Lý luận về tiền công và sự vận dụng lý luận tiền công trong chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay - Pdf 19

BÀI TẬP THẢO LUẬN NHÓM THÁNG
Môn: Nguyên lý II



DANH SÁCH THẢO LUẬN NHÓM 5
Lớp ĐH Kế toán – K14B
STT Họ và tên Mã sinh viên Xếp loại Ghi chú
1 Trịnh Thị Thu A Nhóm trưởng
2 Lê Thị Trang 1164010126 A Thư kí
3 Lê Thị Trang 1164010124 A
4 Lê Thị Trang 1164010125 A
5 LêThị Trang 1164010127 A
6 Lý Thị Trang A
7 Nguyễn Thị Trang 1164010129 A
8 Nguyễn Thị Thủy A
9 Hoàng Thị Thăm A
10 Hoàng Ngọc Linh Trang A
11 Hoàng thị Trang A
12 Lê Thị Thu A
BỐ CỤC BÀI THẢO LUẬN
PHẦN I : Lý do chọn đề tài
PHẦN II: Cơ sở lý luận tiền công của Mác
1. Bản chất kinh tế của tiền công
2. Các hình thức cơ bản của tiền công
3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
PHẦN III: Sự vận dụng lý luận tiền công trong chính sách tiền lương ở
nước ta hiện nay
1. Chính sách công
2. Một vài vấn đề về lực lượng lao động ở Việt Nam
3. Thực trang lao động ở Việt Nam

có tư liệu sản xuất.
Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hoá do
mình sản xuất ra, chứ không bán "lao động".
- Việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về
lý luận sau đây: thứ nhất, nếu lao động là hàng hoá và nó được trao đổi ngang
giá, thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ
nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Thứ
hai, còn nếu "hàng hoá lao động" được trao đổi không ngang giá để có giá trị
thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.
- Nếu lao động là hàng hoá, thì hàng hoá đó cũng phải có giá trị. Nhưng
lao động là thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, nhưng bản thân lao động
thì không có giá trị. Vì thế, lao động không phải là hàng hoá, cái mà công nhân
bán cho nhà tư bản chính là sức lao động. Do đó tiền công mà nhà tư bản trả cho
công nhân là giá cả của sức laođộng.
=> Bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả
của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao
động.
Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn. Điều đó là do những tình hình sau
đây:
+ Thứ nhất, đặc điểm của hàng hoá sức lao động là không bao giờ tách
khỏi người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho
người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản
trả giá trị cho lao động.
+ Thứ hai, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là
phương tiện để có tiền sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng tưởng rằng
mình bán lao động. Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra là để có lao động, nên
cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động.
+ Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc
số lượng sản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền
công là giá cả lao động.

3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán
sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để tái sản xuất
sức lao động, nên tiền công danh nghĩa phải được chuyển hoá thành tiền công
thực tế. Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hoá
tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của
mình.
Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay
giảm xuống tuỳ theo sự biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hoá sức lao
động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa
không thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hoặc giảm
xuống, thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên.
Tiền công là giá cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với
sự biến đổi của giá trị sức lao động. Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng
của các nhân tố tác động ngược chiều nhau. Nhân tố tác động làm tăng giá trị
sức lao động như sự nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động, sự tăng
cường độ lao động và sự tăng lên của nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội.
Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động, đó là sự tăng năng suất lao động
làm cho giá cả tư liệu tiêu dùng rẻ đi. Sự tác động qua lại của các nhân tố đó dẫn
tới quá trình phức tạp của sự biến đổi giá trị sức lao động, do đó dẫn tới sự biến
đổi phức tạp của tiền công thực tế.
Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng, xu hướng chung của sản xuất tư bản
chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức
tiền công ấy. Bởi lẽ trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công
danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không theo
kịp mức tăng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ; đồng thời thất nghiệp là hiện
tượng thường xuyên, khiến cho cung về lao động làm thuê vượt quá cầu về lao
động, điều đó cho phép nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó, vì vậy
tiền công thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng hạ thấp.
Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì

Thuật ngữ " chính sách công " luôn chỉ những hành động của chính phủ
chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công
là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke
E. Cochran, et al, 1999)
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc
một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James
Anderson, 2003).
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của
chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách
thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như
các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương
trình (Kraft and Furlong, 2004).
Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau:
+ Thứ nhất, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước,
do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói
chung của mỗi nước
+ Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt
động cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa,
dịch vụ công cộng cho nền kinh tế
+ Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng
để:
(i) Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho
nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư.
(ii) Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối
với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn.
Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực
hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định
trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản
công, tài nguyên đất nước
Qua thực tế hoạt động của khu vực công ở nhiều quốc gia, qua đánh giá

Doanh nghiệp chỉ được phép có ý kiến sau hoặc khi có vấn đề phát sinh. Chính
sách được xây dựng trên cơ sở các phân tích và mục tiêu không thực tế, không
được giới doanh nghiệp ủng hộ. Hơn nữa, các chính sách không có sự phối hợp
giữa các Bộ, chỉ là bản liệt kê các chính sách mà thiếu kế hoạch hành động cụ
thể. Mỗi Bộ ngành có nhiều kế hoạch nhưng lại không xác định được lĩnh vực
ưu tiên.
Vì vậy, Việt Nam nên bắt đầu một quy trình hoạch định chính sách
mới, với sự tham gia cả tất cả các bên liên quan, bao gồm: Chính phủ, doanh
nghiệp, người tiêu dùng, người nước ngoài, các nhà tài trợ, các nhà khoa học,
chuyên gia. Đôi khi, các doanh nghiệp hoặc các nhà khoa học có thể vạch ra một
chiến lược trình Chính phủ. Chính sách không đơn thuần chỉ là một văn bản
hành chính của Nhà nước.
Qua nghiên cứu và vận dụng chính sách công ở Việt Nam, có thể thấy:
- Đây là vấn đề là khá mới ở nước ta, vì trước đây vẫn có quan niệm về
tài sản công, sử dụng nguồn lực công, nhưng theo quan niệm, theo nhận thức
công hữu, sở hữu công cộng, của chung đất nước, của toàn dân. Do nhận thức
chưa đúng đắn, chưa đầy đủ về chính sách công theo quan niệm mới, hiện đại
nên trên thực tế việc tổ chức thực thi chính sách quản lý còn nhiều yếu kém,
lãng phí.
=> Cần phải làm rõ nội hàm chính sách công, cả từ khái niệm, các
phạm trù, nội dung, các đặc điểm, các yếu tố tác động, chi phối chính sách công.
- Nghiên cứu về chính sách công ở Việt Nam cần đặt trong bối cảnh
đang trong quá trình chuyển đổi, vừa xóa cũ, vừa tiếp thu cái mới, tính đan xen
giữa cơ hội và thách thức như một tất yếu, có thành, có bại, do đó phải có niềm
tin, có định hướng cơ bản về vấn đề nghiên cứu. Đồng thời, cần phải có cách
tiếp cận hệ thống, cơ bản, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, thu hút chuyên gia về
chính sách công, hợp tác quốc tế với các trung tâm, các viện nghiên cứu ở các
nước về lĩnh vực chính sách công, nhất là với các nước phát triển.
2. Một vài vấn đề về lực lượng lao động ở Việt Nam.
- Nghiên cứu chính sách tiền lương của người lao động,trước hết cần xác

a. Đặc điểm và nội dung chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương ban hành thuộc nghị định số 25 CP/HDPT ngày 18
tháng 9 năm 1985 của Hội đồng bộ trưởng điều chỉnh giá nhưng vẫn dựa trên
cấu trúc kinh tế xã hội của mô hình quản lý trực tiếp của nhà nước chưa có sự
thay đổi cơ chế quản lý kinh tế
∗ Cơ chế quản lý tiền lương: Là một bộ phận cấu thành cơ chế quản lý
kinh tế trong những năm 1980, cơ chế quản lý kinh tế vẫn còn được thực hiện
theo mô hình kinh tế hóa tập trung quan liêu đối với các xí nghiệp qốc doanh
ddax hoàn thành kế hoạch được trích một phần lợi nhuận định mức do nhà nước
ấn định và phân phối bổ sung cho công nhân viên chức
Công cụ quản lý tiền lương, mức tiền lương tối thiểu và các mức lương
trong hệ thống thanh lương, bảng lương được thực hiện thống nhất trong toàn
quốc.
Cơ chế và chính sách tiền lương theo nghị định 25/CP được xây dựng đáp
ứng đòi hỏi khách quan của công cuộc đổi mới với quan điểm là:
Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa
người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu
- Thay đổi kết cấu tiền lương từ việc phân phối gián tiếp sang phân phối
trực tiếp trong thị trường phân biệt hệ thống rõ rang tiền lương của các chức vụ
bầu cử hành chính sự nghiệp, hành chính kinh doanh…
b. Thực trạng áp dụng chính sách tiền lương ở Việt Nam
∗ Thang lương, bảng lương và phụ cấp lương ở việt Nam từ 985 đến nay
- Thang lương: Là bảng xác định quan hệ tỉ lệ và tiền công giữa những
người công nhân trong một nghề hoặc môt nhóm nghề khác nhautheo trình độ
hành nghề. Nhưng ngành nghề khác nhau sẽ có những thang lương tương ứng
khác nhau. Một thang lương gồm có: các bậc lương và hệ thống bậc lương phù
hợp với bậc lương đó
Trong lần cải tiến tiền lương 1993 theo nghị địh 26/CP ngày 25 thang 5
năm 1993 Chính Phủ ban hành 21 thang lương của công nhân với 2 loai 6 va 7
bậc. Với mỗi bậc lương có các hệ số lương hệ số này là sự gấp bội so vơi lương

- Theo kết quả điều tra 500 doanh gnhieepj nhà nước năm 2004 của bộ lao
động - thương binh xã hội đa số các doanh gnhieepj nàh nước thuộc miền Bắc
chiếm 60,4% và nhìn chung (có 4,9% trả lương thấp nhất bằng đúng mức nhà
nước quy định là 290.000 đồng/tháng. Ngược lại đa số các doanh nghiệp nhà
nước ở miền Nam trả 61,5%.
c. Đánh giá về chính sách tiền lương.
∗ Mặt tích cực:
Một là, các thang lương bảng lương có cơ sở khoa học phù hợp với điều
kiện kinh tế thị trường. Trong quá trình vận động mức tiền lương luôn luôn đổi
nhưng giữa các bậc lương, thang lương vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
đây là điểm cơ bản của chính sách tiền lương mới.
Hai là, bộ số tiền lương được mở rộng vừa phải phù hợp với điều kiện của
nền kinh tế và đảm bảo khuyến khích lao động có trình độ cao.
Ba là, chế độ tiền lương mới được thực hiện tiền tệ hóa hoàn toàn, đảm
bảo sự cân bằng trong sự phân phối, xóa bỏ bao cấp trong tiền lương tạo điều
kiện hạch toán đầy đủ tiền lương có giá thành sản phẩm.
Bốn là, cơ chế quản lý tiền lương có nhiều thay đổi phù hợp với cơ chế thị
trường cơ chế quản lý tiền lương lần này đã có tách riêng hai khu vực sản xuất
kinh doanh và khu vực quản lý hành chính nhà nước.
∗ Những tồn tại và thiếu sót của chính sách tiền lương mới
Một là, mức lương tối thiểu còn thấp so với đời sống của công chức mức
lương tối thiểu 120.000 đồng lf mức lương còn thấp so với nhu cầu tối thiểu của
con người.
Hai là, bộ số tiền lương được mở rộng tạo điều kiện tăng khoảng cách
giữa các bậc lương và các ngạch lương làm giảm tính bình quân trong phân phối
để kích thích người lao động nâng cao trình độ lành nghề. Trong khi đó thời
gian chuyển từ bậc lương này sang bậc lương khác lại được quy định đó là điều
kiện không hợp lý và không thực tế.
Ba là, các chế độ phụ cấp, chế đọ tiền lương mới chỉ quy định có 7 chế độ
phụ cấp sau đó để khắc phục các thiếu sót của chế độ tiền lương và thỏa mãn

quy còn phai coi trọng đào tạo tại chức đào tạo ngoai giờ, kèm cặp tại các cơ sở
sản xuất…
- Cơ chế đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ thầy cô giáo và đối với những
người đã qua đào tạo.
3. Đổi mới cơ chế chính sách quản lý tiền lương và thu nhập.
a. Đổi mới nhận thức về tiền lương và vấn đề phân phối trong nền kinh tế
thị trường.
Tiền lương là một yếu tố đầu vào là một bộ phận của chi phí sản xuất, do
đó trong những giai đoạn nhất định tiền lương tương đối ổn định. Tiền lương la
phần cứng mà các doanh nghiệp trả cho người lao động . Khi phân phối người
lao động cũng phải dược tham gia vào việc chia lọi nhuận dưới dạng tiền lương
hoặc các khoản phúc lợi khác duodcj bổ xung vào tiền lương.
b. Các giải pháp cụ thể đối với chế độ tiền lương hiện hanh.
- Nâng cao mức lương tối thiểu cho phù hợp với điều kiện thực tiễn
- Quan hệ tiền lương giữa các ngành, các loại lao động
- Giải quyết các bất hợp lý trong việc chuyển xếp lương
c. Nguyên tắc và quản lý lao động tiền lương của nhà nước
- Nguyên tắc nhà nước pháp quyền: Nhà nước phải đảm bảo dược các lợi
ích chính đáng của người lao động.
- Nguyên tắc dân chủ: cho phép dân chủ trong đời sống nền kinh tế và đời
sống xã hội phát huy vai trò tính tự giác và sang tạo của người lao động trong
quá trình sản xuất và kinh doanh.
- Nguyên tắc xã hội: Nhà nước có chính sách bảo vệ người lao động cũng
như gia đình họ trước nhưng rui do xã hội.
d. Hoàn thiện bộ máy quản lí nhà nước và lao động.
Quản lý về lao động ở các cấp từ trung ương đến đia phương là quản lý về
mặt nhà nước. Bộ máy cán bộ phai gọi nhưng phải có năng lực và trình độ
chuyên môn.
e. Tổ chức tốt hệ thông tin thị trường lao động
Phải bố trí cán bộ các cấp, tổng hợp xử lý thông tin và cung cấp thông tin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status