đạo chứ không đi
sâu vào giảng giải, chỉ dẫn cụ thể các vấn đề, do đó tuy rút ngắn bớt thời gian các
em tìm tòi nhưng vẫn có thể giúp các em rèn luyện và hình thành tác phong làm
việc độc lập. HS biết cách tự tìm đến các nguồn tài liệu tham khảo trước khi tìm đến
sự giải đáp của GV. Bên cạnh đó, sự xác nhận, khẳng định tính đúng đắn, chân thật
của một vấn đề sẽ tạo niềm
tin khoa học vững chắc cho HS. [20]
b. Tự học hoàn toàn
Tự học hoàn toàn là hình thức học cần đạt đến để có thể học suốt đời. Người
học mà cụ thể ở đây là HS sẽ tự tiến hành hoạt động của mình bằng ý chí và năng
lực trí tuệ, bằng vốn kinh nghiệm
cá nhân, mà không hề có được bất kỳ sự hướng
dẫn bên ngoài nào, nhằm thay đổi chính bản thân mình.
Tự học hoàn toàn giúp HS rèn luyện óc sáng tạo, học được tính tự tin, tính
vượt khó và tính kiên trì khi gặp phải các vấn đề phức tạp.
Bên cạnh đó, tự học hoàn toàn cũng tồn tại một số nhược điểm. Hình thức
học này sẽ mất khá nhiều thời gian do thiếu sự hướng dẫn từ người thầy.
Do thiếu
đối tượng để so sánh, người học lại dễ tự mãn với những gì mình có. Và một nhược
điểm lớn nhất là do tự học hoàn toàn nên người học có thể hiểu lệch vấn đề dẫn đến
sai lầm về nhận thức. [20]
Với đối tượng nghiên cứu là HS THPT với các đặc điểm về hoạt động học
tập và sự phát triển trí tuệ của các em, tôi chủ trương hướng đến nghiê
n cứu về hoạt
Hoạt động tự học là hoạt động đòi hỏi nhiều nỗ lực, sự chuyên cần, sự ham
thích của chủ thể. Để đáp ứng được điều này, cần có những điều kiện thiết yếu như :
giúp H
S nhận thức về tầm quan trọng của tự học, tạo cho HS động lực học tập, cung
cấp, hướng dẫn HS tìm đến tài liệu học tập.
Nhận thức về tầm quan trọng của việc học
Hành động là kết quả của nhận thức. Nhận thức đúng dẫn đến hành động
đúng. HS chỉ có thể tiến hà
nh tự học khi nhận thức được tầm quan trọng của tự học.
Để nâng cao nhận thức của HS về tầm quan trọng của tự học, GV phải là người
thường xuyên giáo dục các em về mục đích của tự học thông qua các hoạt động:
Giao công việc cụ thể cho từng cá nhân và từng nhóm