đặt vấn đề
Việt Nam hiện nay có khoảng 17 triệu trẻ vị thành niên trong độ tuổi từ
10-19, chiếm khoảng 22% dân số [5]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lứa
tuổi vị thành niên bắt đầu từ 10-19 tuổi. Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em
thành ngời lớn. Nó đợc đánh dấu bằng những thay đổi đan xen nhau về thể
chất, trí tuệ, và mối quan hệ xã hội từ giản đơn chuyển sang phức tạp [14].
Cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế-xã hội, khoa
học kỹ thuật, vị thành niên ngày nay có nhiều điều kiện để học tập và phát
triển hoàn thiện cá nhân. Tuy nhiên, trẻ vị thành niên cũng phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn, thách thức: chịu sức ép lớn về việc học tập và dự kiến tơng lai
từ gia đình, nhà trờng và xã hội; có quá nhiều thông tin nhng thiếu sự chọn
lọc do đó dễ nhận đợc những thông tin sai lệch hoặc không phù hợp lứa tuổi,
khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và dễ bị lôi kéo bởi quá nhiều các tệ
nạn xã hội [5]. Những khó khăn, thách thức này là những yếu tố nguy cơ dễ
làm trẻ gặp phải những vấn đề sức khoẻ.
Khác với các thời kỳ khác, ở lứa tuổi này, trẻ rất nhạy cảm, tò mò nên dễ
bị bạn bè hoặc ngời khác lôi kéo. Từ đó, ở trẻ sẽ hình thành một số thói quen
không tốt nh hút thuốc lá, uống rợu bia Thêm vào đó, cuộc sống hiện đại
với những điều kiện vật chất đầy đủ khiến nhiều trẻ có lối sống tĩnh tại lời
hoạt động dẫn tới nhiều bệnh tật nh béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đờng, ung
th
ở nớc ta, các nghiên cứu về lứa tuổi vị thành niên nói chung còn cha
nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu về những hành vi nguy cơ đối với sức
khoẻ lứa tuổi vị thành niên.
Hiện nay, có rất nhiều hành vi nguy cơ đối với sức khoẻ lứa tuổi vị thành
niên, tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ xin tiến hành khảo
sát một số yếu tố hành vi nguy cơ đến sức khoẻ lứa tuổi vị thành niên nh hút
1
thuốc lá, uống rợu/bia và hoạt động thể lực tại 4 xã/phờng ở Hà Nội: Cầu Dền,
Bạch Đằng, Phạm Đình Hổ và Xuân Đỉnh. Tên đề tài nghiên cứu là Mô tả
một số yếu tố hành vi nguy cơ đến sức khoẻ lứa tuổi vị thành niên ở một số
ớc ngời lớn của mỗi cá thể. Trong độ tuổi này, con ngời có nhiều sự thay đổi
về tâm lý, thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội cũng nh trong gia đình.
Những thay đổi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh gia đình, môi trờng tự
nhiên và xã hội, dân tộc, tập quán
ở các nớc đang phát triển, thời kỳ VTN không hoàn toàn đợc thừa nhận
và chú ý. Khác hẳn với những nớc này, ở các nớc phát triển, ngời ta thừa nhận
giai đoạn sau trẻ con và trớc ngời lớn của quá trình phát triển cá thể đó là giai
đoạn vị thành niên. Chính sự thừa nhận này đã dẫn tới việc xây dựng những
chính sách quan tâm giáo dục cho một con ngời sắp bớc vào tuổi trởng thành
sao cho họ có đủ kiến thức-nhân cách phù hợp với sự đòi hỏi của xã hội [14],
[19], [20].
4
Theo WHO, lứa tuổi VTN kéo dài trong khoảng từ 10 đến 19 tuổi. Ngời
ta chia tuổi vị thành niên thành 3 giai đoạn: giai đoạn sớm (từ 10 14/15
tuổi), giai đoạn giữa (14/15 17 tuổi) và giai đoạn muộn (từ 18 19 tuổi)
[5]. Căn cứ vào thực tế tình hình Việt Nam, Vụ Sức khoẻ sinh sản Bộ Y tế
(trớc đây là Vụ Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình thuộc
Bộ Y tế) đã đa ra đề nghị xếp tuổi VTN thành hai nhóm tuổi: nhóm 1 từ 10
đến 14 tuổi, nhóm 2 từ 15 đến 19 tuổi [20].
Thời kỳ VTN đợc đặc trng bởi sự phát triển rất nhanh cả về trí tuệ và thể
lực. Giai đoạn này tốc độ phát triển chỉ kém tốc độ phát triển của bào thai và
những tháng đầu của trẻ em mà thôi. Trong thời kỳ này, hệ cơ và hệ xơng phát
triển nhanh chủ yếu về chiều dài của cơ, xơng. Từ 15 đến 17 tuổi, chiều cao
của VTN tăng trung bình 5 6 cm/năm, sang đến tuổi 18 chiều cao chỉ tăng
khoảng 2 3 cm. Các kích thớc Nhân trắc học cho thấy về chiều ngang và
cân nặng của trẻ VTN cũng có tăng nhng không tăng nhanh bằng chiều cao.
Ngời ta cho rằng 25% chiều cao có đợc của con ngời đạt đợc ở lứa tuổi VTN,
kết thúc tuổi dậy thì cũng là lúc kết thúc tăng trởng về chiều cao [14], [22]. Cơ
bắp ở tuổi 17 18 cũng bắt đầu nở nang và tăng thêm về sức mạnh của cơ
[21].
tố tâm lý cha đợc hình thành vững chắc, quan điểm sống, thế giới quan cha đ-
ợc rõ ràng, mà đặc trng cơ bản là sự mâu thuẫn trong nội dung tâm lý giữa
một bên là tính chất quá độ không còn là trẻ con, nhng cũng cha phải là ngời
lớn và một bên là ý thức về bản thân phát triển mạnh mẽ, có ý nghĩ cho
mình là ngời lớn và đòi hỏi phải đợc đối xử nh ngời lớn [16]. Vì vậy, khi tiếp
cận và giải quyết những vấn đề của lứa tuổi VTN không thể không xem xét
trong tổng thể bối cảnh chung, cũng nh xem xét đến những đặc thù riêng của
6
lứa tuổi và đặc thù riêng của từng miền, từng nền văn hoá, điều kiện kinh tế xã
hội khác nhau.
Nhìn chung về tâm lý ở tất cả mọi nơi, tuổi VTN có 5 lĩnh vực biểu hiện
cần đợc quan tâm trong quá trình tiếp cận đánh giá và giải quyết những vấn
đề của VTN:
- Lứa tuổi VTN luôn muốn thoát ra khỏi sự kiểm soát của gia đình để
hoà vào cộng đồng bạn bè hoặc tín ngỡng, nhằm đạt đợc sự độc lập. Sự thay
đổi dễ kèm theo những hành động bất trị.
- Cố gắng tự khẳng định mình và cố gắng đạt đợc những điều mình
muốn. Nhân cách giới tính cũng đợc phát triển.
- Cố gắng học cách biểu lộ cảm xúc. Là giai đoạn chuẩn bị cho mối
quan hệ nam - nữ, thân mật hơn trong quan hệ, phát triển khả năng muốn yêu
và muốn đợc yêu.
- Tích hợp các vấn đề thu nhận đợc từ cuộc sống, từ các mối quan hệ
bạn bè, ngời trung gian, tổ chức thanh niên từ đó xây dựng những cơ sở tạo
ra các quy định mới của giá trị.
- T duy và trí tuệ phát triển, tiếp thu cái mới một cách nhanh nhậy. Tuy
nhiên sự phân tích đúng sai, phải trái còn cha có nhiều kinh nghiệm. Những
thay đồi tâm, sinh lý cũng có khi làm cho vị thành niên dễ bị phân tán t tởng
không tập trung cho việc học tập [6].
Thông thờng, trẻ VTN rất ít ốm đau, mà nếu có bị ốm thì thờng khỏi rất
nhanh chóng. Chính vì thế, các chơng trình chăm sóc sức khoẻ không đợc đầu
1.2.1 Hút thuốc lá
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,25 tỉ ngời hút thuốc lá [24]. Theo ớc
tính, đến cuối năm 2005, con số này sẽ tăng lên 1,6 tỉ.
8
ở một số nớc phát triển, số ngời hút thuốc lá đang có chiều hớng giảm
xuống trong vài ba thập kỷ gần đây. Trái lại, ở các nớc đang phát triển, con số
này lại tăng lên đến mức chóng mặt. Cùng với xu thế toàn cầu hoá, tự do th-
ơng mại trong lu thông, phân phối các sản phẩm thuốc lá giữa các nớc cũng
làm tăng số ngời hút thuốc lá lên rất nhiều (WHO). 50% thuốc lá sản xuất ra
đợc tiêu thụ tại châu á [27] .
Tại Việt Nam, tình hình hút thuốc lá đã đến mức báo động. Theo WHO,
hơn 70% nam giới và gần 5% nữ giới Việt Nam thờng xuyên hút thuốc [39].
Ngày nay, thanh thiếu niên có xu hớng hút thuốc lá từ rất sớm ngay cả khi họ
đã đợc cung cấp các thông tin về tác hại của thuốc lá. ở nớc ta, có khoảng
50% nam giới trong độ tuổi 18-19 hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc; tuổi
trung bình bát đầu hút là 20, có trờng hợp bắt đầu hút thuốc từ lúc lên 5 tuổi.
Trẻ nghiện do ngời lớn, trẻ lớn hơn tập cho hoặc bắt các em mồi thuốc, mua
thuốc [24].
Theo Bộ y tế, khoảng 30% học sinh phổ thông tại Việt Nam hút thuốc,
và 1,6% trong số này hút hơn một bao thuốc một ngày [34].
Nghiên cứu của Trung tâm truyền thông giáo dục sức khoẻ về hành vi có
hại của học sinh cấp 3 các quận nội thành tại thành phố Hồ Chí Minh năm
2003 cho thấy tỉ lệ các em học sinh nam đang hút thuốc là 27,8%; đã từng hút
thuốc 43,5%. Ngoài ra, còn có đến 3,6% các em nữ trung học phổ thông hút
thuốc [24].
Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nớc phơng Tây.
Tại úc, đây là nguyên nhân dẫn tới các bệnh ung th, tim mạch và hô hấp [3].
Còn ở ấn Độ, mỗi năm có gần 1 triệu ngời chết vì mắc phải những bệnh do
thuốc lá gây ra, nghĩa là cứ 40 giây có một ngời dân ấn Độ chết vì thuốc lá
[4].Tại Trung Quốc, ngời ta dự đoán đến năm 2020-2030 sẽ có từ 1 -2 triệu
trung tâm điều trị bệnh phổi cho thấy số ca bệnh phổi ở những ngời trên 30
tuổi tại Việt Nam là 6,7% (khoảng 1,9 triệu ngời) chiếm tỉ lệ cao nhất châu á
[38].
Chính vì mối nguy hại rất lớn của việc hút thuốc lá đối với sức khoẻ nh
vậy nên trên thế giới, chính phủ các quốc gia và WHO đã đa ra rất nhiều biện
pháp nhằm ngăn chặn sự gia tăng của việc sản xuất thuốc lá và hút thuốc lá:
Cô oét có luật về hút thuốc lá.
Hàn Quốc đã đa ra đạo luật về bảo vệ sức khoẻ từ năm 1995, trong đó
nói rất rõ về tác hại của thuốc lá.
Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton đã đa ra nhiều những đề nghị rất cụ
thể về việc cấm hút thuốc lá trong xã hội Mỹ khi ông còn đang nắm
quyền.
Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, khi nhận huân chơng nhân ngày
31/5- ngày toàn thế giới không hút thuốc lá, đã nói: Thuốc lá là thách
thức gay cấn nhất cho sức khoẻ cộng đồng ở thời đại chúng ta [3].
ở Việt Nam, ngay từ năm 1989 trong Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân,
Nhà nớc đã ban hành qui định cấm hút thuốc lá trong phòng họp, rạp chiếu
bóng, rạp hát và những nơi công cộng khác [10].
Từ năm 1990 đến nay, sau hội thảo lần thứ nhất về phòng chống tác hại
của thuốc lá, Nhà nớc đã tiếp tục xây dựng một số văn bản dới luật để tạo ra
hành lang pháp lý giúp cho công tác phòng chống tác hại của thuốc lá nh: Chỉ
thị 278 C/P ngày 3/8/1990 của Thủ tớng chính phủ về cấm nhập thuốc lá
ngoại, Nghị định 56 C/P ngày 28/8/1993 đã có qui định về thuế suất thuốc lá
từ 32%-70% [24].
Điều lệ Vệ sinh ngày 24/11/1991 nêu rõ: Cấm hút thuốc lá trong nhà
trẻ, bệnh viện, phòng họp, trong các rạp chiếu phim, trên xe buýt, máy bay và
11
nơi tập trung đông ngời [3], [4]. , nhng tình trạng hút thuốc lá trong ngời
dân qua các công trình nghiên cứu của Phạm Khắc Quảng, Nguyễn Việt Cồ,
Hoàng Long Phát, Phạm Gia Khải, Trần Văn Dần đã cảnh báo rằng: tình
30% vào khoa nội và 80% vào khoa bỏng [14].
Trẻ VTN uống nhiều rợu thờng học kém, thiếu tập trung, giảm chú ý do
rợu tác dụng vào vùng vỏ não ở thuỳ trán và vùng hồi hải mã [7].
Phân tích về các hành vi nguy cơ ảnh hởng sức khoẻ vị thành niên cho
thấy, trẻ VTN có sử dụng rợu có xu hớng hoạt động tình dục sớm gấp 7 lần so
với những trẻ không uống rợu. Cũng theo một nghiên cứu ở Mỹ, 40,7% sinh
viên nam và 27,8% sinh viên nữ bắt đầu có quan hệ tình dục khi có sử dụng
các thứ đồ uống có cồn [35].
Theo thống kê năm 2000 ở Mỹ, có tới 3,1 triệu ngời bắt đầu uống bia từ
lúc 17 tuổi hoặc trẻ hơn, với tuổi trung bình là 12 [14]. Hơn 1/3 sinh viên đại
học những năm cuối cho biết có uống 5 cốc rợu hoặc nhiều hơn liên tiếp trong
thời gian 2 tuần trớc khi đợc phỏng vấn, 5% uống rợu hàng ngày.
Tại châu á, các báo cáo về tình hình sử dụng rợu trong lứa tuổi VTN
cũng có rất nhiều. Lứa tuổi trung bình bắt đầu sử dụng rợu ở Nhật Bản là từ 13
đến 17 tuổi [26]. Còn tại Hàn Quốc, tỉ lệ trẻ VTN uống rợu, bia là 43%, trong
đó trẻ trai có xu hớng lạm dụng rợu, bia nhiều hơn trẻ gái [32].
Tại Trung Quốc, một cuộc điều tra 1040 học sinh từ các lớp 6, 8 và 10
cho thấy có tới 70% các em hiện hoặc đã từng sử dụng rợu [33]. Trẻ trai có xu
hớng uống nhiều rợu bia hơn trẻ gái, mặc dù vậy tỉ lệ trẻ gái sử dụng rợu cũng
đã chiếm tới 54,9%. Còn tại Thái Lan, các nghiên cứu về việc lạm dụng rợu
13
mới chỉ tập trung vào trẻ VTN lớn và chỉ có một số nghiên cứu về mối liên
quan giữa việc sử dụng rợu và các hành vi có nguy cơ nhiễm HIV [26].
ở nớc ta, cũng còn có quá ít các thông tin về việc sử dụng rợu trong
thanh thiếu niên. Các buổi khám t vấn về các bệnh lây truyền qua đờng tình
dục và mối liên quan với các đồ uống có cồn thờng chỉ có ngời lớn tham dự -
dù rằng ở nớc ta, cụm từ bia ôm, chỉ sự liên hệ giữa uống rợu bia với các
hành vi tình dục, cũng đã phổ biến từ khá lâu và rất quen thuộc với mỗi ngời
dân.
Theo điều tra Y tế Quốc gia năm 2001-2002 của Bộ Y tế, tỷ lệ nam giới
Đứng về góc độ sinh học, lứa tuổi VTN là giai đoạn chuyển tiếp rất quan
trọng, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển đầy đủ của cơ thể. Lứa tuổi VTN là
thời kỳ phát triển nhanh về cân nặng cũng nh chiều cao, cả về cơ bắp cũng nh
dữ trữ mỡ vì vậy ngoài việc duy trì một chế độ dinh dỡng hợp lý thì một chế
độ rèn luyện thân thể phù hợp đóng vai trò hết sức quan trọng [16].
ở Việt Nam, các nghiên cứu về lứa tuổi học đờng cũng đã có rất nhiều
trong những năm gần đây. Nghiên cứu của Trần Văn Dần và cộng sự về sự
phát triển thể lực của học sinh 8-14 tuổi trên một số vùng dân c miền Bắc thập
kỷ 90 cho thấy có sự gia tăng về chiều cao của cả học sinh thành phố và nông
thôn, cân nặng gia tăng rõ ở trẻ em thành phố [2].
Chế độ tập luyện góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo cho trẻ vị thành
niên có một sức khoẻ tốt. Theo báo cáo của Bộ Y tế 11/2003, VTN ở tuổi 15
của Việt Nam cao trung bình 155cm, nặng trung bình 40,9kg tuy đã cải thiện
nhng vẫn thấp hơn tiêu chuẩn của WHO (169cm và 56kg) [1]. Một chế độ tập
luyện tốt sẽ góp một phần đáng kể trong việc cải thiện chiều cao và cân nặng
15
trung bình của trẻ VTN nớc ta, đồng thời cũng sẽ làm giảm bớt đi tỉ lệ béo phì
đang ngày càng gia tăng.
Điều tra Y tế Quốc gia 2001-1002 cho thấy tỷ lệ ngời từ 15 tuổi trở lên
có tập thể dục thể thao là 34,9% (bao gồm cả những ngời tập rất ít). Khoảng
một nửa trong số này tập luyện thờng xuyên (từ 5-7 ngày/tuần và mỗi ngày tập
từ 10 phút trở lên) [1].
Theo các nghiên cứu của Trần Văn Dần và cộng sự (2001), tỷ lệ số ngời
tập thể dục cao nhất tập trung ở nhóm tuổi từ 10-19, sau đó tỷ lệ này giảm
mạnh ở nhóm tuổi 30-34. ở tất cả các nhóm tuổi, tỷ lệ nam giới tập thể dục
nhiều hơn nữ giới.
Bên cạnh yếu tố tuổi và giới, mức sống cũng góp một đáng kể vào việc
làm thay đổi tỷ lệ tập thể dục. Mức sống càng cao, tỷ lệ tập thể dục nói chung
và tập thể dục thờng xuyên tăng lên đối với cả nam và nữ.
Các kết quả của điều tra Y tế quốc gia năm 2001-2002 của Trần Văn
Phờng Phạm Đình Hổ thuộc quận Hai Bà Trng là nơi tập trung các tầng
lớp lao động trí thức khá đông đảo nh bác sĩ, công an, kỹ s;
Phờng Cầu Dền thuộc quận Hai Bà Trng là một phờng buôn bán với
các hộ kinh doanh nhỏ và vừa;
Phờng Bạch Đằng thuộc quận Hai Bà Trng là một phờng ở bờ sông- nơi
điều kiện dân c khá phức tạp
Xã Xuân Đỉnh thuộc huyện Từ Liêm là một xã ven đô ngoại thành Hà
Nội- nơi đời sống ngời dân đang đi lên nhờ vào hoạt động kinh doanh
đất đai.
Việc lựa chọn này là để phần nào phản ánh đợc tính chất khách quan của
nghiên cứu.
2.3 Phơng pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Sử dụng kỹ thuật định lợng, phỏng vấn các đối tợng theo bộ câu hỏi đã
đợc thiết kế sẵn.
2.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu:
18
áp dụng công thức tính cỡ mẫu mô tả so sánh sau:
pq
n = Z
2
(
(1-
/2
)
d
2
Trong đó:
Điều tra thử lần 1 (từ 10-14/2/2004): lấy ngẫu nhiên mỗi phờng 30 trẻ
VTN, tổng số 4 phờng/xã là 120 trẻ VTN. Tiến hành:
Phỏng vấn nhóm (mỗi nhóm khoảng 5-6 trẻ VTN): xác định nội
dung câu hỏi có phù hợp hay không.
Phỏng vấn cá nhân: xem cấu trúc câu hỏi có dễ hiểu hay không
dựa trên nghiên cứu định tính trớc đó.
Chỉnh sửa bộ câu hỏi (từ 17/2 -17/3/2004)
Điều tra thử lần 2. (từ 21 - 24/3/2004): lấy ngẫu nhiên mỗi phờng 10
trẻ VTN, tổng số 4 phờng/xã là 40 trẻ VTN. Tiến hành:
Phỏng vấn nhóm (mỗi nhóm khoảng 3- 4 trẻ VTN): xác định nội
dung câu hỏi đã phù hợp hay cha.
Phỏng vấn cá nhân: xem cấu trúc câu hỏi có dễ hiểu hay không
dựa trên nghiên cứu định tính trớc đó.
Hoàn thiện bộ câu hỏi (từ 25/3 - 7/4/2004).
2.3.4. Tiến hành thu thập thông tin (10/4/2004 5/6/2004)
Thông báo danh sách những trẻ VTN đợc chọn vào nghiên cứu.
Tiếp xúc với trẻ VTN theo lịch hẹn trớc (có cộng tác viên dẫn đờng).
Giới thiệu nội dung nghiên cứu.
Lấy ý kiến đồng ý tham gia vào nghiên cứu của trẻ VTN và cha mẹ trẻ
VTN.
20
Xác lập mã hộ gia đình và mã VTN.
Tiến hành phỏng vấn cha mẹ VTN theo bộ câu hỏi có sẵn.
Tiến hành phỏng vấn VTN theo bộ câu hỏi có sẵn sau khi hoàn thành
phỏng vấn cha mẹ VTN.
2.3.5 Phơng pháp xử lý số liệu
Sử dụng chơng trình phần mềm EPI INFO 6.02 của Tổ chức Y tế
thế giới (WHO) để nhập số liệu; dùng chơng trình phần mềm Stata
Transfer 5 để chuyển toàn bộ phần số liệu đã nhập trên chơng trình
EPI INFO 6.02 sang chơng trình STATA 7.0 và phân tích số liệu
Mục đích của nghiên cứu đợc thông báo cho cha mẹ và bản thân VTN
biết.
Cuộc phỏng vấn đợc tiến hành sau khi đợc sự đồng ý của cha mẹ và
bản thân VTN, những VTN nào không đồng ý hay không đợc sự đồng
ý của cha mẹ cho tham gia vào cuộc phỏng vấn thì chúng tôi không
phỏng vấn trẻ VTN đó.
Giải thích cho đối tợng hiểu mục đích của nghiên cứu để có đợc sự
cộng tác cao.
Bộ phiếu đợc đánh mã số để đảm bảo tính bí mật của thông tin.
Trang bìa của phiếu điều tra (có ghi thông tin về hộ gia đình nh họ tên
cha mẹ trẻ VTN, họ tên trẻ VTN và địa chỉ nơi ở) sẽ đợc tách ra khỏi
phiếu điều tra trớc khi nhập số liệu.
Trong quá trình phỏng vấn, chúng tôi luôn sẵn sàng t vấn những vấn đề
liên quan.
2.4 Nội dung nghiên cứu.
2.4.1 Đặc điểm cơ bản của đối tợng nghiên cứu
Mô tả thông tin về đối tợng nghiên cứu:
Số lợng, phân chia độ tuổi, giới.
22
Trình độ học vấn của đối tợng nghiên cứu.
Các thông tin về gia đình.
2.4.2 Các hành vi nguy cơ đợc chọn để nghiên cứu
Thói quen hút thuốc lá
Thói quen uống rợu/bia
Thói quen tập luyện
Mối liên quan giữa các yếu tố hành vi nguy cơ với yếu tố gia đình và
xã hội.
23
CHƯƠNG 3
Kết quả nghiên cứu
VTN(10-14) VTN(15-19) Chung
n % n % N %
Đã nghỉ học 1 0,38 12 5,77 13 2,69
Đang đi học 262 99,62 208 94,23 470 97,31
Nhận xét: Số trẻ VTN đã nghỉ học là 2,69% (13 trẻ), chủ yếu tập trung ở
nhóm tuổi 15-19.
Trong tổng số 470 trẻ VTN hiện còn đang đi học, có 51,91% trẻ VTN
đang học ở bậc THCS; 29,15% đang học ở bậc THPT; 17,66% đang học ở bậc
tiểu học và chỉ có 1,28% đang học ĐH/CĐ. (Xem bảng 3.3)
Bảng 3.3: Phân bố vị thành niên theo trình độ văn hoá
Trình độ văn hoá Số lợng %
Tiểu học 83 17,66
THCS 244 51,91
THPT 137 29,15
ĐH/CĐ 6 1,28
Tổng số
470 100
Nhận xét: Tỷ lệ trẻ VTN đang học ở bậc THCS là cao nhất ( 51,91%)
25