BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
_________________________ LÊ THÀNH CÔNG
“NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TIÊU CHUẨN CHỌN ĐẤT VÀ PHÂN
HẠNG ĐẤT TRỒNG RỪNG BẠCH ĐÀN UROPHYLLA LÀM
NGUYÊN LIỆU GIẤY VÀ VÁN DĂM TẠI TỈNH PHÚ THỌ”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Ngô Đình Quế Hà Tây, tháng 7-2007
i
LỜI CẢM ƠN
Được sự ñồng ý của Hội ñồng khoa học trường Đại học Lâm Nghiệp Việt
Nam, Khoa ñào tạo sau ñại học, tôi ñã thực hiện nghiên cứu ñề tài: “Nghiên cứu
xác ñịnh tiêu chuẩn chọn ñất và phân hạng ñất trồng rừng Bạch ñàn
Urophylla làm nguyên liệu giấy và ván dăm tại tỉnh Phú Thọ”.
Trong suốt quá trình thực hiện ñề tài, tôi luôn nhận ñược sự giúp ñỡ tận
tình của PGS.TS. Ngô Đình Quế- Viện KHLN Việt Nam, người trực tiếp hướng
dẫn tôi nghiên cứu ñề tài. Ngoài ra, tôi còn nhận ñược sự giúp ñỡ của các thầy cô
giáo giảng dạy các bộ môn tại Khoa ñào tạo sau ñại học, Ban giám ñốc Phân
viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ, Trung tâm NC Sinh thái và Môi
trường rừng- Viện KHLN Việt Nam, các Lâm trường tại ở tỉnh Phú Thọ… cũng
như sự góp ý chân thành của các bạn bè ñồng nghiệp.
D
1,3
: Đường kính ngang ngực
Hvn: Chiều cao vút ngọn
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Tên bảng Trang
3.1 Hiện trạng sử dụng ñất tỉnh Phú Thọ 2006 31
3.2 Diện tích ñất lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ năm 2006 32
4.1 Chỉ tiêu thích hợp khí hậu của cây Bạch ñàn urophylla 34
4.2 Chỉ tiêu thích hợp ñất ñai của cây Bạch ñàn urophylla 35
4.3 Diện tích thích hợp trồng Bạch ñàn urophylla tỉnh Phú Thọ 39
4.4 Mối quan hệ giữa năng suất rừng trồng Bạch ñàn urophylla và lập
ñịa tỉnh Phú Thọ
42
4.5 Đặc ñiểm lý tính ñất dưới rừng trồng Bạch ñàn urophylla tại Phú
Thọ
45
4.6 Đặc ñiểm hoá tính ñất dưới rừng trồng Bạch ñàn urophylla tại Phú
Thọ
46
4.7 Bảng phân hạng ñất vi mô cho trồng rừng Bạch ñàn urophylla tại
Phú Thọ
55
4.8 Kết quả thử nghiệm phân hạng ñất tại Đoan Hùng- Phú Thọ 57
4.9 Kiểm tra ñộ chính xác của bảng phân hạng ñất vi mô cho trồng
rừng Bạch ñàn urophylla
viDANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ TT Tên Đồ thị Trang
4.1 Đồ thị mối quan hệ giữa sinh trưởng của Bạch ñàn urophylla
với ñộ dày tầng ñất
48
4.2 Đồ thị mối quan hệ giữa sinh trưởng của Bạch ñàn urophylla
với dung trọng của ñất
49
4.3 Đồ thị mối quan hệ giữa sinh trưởng của Bạch ñàn urophylla
với hàm lượng sét vật lý của ñất
50
4.4 Đồ thị mối quan hệ giữa sinh trưởng của Bạch ñàn urophylla
với pH
KCl
của ñất
51
4.5 Đồ thị mối quan hệ giữa sinh trưởng của Bạch ñàn với hàm
lượng mùn trong ñất
52
4.6 Đồ thị mối quan hệ giữa sinh trưởng của Bạch ñàn với hàm
lượng nitơ tổng số trong ñất
53
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN DÂN SINH KINH TẾ
TỈNH PHÚ THỌ 23
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ. 23
3.2. Hiện trạng sử dụng ñất ñai và tài nguyên rừng tỉnh Phú Thọ. 30
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1. Phân hạng mức ñộ thích hợp cây trồng cấp vĩ mô. 34
4.2. Ảnh hưởng của ñiều kiện lập ñịa ñến sinh trưởng rừng trồng
Bạch ñàn Urophylla tại Phú Thọ 42
4.3. Sinh trưởng của Bạch ñàn Urophylla với tính chất ñất. 48
4.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng rừng Bạch ñàn urophylla. 59
Chương 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1. Kết luận. 62
5.2. Tồn tại. 63
5.3. Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
2
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Trên thế giới
Phân hạng ñất ñai là một dạng của việc ñánh giá ñất ñai. Phương pháp
áp dụng phổ biến ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ, chủ yếu với cây
trồng nông nghiệp. Bản chất của phương pháp này là tìm mối quan hệ giữa
ñặc ñiểm, tính chất ñất ñai với năng suất cây trồng ñể phân hạng ñất thành các
cấp khác nhau ứng với loài cây trồng khác nhau. Trên cơ sở phân hạng ñất có
thể dự ñoán ñược năng suất cây trồng.
Trong lâm nghiệp các yếu tố dùng ñể phân hạng thường là loại ñất, ñộ
pH, thành phần cơ giới, ñộ dầy tầng ñất, thực bì chỉ thị cho ñộ phì ñất hoặc
mức ñộ thoái hoá ñất.
Điều quan trọng ñối với phân hạng ñất ñai là cần phải có tư liệu về
năng suất cây trồng và tìm mối quan hệ của chúng với các tính chất ñất ñai.
* Đánh giá ñất ñai của FAO
Đây là phương pháp ñược sử dụng khá phổ biến. Các khái niệm trình
bày trên ñược sử dụng rộng rãi ở các nước Tây Âu và phương pháp ñã ñược
tổ chức FAO thừa nhận, hoàn chỉnh thành cẩm nang hướng dẫn ñánh giá ñất
ñai ñể áp dụng rộng rãi. Ví dụ năm 1979, FAO xuất bản cẩm nang hướng dẫn
"Đánh giá ñất ñai cho lâm nghiệp". Trên cơ sở ñó một số nội dung hoặc khái
niệm ñược xác ñịnh cụ thể như sau:
• Đánh giá tiềm năng sử dụng ñất ñai (land capability): Đó là việc phân
chia hay phân hạng ñất ñai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay
hạn chế trong sử dụng như ñộ dốc, ñộ dày tầng ñất, ñá lẫn, tình trạng xói mòn,
úng ngập, khô hạn, mặn hoá Trên cơ sở ñó có thể lựa chọn những kiểu sử
dụng ñất phù hợp. Việc ñánh giá tiềm năng sử dụng ñất thường áp dụng trên
Khoa học ñất ra ñời sớm nhất ở nước Nga, các nhà khoa học Nga ñã có
cơ sở khoa học về ñất và những phương pháp cơ bản về nghiên cứu ñất. Nhờ
các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học V.V Docuchaev, P.A.
Kostưsev và N.M Sibirsev mà thổ nhưỡng học ñã trở thành bộ môn khoa học.
[10].
V. V Docuchaev ñã ñưa ra lý thuyết về phát sinh ñất và ñược thừa
nhận trên toàn thế giới. Qua nghiên cứu ñất ñen làm ví dụ, ông cho rằng: ñất
là một thể tự nhiên ñộc lập cũng giống như khoáng vật, thực vật, ñộng vật, ñất
không ngừng thay ñổi theo không gian và thời gian. Trong công trình này lần
ñầu tiên ông ñã xác ñịnh mối quan hệ có tính qui luật giữa ñất và ñiều kiện tự
nhiên, môi trường và ñã chỉ ra việc hình thành ñất là một quá trình phức tạp
do tác ñộng của 5 yếu tố tự nhiên là: khoáng vật, thực vật, ñộng vật, không
gian và thời gian.[10]
Ở Mỹ, ý ñồ xây dựng một chương trình nghiên cứu phân loại ñất ñã
có từ năm 1832 do E. Ruffin khởi xướng, ñến năm 1860 W. Hilgard xây dựng
bảng phân loại ñất và bản ñồ ñất ñầu tiên cho nước Mỹ, trên cơ sở nhận thức:
ñất là một vật thể tự nhiên, tính chất ñất có quan hệ ñến thực vật và khí
hậu.[50].
Đại hội Khoa học ñất Quốc tế lần thứ 4 ñược tổ chức vào năm 1950 ở
Amsterdam Hà Lan và lần thứ 5 vào năm 1954 ở Conggo ñã thúc ñẩy sự ra
ñời của 2 trung tâm nghiên cứu phân loai ñất có tính chất Quốc tế là: Trung
tâm phân loại Soil Taxonomy và Trung tâm phân loại FAO-UNESCO. Hai
Trung tâm này cùng có một quan ñiểm nghiên cứu giống nhau, ñó là quan
ñiểm ñịnh lượng, và ñã tiến hành xây dựng hệ thống chỉ tiêu ñịnh lượng trong
các cấp phân loại. Với quan ñiểm phân loại mới là dựa vào ñịnh lượng hoá
tính chất, thì chỉ có những tính chất mà có thể xác ñịnh ñịnh lượng mới ñược
sử dụng trong phân loại ñất. [10] 5
hiện theo 2 hướng là:
1- Phân hạng ñịnh tính: dựa trên các kết quả nghiên cứu các yếu tố tự
nhiên ñể xác ñịnh tiềm năng sản xuất của ñất ñai.
2- Phân hạng ñịnh lượng: dựa vào kết quả nghiên cứu các yếu tố kinh
tế, ñể xác ñịnh sức sản xuất thực tế của ñất ñai.[10]
Ở Ấn Độ và các nước vùng nhiệt ñới ẩm châu Phi thường áp dụng
phương pháp tham biến ñể xác ñịnh mối quan hệ giữa các yếu tố ñất ñai và
cây trồng. Các mối quan hệ này ñược biểu thị dưới dạng phương trình toán
học. Kết quả phân hạng ñược thể hiện dưới dạng % hoặc ñiểm. [20]
Bản dự thảo ñầu tiên về tiêu chuẩn hoá việc ñánh giá ñất ñai ñã ñược
thống nhất do 2 Uỷ ban nghiên cứu ở Hà Lan và FAO- Roma thực hiện vào
năm 1972 và phương pháp ñánh giá ñất ñai ñầu tiên của FAO ñược công bố
vào năm 1976 và ñược chỉnh lý vào năm 1983. [20]
Học thuyết về loại sử dụng ñất ñã ñược Duddlry (thế kỷ 19) xây dựng,
sau này ñược Kostrowiky và các ñồng sự của ông phát triển. Gần ñây Beek và
Bennerma ñã hoàn chỉnh và ñược Brickman và Smyth sử dụng trong ñề
cương ñánh giá ñất ñai năm 1976.[51]
Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa
ñặc tính của ñất ñai với sinh trưởng của cây trồng. Từ các kết quả nghiên cứu
này nhiều nhà khoa học ñã cho rằng: Đối với các vùng ôn ñới, phản ứng của
ñất, hàm lượng CaCO
3
và các chất Bazơ khác, thành phần cấp hạt và ñiện thế
ôxy hoá khử (Eh) của ñất là những yếu tố quan trọng nhất, quan ñiểm này ñã
xem các yếu tố hoá học ñất quan trọng hơn yếu tố vật lý. Còn ở vùng nhiệt
ñới thì các tác giả cho rằng: các yếu tố khả năng giữ nước, ñộ sâu của ñất và
ñộ thoáng khí là những yếu tố giữ vai trò chủ ñạo, ñiều này có nghĩa là: yếu tố 7
ñất ñai - Bộ nông nghiệp cũng ñưa ra khái niệm " Khả năng ñất ñai" (Land
Capability) trong công tác ñánh giá ñất ñai ở hoa Kỳ. trong việc ñánh giá này,
các ñơn vị bản ñồ ñất ñai (Land Mapping Units) ñược nhóm lại dựa vào khả
năng sản xuất một loại cây thực vật tự nhiên nào ñó, chỉ tiêu chung là các hạn
chế của lớp phủ thổ nhưỡng ñối với mục tiêu canh tác ñược ñề nghị. Hệ thống
ñánh giá ñất ñai này mang tính chất sơ lược, gắn ñất với hiện trạng sử dụng
ñất hay còn gọi là " Loại hình sử dụng ñất".
* Vào những thập niên 60, ở Liên Xô và các nước Đông Âu, việc phân
hạng và ñánh giá ñất ñai cũng ñược thực hiện, bao gồm ba bước sau; so sánh
các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên (ñánh giá lớp phủ thổ nhưỡng);
ñánh giá khả năng sản xuất của ñất ñai và ñánh giá kinh tế ñất (chủ yếu ñánh
giá khả năng sản xuất hiện tại của ñất). Phương pháp này chỉ mới thuần tuý
quan tâm ñến khía cạnh tự nhiên của ñối tượng ñất ñai mà chưa xem xét ñầy
ñủ ñến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng ñất ñai.
- Nhiều quốc gia ở Châu Âu vào những năm 70 ñã cố gắng phát triển
các hệ thống ñánh giá ñất ñai của họ, cuối cùng các nhà nghiên cứu nhận thấy
rằng cần phải có một nỗ lực quốc tế ñể ñạt ñược sự thống nhất và tiêu chuẩn
hoá vào việc ñánh giá ñất ñai. Vì vậy, có 2 uỷ ban nghiên cứu ñược thành lập
ở Hà Lan và FAO (Rome, Ý), kết quả là một dự thảo ñầu tiên ra ñời vào năm
1972, sau ñó ñược hai nhà khoa học Brinkman và Smith soạn thảo lại và xuất
bản 1973. Năm 1975 tại hội nghị ở Rome, những ý kiến ñóng góp cho bản dự
thảo năm 1973 ñã ñược các chuyên gia hàng ñầu về ñánh giá ñất ñai của FAO
(K.J. Beek, J. Bennema, P. J. Mabier, G. A. Smith ) biên soạn lại ñể hình
thành nọi dung phương pháp ñầu tiên của FAO về ñánh giá ñất ñai (A frame
work for land evaluation) và công bố vào năm 1976, sau ñó ñã ñược chỉnh lý
vào năm 1983 [44]. 9
- Ngoài những tài liệu cơ bản của FAO về ñánh giá ñất ñai, FAO cũng
nhỏ và hẹp nên lượng ánh sáng chiếu xuống ñất nhiều, tạo ñiều kiện cho
nhiều lớp cỏ và cây bụi ưa sáng phát triển. Giải thích về những lô Bạch ñàn có
lớp thực bì kém phát triển, tác giả cho rằng những lý do như chăn thả quá
mức, cháy hoặc ñốt lướt ñể phòng cháy hàng năm, quét lá ñể thu nhiên liệu,
xói mòn ñất ñã ngăn cản thực bì phát triển hơn là do bản thân cây Bạch ñàn
tác ñộng ñối với lập ñịa ñó. Gần ñây áp dụng một số giống mới, tác giả còn
ghi nhận một số loài cỏ mọc dưới tán Bạch ñàn thậm chí ở cả những lô trồng
dày với mật ñộ 0,3 x 0, 3 m (trên 10.000 cây/ha).
Nhiều tác giả cũng ghi nhận sự có mặt của nhiều loài cây họ ñậu và lớp
tái sinh cây bản ñịa gỗ lớn ñã bắt ñầu xuất hiện sau khi có sự che bóng của
rừng Bạch ñàn khép tán. Có thể coi như rừng Bạch ñàn ñã bước ñầu tạo ra
hoàn cảnh rừng, ñặc biệt ñối với những cây bản ñịa gỗ lớn sống thành quần
thụ thì cây giai ñoạn non thường ưa bóng. Nếu cứ ñể ñất trống phơi nắng trực
tiếp sẽ không có khả năng tái sinh.
Trong những năm gần ñây có một số công trình nghiên cứu cụ thể về vấn
ñề này và mới chỉ nghiên cứu cho từng ñối tượng cây trồng cụ thể. Ở vùng ôn
ñới nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng tự nhiên, rừng trồng ñến ñộ phì
ñất ñã ñược ñề cập. Khi nghiên cứu về rừng mưa nhiệt ñới ở Australia, Week
(1970) [61] ñã khảng ñịnh sinh trưởng của thực vật phụ thuộc vào các yếu tố:
ñá mẹ, ñộ ẩm cảu ñất, thành phần cơ giới, CaCO
3
, hàm lượng mùn và ñạm.
Tại Ấn Độ việc trồng Bạch ñàn trên những vùng rộng lớn ñã gây ra
nhiều cuộc tranh luận kéo ñài về tác dụng xấu của Bạch ñàn ñến ñất. Ghosh
(1978) [54] ñã ñánh giá sinh trưởng của Bạch ñàn ñến chế ñộ nước và chất
dinh dưỡng trong ñất tại Ấn Độ và nhiều vùng trên thế giới nhưng chưa có kết
luận khảng ñịnh. Tuy nhiên Ghosh ñã nhấn mạnh là các lời ca thán về tác hại 11
- Biện pháp cải tạo một số loại ñất có vấn ñề.
- Bảo vệ và chống suy thoái tài nguyên ñất.
Theo các kết quả nghiên cứu của VM. Fridland (1964), Nguyễn Viết
Phổ (1978), trên các bãi bồi vùng ñồng bằng Sông Cửu Long và sông Hồng
thì: hàng năm Sông Cửu Long và sông Hồng ñưa ra biển khoảng 200 triệu tấn
phù sa. Do ñó mỗi năm các bãi bồi ở vùng cửa sông của 2 con sông này có xu
hướng lấn dần ra phía biển Đông từ 40-100m.
Ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (1979) [31] cũng ñã nghiên cứu về ảnh
hưởng của Bạch ñàn ñến ñất và thực bì. Ông cho rằng ñối với Bạch ñàn vấn
ñề quan trọng nhất ñể kinh doanh rừng thành công ñó là ñất. Và trong các yếu
tố tạo thành ñộ phì của ñất thì ñối với cây Bạch ñàn yếu tố nước trong ñất giữ
vai trò quyết ñịnh. Nếu như trồng Bạch ñàn ở nơi ñất xấu như vùng Đền Hùng
- Phú Thọ với nhóm ñất là sialit - feralit nâu vàng phong hoá trên phù sa cổ, bị
thoái hoá mạnh có tính chất vật lý rất kém, hàm lượng dinh dưỡng thấp, tầng
kết von hoặc ñá ong lộ ra trên mặt ñất.
Đỗ Đình Sâm (1991) [25] khi nghiên cứu về ñất tế guột và vấn ñề trồng
rừng Bạch ñàn liễu cũng cho rằng Bạch ñàn cũng như các loài cây khác ñều
có quá trình tự bón và quá trình tiểu tuần hoàn vật chất ñể trả lại cho ñất các
chất dinh dưỡng như N, P, K, Ca, Mg, qua cành lá rơi rụng. Tác giả cũng
cho rằng Bạch ñàn không làm cho ñất xấu ñi. Tuy nhiên do tán lá Bạch ñàn
thưa, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lá không cao, lại chứa nhiều dầu
nên so làm tăng ñộ phì của ñất lên ít và chậm hơn. Tác giả cũng lưu ý trong
thực tế rất nhiều diện tích Bạch ñàn trồng do bị quét lá ñể làm chất ñất nên
quá trình tuần hoàn vật chất chỉ xảy ra có một chiều. Điều này ñã phá vỡ quy
luật tự bón của rừng Bạch ñàn, làm cho ñất bị bóc lột một chiều. Do vậy ñất
bị xấu ñi là ñiều không tránh khỏi. Tác giả cũng kết luận sau khi trồng rừng
Bạch ñàn khép tán, các loài cỏ chịu hạn, hoàn toàn ưa sáng như cỏ lông lợn, 13
ñất ñai toàn quốc khá lớn. Trên bản ñồ tỷ lệ 1/1.000.000 toàn quốc có tới 373
ñơn vị ñất ñai.[10]
Vũ Cao Thái và các cộng sự năm 1989 ñã nghiên cứu ñánh giá phân
hạng ñất Tây Nguyên với cây Cao su, Cà phê, Chè và Dâu tằm. Đề tài ñã vận
dụng phương pháp phân hạng ñất ñai của FAO theo kiểu ñịnh tính và hiện tại
ñể ñánh giá khái quát tiềm năng ñất ñai của vùng và ñã phân chia ñất theo 4
hạng riêng cho từng cây trồng.[10]
Kết quả nghiên cứu của ñề tài KT 02-09 do Viện quy hoạch thiết kế
Nông nghiệp thực hiện (1993-1995) ñã ñánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và tác
ñộng ảnh hưởng tới môi trường ñối với các loại hình sử dụng ñất ñai chính ở
Việt Nam và ñã xác ñịnh 4 loại hình sử dụng ñất chính là: Các loại hình sử
dụng ñất ñai bền vững về kinh tế xã hội và môi trường. Loại hình sử dụng ñất
không bền vững về kinh tế. Loại hình sử dụng ñất không bền vững về môi
trường. Loại hình sử dụng ñất không bền vững về kinh tế và môi trường [10].
Tác giả Đỗ Đình Sâm (1995) và các cộng sự ñã tiến hành ñánh giá tiềm
năng sản xuất ñất lâm nghiệp ở Việt nam theo 8 vùng kinh tế lâm nghiệp: Tây
Bắc, Đông Bắc, Trung tâm, Bắc Trung bộ, Duyên hải miền trung, Đông Nam
bộ, Tây nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, trừ ñồng bằng sông Hồng vì chủ
yếu là ñất nông nghiệp.
Trong quy trình Điều tra xây dựng bản ñồ lập ñịa phục vụ công tác
trồng rừng cho các dự án như: KFW1, KFW3, ADB, Lâm nghiệp xã hội
Sông Đà… của tác giả Ngô Đình Quế, ñã dựa vào các yếu tố: loại ñất, ñộ dày
tầng ñất, ñộ dốc và thực bì ñể và ñược ñể xác ñịnh ñơn vị ñất ñai. [22]
Năm 1962, VM. Fridland ñã tiến hành nghiên cứu về các nguyên tố vi
lượng trong ñất ở miền Bắc Việt nam, tác giả ñã phân tích 35 nguyên tố vi
lượng trong ñất bằng phương pháp quang phổ với ñộ nhậy 1/10000 kết quả là:
một số nguyên tố không phát hiện thấy hoặc chỉ có ở mức vệt. [26] 15
1.3. Một số kết quả nghiên cứu về Bạch ñàn urô (E.urophylla)
Bạch ñàn Urô (E.urophylla) là cây gỗ lớn, thân thẳng tròn cao, tán thưa,
phân cành cao ñến 20 - 25m, ñường kính có thể tới l00 cm. Là cây ưa sáng có
biên ñộ sinh thái rộng, có khả năng thích hợp với nhiều dạng ñất, Bạch ñàn
Urô (E.urophylla) phân bố ở ñộ cao 300 - 2200mm với 2 - 8 tháng khô, nơi
nguyên sản Bạch ñàn Urô (E.urophylla) có thể cao 25 - 45m, cá biệt có thể
cao 55 m, ñường kính có thể ñạt 1 - 2 m, Bạch ñàn urô (E.urophylla) là loài
cây thích hợp với các lập ñịa có ñất sâu ẩm ở các tỉnh miền bắc, các xuất xứ
có triển vọng nhất cho vùng trung tâm là Lewotobi và Egon Flores.
Bạch ñàn urô (E.urophylla) (có nơi gọi là Bạch ñàn nâu) có phân bố tự
nhiên ở một số vùng nhỏ hẹp tại một số ñảo của Indonexia kéo dài 5 kinh ñộ
từ 122
0
ñến 127
0
kinh ñông với chiều dài khoảng 500 tìm và giữa các vĩ ñộ
7,3
0
và 10
0
Vĩ Bắc. Bạch ñàn urô (E. urophylla) có phân bố theo ñộ cao lớn
nhất trong số các loài Bạch ñàn, ñó là từ ñộ cao 70 - 2960m (ở Timor) so với
mực nước biển. Do thay ñổi về ñộ cao nên biến ñộng về nhiệt ñộ cũng vì thế
mà khá lớn. Trên cùng một ñảo với khoảng cách không mấy xa nhau mà các
quần thụ phải thích nghi với các ñiều kiện nhiệt ñộ rất khác nhau kéo dài từ
27
0
ñến 30
0
c (nhiệt ñộ tối cao bình quân tháng) trên ñộ cao 400 mét xuống 17