Bài 5: Mở đầu sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ và quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc (1954-1960)_3 - Pdf 19

Bài 5: Mở đầu sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ
và quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc
(1954-1960)

Đảng đã lãnh đạo Nhà nước cùng với nhân dân lên án và nghiêm trị
những hành động chống đối, vi phạm phép nước theo phương châm:
nghiêm trị bọn cầm đầu ngoan cố, khoan hồng với những người lầm
đường và tạo điều kiện cho họ lập công, chuộc tội.

Tháng 3-1957, Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khoá II) xác định nhiệm vụ của quân đội nhân dân trong
giai đoạn mới: bảo vệ công cuộc củng cố và xây dựng miền Bắc tiến dần
lên chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng đập tan âm mưu xâm lược của chủ nghĩa
đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mỹ và tay sai, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu
tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân
chủ trong cả nước. Hội nghị chủ trương tích cực xây dựng quân đội nhân
dân hùng mạnh, từng bước tiến lên chính quy, hiện đại, xây dựng lực
lượng thường trực mạnh có số lượng thích hợp, có chất lượng cao, xây
dựng lực lượng dự bị hùng hậu, củng cố ba thứ quân, thực hiện chế độ
nghĩa vụ quân sự.

Đánh giá về thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Trải qua thời gian
ba năm, nhân dân ta ở miền Bắc đã ra sức khắc phục khó khăn, lao động
sản xuất, thu được những thành tích to lớn trong công cuộc hàn gắn vết
thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bước đầu phát triển văn hoá, giảm
bớt khó khăn và dần dần cải thiện đời sống cho nhân dân, ở cả miền
đồng bằng và miền núi. Cải cách ruộng đất căn bản đã hoàn thành, công
việc sửa chữa sai lầm phát huy thắng lợi trong nhiều địa phương đã làm
xong và thu được kết quả tốt. Nông nghiệp đã vượt hẳn mức trước chiến
tranh. Công nghiệp đã khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số nhà
máy mới. An ninh trật tự được giữ vững, quốc phòng được củng cố".

Đến năm 1955, ở miền Nam về cơ bản bộ máy chỉ đạo của Đảng bộ các
cấp đã được sắp xếp lại và rút vào hoạt động bí mật. Những cán bộ đã bị
lộ được điều động sang hoạt động ở địa phương khác hoặc tạm ngừng
hoạt động để che giấu lực lượng. Việc vận động ngụy quân, nguỵ quyền
và đưa người của ta vào hoạt động trong tổ chức của địch cũng được chú
ý. Các tổ chức quần chúng công khai đã hình thành. Ở các đô thị, có các
phong trào đấu tranh bảo vệ hoà bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử,
chống bầu cử lừa bịp, chống đuổi nhà, dồn dân, đòi công ăn việc làm,
chống khủng bố; công nhân chống sa thải, đòi ngày làm 8 giờ: dân
nghèo bãi thị đòi giảm thuế.

Ở nông thôn phong trào chống cướp đất, chống tăng tô, chống khủng bố,
chống "tố cộng, diệt cộng", chống dồn làng, v.v. phát triển mạnh. Phong
trào đấu tranh của nông dân chống xáo cấp công điền, chống cướp đất,
chống bắt lính, đòi giữ nguyên canh đã diễn ra trên khắp nông thôn miền
Nam.

Trong các cuộc đấu tranh đó, cuộc đấu tranh quyết liệt và dai dẳng nhất
là đấu tranh chống "tố cộng, diệt cộng". Mỹ - nguỵ bắt những cán bộ,
đảng viên và những người yêu nước tham gia kháng chiến chống Pháp
phải ra "trình diện", phải "đầu thú" và tập trung "cải huấn". Chúng cho
rằng với những thủ đoạn ấy, người cán bộ đảng viên nếu không bị tù, bị
giết thì "sinh mạng chính trị" cũng đã bị tiêu diệt, không còn khả năng
hoạt động nữa.

Ngày 1-12-1955, Trung ương Đảng ra chỉ thị cho các Đảng bộ miền
Nam về chống "tố cộng". Chỉ thị nêu rõ, cần vạch trần âm mưu thâm độc
của chính sách "tố cộng" của Mỹ - Diệm, nêu cao vai trò của Đảng đối
với dân tộc và nhân dân, làm cho mọi người thấy rõ có bảo vệ Đảng, bảo
vệ cán bộ thì mới bảo vệ được quyền lợi của nhân dân. Cán bộ và đảng

Vấn đề xây dựng căn cứ kháng chiến được đặt ra ở các địa bàn đứng
chân của các cơ quan lãnh đạo. Sau khi có chủ trương của Đảng về đấu
tranh chính trị kết hợp vũ trang tự vệ, hoạt động vũ trang tuyên truyền
được đẩy mạnh ở Nam Bộ và Liên khu V.

Đồng thời, các Đảng bộ miền Nam đã lãnh đạo nhân dân lợi dụng các
hình thức hợp pháp để che giấu lực lượng cách mạng, lợi dụng việc bầu
cử của Mỹ - ngụy để đưa người của ta vào các cấp chính quyền và lập tề
hai mang.

Cho đến cuối năm 1957, ở Nam Bộ có 37 đại đội vũ trang cách mạng. Ở
Liên khu V nhiều đội vũ trang ra đời. Những trận tiêu diệt đầu tiên đánh
vào quân ngụy ở Minh Thạnh (Thủ Dầu Một) (8-1957), Trại Be (9-
1957), Lò Than (12-1957), quận lỵ Dầu Tiếng, Biên Hoà (10-1958) là
những tiếng súng báo hiệu phong trào cách mạng miền Nam sắp chuyển
mình.
Hoảng hốt trước làn sóng quật khởi của nhân dân ta, Mỹ - Diệm đã
khủng bố trắng nhằm ngăn chặn dòng thác cách mạng. Ngày1-12-1958,
chúng đầu độc 5.000 cán bộ cách mạng và đồng bào yêu nước ở trại
giam Phú Lợi (Thủ Dầu Một). Phong trào phản đối vụ đầu độc dâng lên
khắp miền Nam, trong cả nước ta và nhiều nước trên thế giới.

Tháng 3-1959, Diệm tuyên bố "đặt miền Nam trong tình trạng chiến
tranh". Ngày 6-5-1959, Mỹ - Diệm ra đạo luật phát xít 10/59. Toà án
quân sự đặc biệt có quyền đưa thẳng người bị bắt ra xét xử và có quyền
bắn tại chỗ. Theo con số ước tính, đến năm 1959 ở miền Nam có
466.000 người bị bắt. 400.000 người bị tù đày, 68.000 người bị giết hại.
Khi phải thống trị nhân dân bằng khủng bố trắng, chính quyền Mỹ -
Diệm đã tỏ ra không thể cai trị như cũ, nhân dân ta ở miền Nam không
thể chịu đựng mãi ách thống trị phát xít. Tình thế cách mạng cho các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status