BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU XÁC LẬP TIÊU CHÍ, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH
ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ĐẤT.
ÁP DỤNG THỬ NGIỆM CHO MỘT SỐ KHU VỰC
Chủ nhiệm đề tài: VŨ THỊ MINH NGUYỆT
Cơ quan chủ trì: VIỆN KHOA HỌC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
8154
HÀ NỘI- 2009
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI- 2009
i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Mục tiêu của đề tài 6
Nội dung chính cần nghiên cứu 6
Phương pháp nghiên cứu 6
Các sản phẩm chủ yếu 6
Địa chỉ ứng dụng 7
Kinh phí và thời gian thực hiện 7
Tổ chức thực hiện 7
Lời cảm ơn 8
PHẦN I
Chương 1 10
TỔNG QUAN VỀ TL NDĐ CÓ THỂ KHAI THÁC 10
1.1.Tổng quan về NDĐ và sự cần thiết đánh giá trữ lượng 10
1.2. Khái niệm về TL NDĐ có thể khai thác 12
1.3. Tổng quan về TL NDĐ có thể khai thác trên thế giới 13
1.3.1. Đánh giá TL NDĐ theo quan niệm của Liên Xô (cũ) 14
1.3.2. Đánh giá trữ lượng NDĐ theo quan niệm khác (châu Âu, Úc và Mỹ) 14
1.4. Tổng quan về TL NDĐ có thể khai thác tại Việt Nam 16
Chương 2 18
CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT CÓ THỂ KHAI
THÁC CHO CÔNG TRÌNH, TẦNG CHỨA NƯỚC VÀ VÙNG 18
điều kiện ĐCTV ít phức tạp. 32
3.2.3. Phương pháp đánh giá TLNDĐ có thể khai thác cho tầng chứa nước trong
điều kiện ĐCTV phức tạp hoặc rất phức tạp 32
3.3. Phương pháp đánh giá TLNDĐ có thể khai thác khu vực (vùng) 35
3.3.1. Trình tự đánh giá 36
3.3.2. Phương pháp đánh giá 37
3.4. Phương pháp đánh giá TL NDĐ có thể khai thác các dạng mỏ nước 37
3.4. 1. Nguyên tắc phân chia các dạng mỏ nước 37
3.4.2. Đánh giá TL NDĐ có thể khai thác nhóm mỏ có điều kiện ĐCTV ít phức
tạp 38iii
3.4.3. Đánh giá TL NDĐ có thể khai thác nhóm mỏ có điều kiện ĐCTV phức tạp
và rất phức tạp 38
Chương 4 40
PHÂN CẤP VÀ XÉT DUYỆT TRỮ LƯỢNG 40
4.1. Tiêu chí phân cấp TL NDĐ 40
4.1.1. Tiêu chí về mức độ thăm dò mỏ 40
4.1.2. Tiêu chí về độ tin cậy của con số trữ lượng 43
4.1.3. Tiêu chí về độ chính xác xác định các nguồn hình thành trữ lượng có thể
khai thác 46
4.1.4. Tiêu chí về độ tin cậy xác định chất lượng nước và dự báo biến đổi chất
lượng nước 47
4.1. 5. Tiêu chí về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội - môi trường 47
Chương 3 70
ĐÁNH GIÁ TL NDĐ CÓ THỂ KHAI THÁC TRONG CÁC THÀNH TẠO ĐÁ
CỨNG 70
3.1. Đặc điểm địa chất, địa mạo 70
3.2. Đặc điểm địa chất thủy văn 71
3.3. Hiện trạng khai thác nước 71
3.4. Kết quả đánh giá TL NDĐ có thể khai thác 72
3.4.1. Cơ sở của phương pháp 72
3.4.1.Kết quả tính toán 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1. Tổng quan về TL NDĐ có thể khai thác 76
2. Các tiêu chí và phương pháp đánh giá TL NDĐ có thể khai thác 77
3. Đánh giá TL NDĐ tại các vùng thử nghiệm 77
4. Phân cấp và xét duyệt trữ lượng 78
5. Một số kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
5
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Nước dưới đất là một tài nguyên quý giá từ thiên nhiên, là nguồn cung cấp quan
trọng cho ăn uống, sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của
mọi quốc gia. Việc đánh giá trữ lượng nước dưới đất (TLNDĐ) có thể khai thác là cần
thiết góp phần sử dụng hiệu quả, hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này. Tuy
nhiên, đánh giá trữ lượng nước dưới đất có thể
khai thác là một vấn đề rất phức tạp và
có nhiều quan điểm khác nhau trên thế giới. Ngay khái niệm về TLNDĐ có thể khai
thác đã rất khác nhau giữa các vùng, miền, địa phương và các quốc gia dẫn đến sự
khu vực” đã được triển khai.
6
Mục tiêu của đề tài
• Xác lập tiêu chí, phương pháp đánh giá TL NDĐ có thể khai thác của công
trình, tầng chứa nước và vùng.
• Đề xuất dự thảo quy trình đánh giá TLNDĐ có thể khai thác.
Nội dung chính cần nghiên cứu
• Nghiên cứu tổng quan về khái niệm và phương pháp đánh giá TL NDĐ có
thể khai thác trên thế giới và Việt Nam.
• Đề xuất cơ sở khoa học xác lập các tiêu chí đánh giá TL NDĐ có thể khai
thác cho công trình, tầng chứa nước và vùng.
• Nghiên cứu đề xuất sử dụng phương pháp phù hợp đánh giá TL NDĐ có thể
khai thác cho công trình, tầng chứa nước và vùng.
• Áp dụng thử nghiệm tại một số vùng cụ thể
.
• Xây dựng dự thảo quy trình đánh giá TL NDĐ có thể khai thác.
Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp nghiên cứu truyền thống: thu thập, phân tích thống kê, tổng
hợp tài liệu liên quan đến xác định trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác
trong nước và trên thế giới. Phân tích, đánh giá tổng quan và nghiên cứu cơ
sở khoa học của các phương phương pháp từ đó lựa chọn phương pháp phù
hợp đánh giá TLNDĐ có thể khai thác cho tầng chứa nước, công trình và
vùng.
• Phương pháp chuyên gia. Mời các cán bộ khoa học có chuyên môn cao, am
hiểu về lĩnh vực đánh giá TLNDĐ có thể khai thác cùng hợp tác tham gia
nghiên cứu và lấy ý kiến góp ý để nâng cao chất lượng của đề tài.
Các sản phẩm chủ yếu
• Báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu của đề tài.
• Báo cáo áp dụng thử nghiệm tại các khu vực.
419.5
26 36 0 191
Năm thứ nhất:
151.4
87.0 10.0 54.4
Năm thứ hai:
521.1
332.5 16.0 36.0 136.6
Thời gian thực hiện: 24 tháng (từ tháng 1/2008 đến hết tháng 12/2009)
Tổ chức thực hiện
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản
Chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Thị Minh Nguyệt
Cán bộ tham gia nghiên cứu: (Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản)
KS. Nguyễn Thị Thanh Thảo
KS. Cao Duy Giang
ThS. Nguyễn Văn Dũng
KS. Nguyễn Quốc Khánh
TS. Lê Cảnh Tuân
8
Cơ quan phối hợp chính:
• Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội: PGS.TS. Đoàn Văn Cánh
• Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam: TS. Đặng Đình Phúc; TS. Trần Minh
Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện, đề tài luôn nhận được sự hợp tác khoa học tích cực,
thiện chí của các chuyên gia và cộng tác viên có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực
TLNDĐ. Tập thể tác giả cũng đã nhận được sự ủng hộ, động viên khuyến khích của
lãnh đạo, các phòng quản lý của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, các chuyên
viên Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các chuyên viên Cục
được, còn 11% ND
Đ ở độ sâu
từ 800m trở xuống không thể
khai thác sử dụng trong điều
kiện kỹ thuật hiện nay.
Thế nhưng, thế giới hiện
nay khai thác sử dụng nước
dưới đất mạnh mẽ như thế nào?
Các nước trên thế giới khai thác
sử dụng nước dưới đất không đồng đều. Toàn thế giới hàng năm khai thác khoảng 800 km
3
(2.191.781.000,0 m
3
/ngày) từ nước dưới đất. Trong đó Châu Phi -35 km
3
/năm (95.890.411
m
3
/ngày); Bắc và Trung Mỹ -150 km
3
/năm (410.959.000); Nam Mỹ - 25 km
3
/năm; Châu Á
- 500 km
3
/năm; Châu Âu – 80 km
3
/năm; Châu Úc và Châu Đại Dương-10 km
3
Tại Nga, việc khai thác sử dụng nước dưới đất được ước tính gần 15 triệu m
3
/ngày.
Ở các thành phố lớn (hơn 100 ngàn dân) tỷ trọng nước dưới đất chỉ chiếm 29%, thậm chí
11
các thành phố lớn như Matxcova, San Peterburg, Roctop Na Đon, Vladivostok hoàn toàn
sử dụng nước mặt. Tỷ trọng sử dụng nước dưới đất ở nông thôn chiếm tới 85%.
Nếu lấy chỉ tiêu là tỷ số giữa tổng lượng khai thác với lượng nước dưới đất có thể
được tái sinh (renewal) thì sao? Bản đồ do các nhà ĐCTV Hà Lan thuộc tổ chức IAH thành
lập năm 2006 gây cho ta những ấn tượng sâu sắc về số liệu đ
ó trên toàn thế giới ( hình 1.1).
Chỉ số có giá trị < 20% cho biết lãnh thổ đó còn dư dật nước dưới đất và có thể khai thác
bền vững. Những nước có chỉ số 100% và lớn hơn nằm ở Trung cận Đông và Bắc Phi,
nước dưới đất đang bị cạn kiệt dần. Những nước có chỉ số từ 20% đến 100% là những
nước mà ở đấy việc khai thác nước dưới
đất chỉ có thể bền vững nếu kiểm soát chặt chẽ
việc khai thác nước và có kế hoạch bổ sung nhân tạo nước dưới đất. Việt Nam nằm trong
những nước có chỉ số trung bình. Hình 1.1: Tỷ lệ giữa trữ lượng khai thác với lượng NDĐ
Tuy nhiên, những khu vực có tài nguyên nước dưới đất ổn định trên thế giới đang
từng ngày thu nhỏ lại. Các đề chính
và các vùng khác tỷ trọng khai thác nước dưới đất không đáng kể. Tổng khai thác sử dụng
nước dưới đất ở Việt Nam chưa vượt quá con số 5 triệu m
3
/ngày.
Một trong những chỉ tiêu để đánh giá sự ổn định của nguồn nước là thời hạn phục
hồi nguồn nước, nghĩa là thời gian cần thiết để nước vận động từ miền hình thành đến
miền phá hủy. Đối với dòng chảy trên mặt tính trung bình cho toàn địa cầu, thời gian đó cỡ
khoảng 16 ngày đêm, còn đối với dòng ngầm khoảng 1,5 ngàn năm. Do giới hạn v
ề phục
hồi nguồn nước cho nên phải đặc biệt chú ý đến bảo vệ tầng chứa nước khỏi bị cạn kiệt và
ô nhiễm. Từ đây nảy sinh một vấn đề quan trọng nhất của ĐCTV khu vực là đánh giá trữ
lượng khai thác nước dưới dất.
1.2. Khái niệm về TL NDĐ có thể khai thác
a) Trữ lượng an toàn và khai thác bền vững
Trữ lượng an toàn (safe yield) là lượng nước có thể khai thác để đạt tới cân bằng và
duy trì lâu dài sự cân bằng giữa lượng nước khai thác và lượng cung cấp hàng năm. Lượng
nước có thể khai thác tại một tầng chứa nước có thể đạt bằng tổng lượng nước cung cấp
của tầng chứa nước đó.
Cuối thập kỷ 80, khái niệm trữ lượng khai thác bề
n vững (sustainable yield) bắt đầu
được sử dụng nhằm khắc phục những nhược điểm của khái niệm trữ lượng an toàn nhưng
không tính đến các tác động môi trường của việc khai thác. Trữ lượng khai thác bền vững
được xem như là một phần của trữ lượng khai thác an toàn mà khi khai thác không ảnh
hưởng tiêu cực đến điều kiện môi trường và kinh tế - xã hội (đảm bảo cho việc khai thác
nướ
c được lâu dài hiệu quả, không làm ô nhiễm, cạn kiệt nước dưới đất, không gây tranh
chấp nguồn nước, bảo vệ nguồn nước mặt và bảo vệ hệ sinh thái nước dưới đất).
Như vậy trữ lượng NDĐ có thể khai thác (theo khái niệm trữ lượng bền vững) được đánh
giá ngoài việc dựa trên cở sở khoa học của địa chất thủy văn còn phụ thuộc vào đ
iều kiện
e) Trữ lượng tĩnh nhân tạo là thể tích nước dưới đất trong tầng chứa nước được
hình thành nhờ xây dựng những công trình để cung cấp bổ sung cho đất đá chưa bão hoà
nước.
Theo quy định về điều tra, đánh giá tài nguyện NDĐ của Bộ TN và MT năm 2007
(13-2007-QĐ-BTNMT) định nghĩa trữ lượng có thể khai thác và trữ lượng khai thác NDĐ
của công trình nh
ư sau:
g) Trữ lượng khai thác tiềm năng hoặc trữ lượng có thể khai thác của một vùng là
lượng nước có thể khai thác từ các tầng chứa nước và chứa nước yếu trong vùng đó mà
không làm suy thoái, cạn kiệt nguồn nước và biến đổi môi trường vượt quá mức cho phép.
h) Trữ lượng khai thác NDĐ của công trình là lượng nước có thể khai thác được
từ công trình đó với chế độ khai thác xác định, h
ợp lý về kinh tế - kỹ thuật, không gây
tranh chấp nguồn nước, không tác động xấu tới môi trường; chất lượng nước đáp ứng nhu
cầu sử dụng trong suốt thời gian khai thác.
1.3. Tổng quan về TL NDĐ có thể khai thác trên thế giới
Để đánh giá trữ lượng NDĐ có thể khai thác của một đơn vị chứa nước (lỗ khoan,
tầng chứa nước và vùng) cần xác định được lượng nước cung cấp hay lượng thoát của
nước ngầm từ/tới đơn vị chứa nước đó, nghĩa là phải xét đến cân bằng nước. Trên cơ sở
xác định lượng nước cấp và lượng thoát của nước ngầm, tùy thuộc vào các
điều kiện cụ thể
(nhu cầu sử dụng nước, điều kiện kinh tế - xã hội, các quy định về chính sách bảo vệ môi
trường) từ đó xác định trữ lượng nước có thể khai thác cho một tầng chứa nước theo tỷ lệ
(%) với lượng cung cấp. Có rất nhiều quan niệm và phương pháp khác nhau xác định
14
lượng cung cấp và lượng thoát từ tính toán thủy văn đơn giản đến giải các phương trình
phức tạp hoặc chạy mô hình số trên máy tính.
1.3.1. Đánh giá TL NDĐ theo quan niệm của Liên Xô (cũ)
Theo quan niệm của Liên Xô cũ, đánh giá TLNDĐ có thể khai thác theo các nhóm
c (phân tích các nguồn cấp nước và lưu lượng
tương ứng trong mối quan hệ của tầng chứa nước cũng như toàn bộ vùng nghiên
cứu).
• Kết hợp hai nhóm phương pháp trên.
15
• Phân tích khả năng cấp nước tối đa của tầng chứa nước. Xác định khả năng chứa
nước bằng chiều dày bão hòa nhân với năng suất riêng.
Bảng 1.1: Ví dụ về các phương pháp khác nhau xác định trữ lượng bền vững
Bang hoặc vùng
miền
Phương pháp xác định trữ lượng bền vững NDĐ
Thủ đô Úc (ACT) Theo phương pháp cân bằng nước.
Phía nam Wale
(NSW)
Theo lượng cung cấp từ nước mưa, lượng cấp từ sông và các thông tin
khác.
Khu vực phía Bắc
(NT)
Theo các tính toán về lượng mưa và lượng cung cấp.
Bang Quensland
(QLD)
Đánh giá trữ lượng bền vững NDĐ trong mối liên quan với hệ sinh
thái. Trữ lượng bền vững được xác định dựa vào lượng cấp từ nước
mưa, lưu lượng cung cấp tới tầng chứa nước và lượng khai thác.
Khu vực phía Nam
(SA)
Trữ lượng bền vững được xác định theo nhu cầu sử dụng nước ngầm,
mực nước ngầm, thông tin về nhiễm mặn và các đánh giá về lượng
16
17
62
43
294
% lượng 1 71 6 0 1 17 0 17 113
16
cấp
Tính toán
đơn giản
0 9 46 6 8 0 62 10 141
Mô hình
số ở mức
độ chi tiết
0 6 0 9 5 0 0 3 23
Các
phương
pháp xác
định trữ
lượng bền
vững
Phương
pháp khác
chỉ ra ngưỡng khai thác nước ngầm và đới phòng hộ vệ sinh phòng tránh ô nhiễm. 17
Việc đánh giá TL NDĐ hiện nay đã tập trung cả cho công trình khai thác (lỗ khoan),
tầng chứa nước và vùng với mức độ chi tiết khác nhau. Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có
một văn bản chính thức nào của nhà nước quy định cho rõ ràng cơ sở khoa học xác lập tiêu
chí và phương pháp phù hợp đánh giá trữ lượng NDĐ, phân cấp trữ lượng NDĐ cụ thể. Vì
vậy ở đây trong khuôn khổ một báo cáo tổng k
ết đề tài nghiên cứu cấp Bộ, chúng tôi mạnh
dạn đưa ra các tiêu chí đánh giá trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất. Nội dung các vấn
đề đó sẽ được trình bày trong cụ thể tại chương 2.
18
Chương 2
CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT
CÓ THỂ KHAI THÁC CHO CÔNG TRÌNH, TẦNG CHỨA NƯỚC
VÀ VÙNG
2.1. Các tiêu chí chung
Để đánh giá trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác chúng ta có thể dựa vào các
tiêu chí sau:
2.1.1. Tiêu chí về độ hạ thấp mực nước cho phép
Khi khai thác tầng chứa nước ngầm (nước không áp) sẽ diễn ra giảm chiều dày, dẫn
đến làm giảm độ dẫn nước của tầng chứa nước. Để không xảy ra sự xáo trộn mực nước
trong đới gần giếng khoan cần phải bảo đảm độ
dẫn nước không nhỏ hơn 30 - 50% giá trị
độ dẫn ban đầu.
Trong giếng khoan luôn luôn cần cột nước để máy bơm hoạt động. Cột nước ấy
không nhỏ hơn chiều dài máy bơm (thường cột nước trong giếng khoan không nhỏ hơn 3 -
- chiều sâu ngập máy.
: ∆h
φ
- tổn thất do lực cản của ống lọc và đất đá của đới gần lỗ khoan.
Đối với công trình khai thác trong tầng chứa nước có áp, trị số hạ thấp mực
nước cho phép tốt nhất không làm thay đổi dộ dẫn nước, nghĩa là lấy đến hết chiều cao
cột nước áp lực tính từ mái tầng chứa nước (Scp =
∆
h) và tối đa có thể lấy đến :
Scp ≈ (0,5- 0,7) m +
∆
h
Trong đó :
∆
h - chiều cao cột nước kể từ mực nước tĩnh đến mái tầng chứa nước.
: m - chiều dày tầng chứa nước có áp.
2.1.2. Tiêu chí mức độ phức tạp của điều kiện ĐCTV
Đây là một trong những tiêu chí quan trọng khi đánh giá trữ lượng khai thác NDĐ,
nó quyết định việc lựa chọn phương pháp đánh giá trữ lượng cũng như việc thiết kế kh
ối
lượng công tác điều tra-đánh giá trữ lượng. Mức độ phức tạp của điều kiện ĐCTV được
xác định theo mức độ đồng nhất hay không đồng nhất về tính thấm của đơn vị chứa nước ;
cụ thể là dựa vào các chỉ tiêu về thành phần thạch học, tỷ lưu lượng và sự biến thiên hệ số
dẫn nước Trên cơ
sở đó mức độ phức tạp của điều kiện ĐCVT được chia làm 3 cấp độ
như sau: 1) ít phức tạp; 2) phức tạp; 3) rất phức tạp.
2.1.3. Tiêu chí về nguồn hình thành trữ lượng
Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng khi đánh giá trữ lượng khai thác
nước dưới đất. Việc xác định các nguồn hình thành trữ lượng khai thác NDĐ nhằm mục
đích:
công trình.
• Xác lập được xu hướng biến đổi chất lượng nước trong thời gian tính toán.
• Xác lập được sự thay đổi có thể giữa công trình khai thác và môi trường xung
quanh trong quá trình khai thác.
2.1.5. Tiêu chí về hiện trạng khai thác sử dụng nước
Việc định lượng TL NDĐ có thể khai thác cho một vùng còn phụ thuộc vào hiện
trạng khai thác sử dụng nước. Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước (theo quy định
13-2007-QĐ-BTNMT) bao gồm:
• Vị trí, lưu lượng, chế độ khai thác và biến đổi của lưu lượng khi khai thác.
• Mục đính khai thác, sử dụng nước của từng công trình và tổng lượng nước đang
khai thác trong phạm vị từ
ng dự án.
2.1.6. Tiêu chí về mức độ điều tra tài nguyên nước
Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu cấp độ chính xác của con số trữ lượng mà tiến
hành công tác điều tra tài nguyên nước theo từng giai đoạn khác nhau, tránh lãng phí khi
tiến hành công tác tìm kiếm, thăm dò quá mức cần thiết hoặc không đầy đủ. Kết quả điều
tra đánh giá ở mỗi giai đoạn được phân tích đánh giá để thiết kế cho giai đ
oạn sau. Trình tự
giai đoạn điều tra tài nguyên nước như sau: 1) tìm kiếm; 2) thăm dò sơ bộ; 3) thăm dò tỉ
mỉ; 4) thăm dò khai thác (thăm dò bổ sung). Tên gọi giai đoạn điều tra, số lượng giai đoạn
21
có thể được xem xét trong từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên tiêu chí giai đoạn là không
thay đổi.
2.1.7. Tiêu chí về chính sách quản lý tài nguyên nước dưới đất
Việc định lượng TL NDĐ có thể khai thác của công trình còn phụ thuộc vào nhu
cầu sử dụng nước, định hướng phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt phụ thuộc vào chính
sách quản lý tài nguyên nước dưới đất của vùng, miền và quốc gia.
2.1.8. Tiêu chí về quản lý lưu vực
Trong các lưu vực, để phát triển toàn diện nguồn nước thì sử dụng luân phiên nguồn
nước ngầm. Ngoài ra cần phải luôn ghi lại lưu lượng nước hút lên và lượng nước bổ sung
vào lưu vực, thường xuyên cập nhật thông tin về mực nước ngầm và chất lượng nước.
22
Để nghiên cứu sử dụng luân phiên nguồn nước cần thu thập đủ các dữ liệu về nguồn
nước mặt và nước ngầm, các điều kiện địa chất, các dữ liệu về hệ thống phân bổ nước và
sử dụng nước, các tài liệu về tiêu thoát nước thải.
Tổng lượng nước cung cấp có thể được tăng lên nếu xác định đúng đặc điểm, kh
ả
năng của các nguồn nước mặt và nước ngầm. Các yêu cầu cơ bản về lưu vực nước ngầm để
có thể quản lý tối ưu nguồn nước gồm có:
• Khả năng chứa nước của các khối nước mặt và các tầng chứa nước ngầm cần
phải kết hợp với nhau để đạt được tính sử dụng kinh tế nhấ
t của nguồn nước tại
chỗ và có được lưu lượng tối ưu đảm bảo cho khả năng bảo tồn nguồn nước.
• Hệ thống phân phối nước mặt cần phải kết hợp được với các đặc tính truyền dẫn
của lưu vực nước ngầm nhằm tạo ra giá rẻ nhất cho hệ thống phân phối.
• Các cơ quan đi
ều hành phải có đầy đủ quyền lực trong việc quản lý các nguồn
nước mặt, các nguồn cấp bổ sung cho nước ngầm, các hệ thống phân phối nước
mặt và khai thác nước ngầm.
2.2. Tiêu chí đánh giá trữ lượng NDĐ có thể khai thác cho công trình và
nhóm mỏ
Đánh giá trữ lượng NDĐ có thể khai thác cho công trình và nhóm mỏ dựa vào các
tiêu chí sau:
• Độ hạ thấp mực nước cho phép.
• Mức độ phức tạp của điều kiện địa chất thủy văn.
• Chất lượng nước và tác động môi trường.
• Nguồn hình thành trữ lượng.
• Mức độ điều tra tài nguyên nước.