Đề tài: Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực hiện nay ở Việt nam potx - Pdf 19


1
MỞ ĐẦU
Bất cứ một chương trình phát triển kinh tế xã hội nào của một đất nước, một
địa phương, hay một doanh nghiệp thì sự thành hay bại thường xuất phát từ một số
yếu tố cơ bản như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ và lao động. Trong các
yếu tố cơ bản quan trọng này thì việc quyết định sự phát triển kinh tế xã hội đó
chính là nhân tố con người. Đây cũng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với mọi
doanh nghiệp hiện nay. Nếu trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp thì tài
nguyên, vốn và công nghệ cũng sẽ trở thành lãng phí và tất yếu dẫn đến hiệu quả
kinh tế thấp. Do tính quan trọng này, để làm rõ vấn đề em chọn chủ đề “Vấn đề sử
dụng nguồn nhân lực hiện nay ở Việt nam”.
Mục tiêu chung của tiêu luận là: đánh giá thực trạng sử dụng nguồn nhân lực
ở Việt nam hiện nay.
Mục tiêu cụ thể: Tổng quát về tình hình lao động ở Việt nam hiện nay; Phân
tích thực trạng sử dụng nguồn nhân lực.
Để đạt mục tiêu nêu trên, phương pháp nghiên cứu được áp dụng là: phương
pháp thu thập số liệu, thông tin từ tạp chí, internet; phương pháp thống kê và phân
tích định tính.
Ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi phải có đội
ngũ lao động kỹ thuật với số lượng và chất lượng ngày càng cao. Ở nước ta lực
lượng lao động khá dồi dào, có trình độ học vấn căn bản làm cơ sở cho việc đào
tạo nghề nghiệp và nhanh chóng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới, sẵn sàng để được
tham gia vào các chương trình kinh tế xã hội của địa phương, kể cả tham gia xuất
khẩu lao động và người lao động hầu hết họ đều cần cù, chịu khó làm việc, có ý
thức học hỏi và chấp hành nội quy, chấp hành luật pháp khá nghiêm túc. Đây chính
là nguồn lực ban đầu cần thiết cho những quyết định đầu tư trong nước cũng như
kêu gọi hợp tác đầu tư của nước ngoài vào các dự án phát triển kinh tế. Nhưng để
nguồn nhân lực đó trở thành nội lực thực sự mạnh cho việc gọi vốn, thu hút công
nghệ, khai thác tiềm năng thiên nhiên thì phải đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp đào tạo
nghề nghiệp cho người lao động. Vì hiện nay trình độ qua đào tạo lành nghề ở

nguồn nhân lực là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu. Các chủ doanh
nghiệp đều cảm nhận được rằng, nền kinh tế ngày càng phát triển quá trình hội
nhập quốc tế ngày càng rộng mở thì việc thu hút nhân lực có trình độ càng cạnh
tranh gay gắt nhất là trong tình hình hiện nay khi Việt Nam gia nhập WTO những
tập đoàn quốc gia với lợi thế cạnh tranh về chính sách đãi ngộ, sẽ thúc đẩy các
doanh nghiệp trong nước vào chỗ khó khăn hơn, phải đương đầu với cuộc chiến
giành giật nhân tài.
Chúng ta đang bước vào thế kỷ XXI, với dự báo là trình độ khoa học kỹ thuật
thế giới sẽ phát triển như vũ bão và đất nước ta cũng trên đường tiến mạnh lên
công nghiệp hóa hiện đại hóa. Để giành được mục tiêu đó, có lẽ một trong những
việc phải được ưu tiên đầu tư đó là xây dựng nguồn nhân lực trong đó cần thiết
phải trang bị và không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động,
xem đó là điểm tựa của hệ thống đòn bẩy để thực hiện các chương trình phát triển
kinh tế xã hội.
Tóm lại, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là đầu tư cho phát
triển, một việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay và cho lâu dài về sau.
Có thể nói, trình độ lao động hay chất lượng của nguồn nhân lực là yếu tố quyết
định nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và cho doanh nghiệp nói riêng.
3
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG YẾU TỐ ĐẦU VÀO
CỦA SẢN XUẤT
1. Sản xuất là gì?
Sản xuất là hoạt động tạo ra sản phẩm - dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Nói cách khác, sản xuất là quá trình chuyển
hoá giữa các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra (hay sản phẩm). Thực tế cho
thấy rằng cách thức đối với các loại sản phẩm khác nhau là không giống nhau. Tuy

q
và 0


L
q
trong miền
xác định của nó vì trong một chừng mực nhất định khi sử dụng nhiều yếu tố đầu
vào hơn, nhà sản xuất sẽ sản xuất ra sản lượng cao hơn.
Hàm sản xuất áp dụng cho một trình độ công nghệ nhất định. Một hàm số f cụ
thể có thể đặc trưng cho một trình độ công nghệ nhất định. Khi công nghệ được cải

4
tiến thì hàm sản xuất sẽ thay đổi và sản lượng sẽ lớn hơn với cùng số lượng các
yếu tố như trước hay thậm chí ít hơn.

5
2. Năng suất biên và năng suất trung bình
2.1 Năng suất biên (MP)
Năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó (vốn hay lao động) là lượng
sản phẩm tăng thêm được sản xuất ra do sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất
đó, nếu các yếu tố khác là không đổi. Như vậy, năng suất biên của vốn và lao động
lần lượt là đạo hàm riêng của sản lượng (q) theo số lượng vốn (K) và số lượng lao
động (L):
KK
f
K
q
K
q

Quy luật năng suất biên giảm dần: Nếu số lượng của một yếu tố sản xuất tăng
dần trong khi số lượng các yếu tố sản xuất khác giữ nguyên thì sản lượng sẽ tăng
nhanh dần (nghĩa là năng suất biên của yếu tố sản xuất đó ngày càng lớn). Tuy
nhiên, vượt qua một mốc nào đó thì sản lượng sẽ gia tăng chậm hơn (nghĩa là năng
suất biên của yếu tố sản xuất đó ngày càng nhỏ nhưng vẫn còn dương). Nếu tiếp
tục gia tăng số lượng yếu tố sản xuất đó thì tổng sản lượng đạt đến mức tối đa
(năng suất biên bằng không) và sau đó sẽ sút giảm (năng suất biên ngày càng nhỏ
và mang giá trị âm).
Đứng trên phương diện toán học, quy luật năng suất biên giảm dần tương ứng
với giả định là đạo hàm riêng bậc hai của hàm sản xuất là âm.
0
2
2






KK
K
f
K
q
K
MP

0
2
2

AP
K
 , trong đó: AP
L

AP
K
lần lượt là năng suất trung bình của lao động và của vốn.

6
Năng suất trung bình của một yếu tố sản xuất giảm xuống khi năng suất biên
thấp hơn năng suất trung bình và ngược lại năng suất trung tăng lên khi năng suất
biên lớn hơn năng suất trung bình.
2.4 Tác động của tiến bộ công nghệ đến sản lượng
Mối quan hệ giữa số lượng yếu tố đầu vào và sản lượng được quyết định bởi
công nghệ sản xuất. Hay nói cách khác, công nghệ sản xuất là cách thức sản xuất
ra hàng hoá - dịch vụ. Công nghệ được cải tiến khi có những phát minh khoa học
mới được áp dụng vào sản xuất. Công nghệ tiến bộ sẽ giúp sử dụng tài nguyên hiệu
quả hơn. Điều này có nghĩa là công nghệ mới có thể giúp sản xuất ra nhiều sản
phẩm hơn với cùng số lượng các yếu tố đầu vào như trước hay thậm chí ít hơn. Với
công nghệ mới, máy móc thiết bị có năng suất cao hơn và công nhân có thể đạt
năng suất cao hơn. Những điều này làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế. Vì
vậy, công nghệ sản xuất thường được xem như là một yếu tố phản ánh trình độ
phát triển của nền kinh tế về phương diện sản xuất.
3. Đường đẳng lượng
3.1 Đường đẳng lượng
Các kết hợp của các yếu tố đầu vào tạo ra cùng một sản lượng sẽ được biểu
diễn trên một đường đẳng lượng.
Đường đẳng lượng cho biết các kết hợp khác nhau về mặt số lượng của vốn
(K) và lao động (L) để sản xuất ra một số lượng sản phẩm nhất định q

thêm một đơn vị lao động mà không làm thay đổi tổng sản lượng.

7
Công thức tính tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên:

00 qqqq
LchoK
dL
dK
L
K
MRTS





Trong đó: MRTS
L cho K
là tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên của lao động cho vốn.
Ký hiệu q = q
0
cho ta thấy là việc tính toán tỷ lệ thay thế biên được thực hiện trên
đường đẳng lượng q
0
. Dấu (-) trong đẳng thức giữ cho tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên
luôn có giá trị dương. Vì vậy, tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên cho biết độ lớn của sự
thay thế giữa vốn và lao động. Căn cứ vào công thức này ta có thể thấy nghịch dấu
với độ dốc của đường đẳng lượng tại một điểm nào đó chính là tỷ lệ thay thế kỹ
thuật biên của lao động cho vốn tại điểm đó. Đó là vì q

a
q
K  . Như vậy, đường đẳng lượng của hàm số này là
những đường thẳng song song có độ dốc
a
b

.
Trong trường hợp hàm sản xuất này, vốn và lao động có thể hoàn toàn thay
thế cho nhau. Nhà sản xuất có thể chỉ sử dụng vốn hay lao động cho sản xuất tuỳ
thuộc vào giá của chúng.
4.2 Hàm sản xuất với tỷ lệ kết hợp cố định


bLaKq ,min ;


0, ba . Phương trình hàm sản xuất này cho biết sản lượng
bằng với giá trị nhỏ nhất của hai giá trị trong ngoặc.
- Nếu aK < bL thì q = aK. Trong trường hợp này, vốn là yếu ràng buộc đối với
sản lượng. Việc tăng thêm lao động không làm không làm gia tăng sản lượng nên
MP
L
= 0. Vốn là yếu tố quyết định.
- Nếu aK > bL thì q = aL. Trong trường hợp này, lao động là yếu ràng buộc
đối với sản lượng. Việc tăng thêm vốn không làm không làm gia tăng sản lượng
nên MP
K
= 0. Lao động là yếu tố quyết định.


Phương trình đường đẳng phí có dạng: TC = vK + wL, trong đó TC là tổng
chi phí, v là đơn giá vốn, w là đơn giá lao động, vK là chi phí cho vốn, wL là chi
phí cho lao động. Phương trình này cho biết tổng chi phí cho vốn (vK) và cho lao
động (wL) phải bằng với tổng chi phí (TC).
Sự đánh đổi giữa vốn và lao động được biểu diễn bằng độ dốc của đường
đẳng phí. Nếu gọi S là độ dốc của đường đẳng phí, ta có thể viết:
v
w
w
TC
vTC
S 
/
/

S bằng với tỷ số giữa đơn giá của lao động và vốn và không phụ thuộc vào
tổng chi phí. Do đó, khi giá của các yếu tố đầu vào thay đổi thì độ dốc của đường
đẳng phí thay đổi.

9
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Tổng quan về lao động - việc làm
1.1. Về dân số và lao động
Nước ta có quy mô dân số lớn, tốc độ tăng dân số bình quân tương đối cao.
Dân số cả nước năm 2000 là 77.635,4 nghìn người, đến năm 2005 là 83.119,9
nghìn người. Như vậy trong 5 năm, bình quân mỗi năm tăng khoảng 1,1 triệu
người. Tỷ lệ dân số giữa thành thị và nông thôn có sự thay đổi theo chiều hướng
tích cực, song còn chậm. Tỷ trọng dân số thành thị tăng từ 24,22% năm 2000 lên
26,75% năm 2005. Dân số chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, năm 2005 có


10
Tuy nhiên, tỷ lệ lao động biết chữ nhưng mới đạt trình độ tiểu học và dưới tiểu học
còn cao, tỷ lệ mù chữ cũng còn khá cao. Tình trạng tái mù chữ xuất hiện ở nhiều
nơi, nhất là ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, khiến cho tỷ lệ người chưa biết chữ
đã tăng lên từ 3,58% năm 2001 lên 5,0% năm 2004. Tuy nhiên tình trạng này đã
được cải thiện bằng việc tích cực thực hiện chủ trương phổ cập tiểu học và xóa mù
chữ. Đến năm 2005, tỷ lệ mù chữ đã giảm xuống còn 4,0%. Tỷ lệ lao động chưa tốt
nghiệp tiểu học giảm từ 16,48% năm 2000 xuống còn 11, 95% năm 2005. Nhìn
vào số lượng và tỷ lệ thì tình hình dường như đã được cải thiện, song về chát lượng
thì đây vẫn là vấn đề có nhiều bất cập.
Trong thực tế còn có sự cách biệt khá lớn về trình độ học vấn của LLLĐ giữa
thành thị và nông thôn cũng như giữa các vùng, miền lãnh thổ. Năm 2003, ở khu
vực thành thị, cứ 100 người tham gia LLLĐ thì có 67 người tốt nghiệp phổ thông
cơ sở trở lên, cao gấp 1,5 lần so với chỉ số này ở khu vực nông thôn. Trong khi đó
tỷ lệ mù chữ hoặc chưa tốt nghiệp tiểu học, trong khi ở Đồng bằng sông Cửu Long
có các chỉ số tương ứng là: 11, 16 và 33; ở Tây Bắc là: 12,23 và 35; ở Tây Nguyên
là: 16,26 và 26. Các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải Nam Trung Bộ là
những vùng đông dân cư, tiềm năng sản xuất lớn, nhưng tỷ trọng lao động chưa
biết chữ cao, tỷ lệ lao động có trình độ học vấn cấp THCS và THPT còn thấp.
Trình độ học vấn của LLLĐ ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa vẫn thấp hơn nhiều
so với các vùng khác. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả
năng tăng năng suất lao động và thu hút vốn đầu tư của vùng.
+ Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Những năm gần đây, chât lượng của
nguồn lao động nước ta về phương diện chuyên môn kỹ thuật đã được cải thiện
đáng kể, tỷ lệ lao động được đào tạo tăng lên: từ 19,62% năm 2002 tăng lên 21%
năm 2003, 22,5% năm 2004, và 24,79% năm 2005. Tuy nhiên đây vẫn là con số ít
ỏi so với yêu cầu của thị trường lao động đang ngày càng phát triển, đặc biệt là ở
các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp và các khu đô thị tập trung.
Nhiều ngành, nhiều địa phương còn rất thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ

2003 39585,0 - 9533,6 30051,4
2004 40792,6 19604,0 10140,7 30651,9
Nguồn: Thực trạng lao động - việc làm 1996 đến 2004.
* Cơ cấu lao động chia theo nhóm ngành kinh tế:
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã có tiến bộ, song còn
khó khăn và chậm chạp. Đến nay đại bộ phận lực lượng lao động vẫn tập trung
trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp. Tỷ trọng lao động trong nông - lâm - ngư
nghiệp chiếm tới 57,90% năm 2004, và 56,80% (đến 1.7.2005), số liệu tương ứng
các năm trong ngành công nghiệp và xây dựng là 17,4% và 17,9%, trong ngành
dịch vụ là 24,7% và 25,3% trong tổng số lao động có việc làm của cả nước. (xem
bảng 2). Tỷ trọng lao động trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp cao phản ảnh mức
độ thu hút lao động vào các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa thực sự đủ mạnh
để có thể làm thay đổi một cách căn bản cơ cấu lao động xã hội.
BẢNG 2. CƠ CấU LAO ĐộNG CÓ VIệC LÀM Cả NƯớC THEO NHÓM NGÀNH KINH Tế
Đơn vị tính:%
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nông-lâm-ngư nghiệp 62,61 62,76 61,14 58,35 57,90 56,80
Công nghiệp-xây dựng

13,10 14,42 15,05 16,96 17,40 17,9
Dịch vụ 24,28 22,82 23,81 24,69 24,70 25,3
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 98, năm 2005, tr.21, và Báo Lao
động, ngày 18-11-2005

Đặc điểm nổi bật nhất trong cơ cấu lao động có việc làm là sự chênh lệch lớn
giữa các vùng. Năm 2005, vùng được coi là có cơ cấu lao động tiến bộ nhất là
vùng Đông Nam Bộ (tương ứng với các vùng I, II, III là: 27,8%, 30,9%; 41,3%);
vùng có cơ cấu lao động kém phát triển nhất là vùng Tây Bắc với gần 84,87% lao
động làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, chỉ có 5,23% lao động làm
việc trong ngành công nghiệp và xây dựng, và 9,9% làm việc trong ngành dịch vụ.

Trong các vùng lãnh thổ, tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi ở khu vực
thành thị đã giảm xuống ở 5 vùng là: Đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Bắc Trung
Bộ, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, và tăng lên ở các vùng Tây Bắc,
Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, thì thất nghiệp không chỉ có ở LLLĐ
chưa qua đào tạo (chiếm 8%) mà còn có ở các nhóm lao động đã qua đào tạo (tỷ lệ
thất nghiệp của LLLĐ đã tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp là 4,4%; đã tốt
nghiệp cao đẳng, đại học là 3,8%). Trong tổng số lao động thất nghiệp ở thành thị,
số người chưa tìm được việc làm sau khi thôi học hoặc tốt nghiệp các cơ sở đào tạo
chiếm tới 73,7%. Đây cũng là một trong những vấn đề quan trọng cần phải quan
tâm giải quyết bởi phần lớn số lao động này là những người còn trẻ tuổi, có sức
khỏe, có trình độ học vấn, có tay nghề
Bên cạnh vấn đề thất nghiệp ở thành thị, vấn đề thời gian lao động ở nông
thôn chưa được sử dụng vẫn là một vấn đề bức xúc. Nếu xét một cách tương đối thì
tỷ lệ thời gian lao động chưa được sử dụng ở khu vực này là 20,6%, nếu tính theo
số tuyệt đối thì nghĩa là sẽ có là gần 7 triệu người thiếu việc làm.

13
1.5. Vấn đề di cư lao động
Thực tế ở nước ta hiện nay do di cư lao động đang là một vấn đề lớn. Di cư từ
nông thôn ra thành thị, từ ngành nghề này sang ngành nghề khác, từ nơi làm việc
có thu nhập thấp sang nơi làm việc có thu nhập cao, từ nơi có ít cơ hội việc làm
đến có nhiều cơ hội việc làm (như ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị
tập trung ). Đây là một quy luật tự nhiên trong quá trình phát triển đến vùng phát
triển hơn, từ nông thôn ra thành thị có xu hướng gia tăng, khó kiểm soát. Ước tính
năm 2004, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng hơn 80.000 lao động, Hà Nội có hơn
20.000 lao động làm việc thường xuyên đến từ các tỉnh khác. Số liệu thống kê của
bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy số lao động di cư ra khỏi vùng lãnh
thổ để kiếm việc làm ở nơi khác cao nhất là Duyên hải Nam Trung Bộ (29,4%),
sau đó là Đồng bằng sông Cửu Long (24,1%), thấp nhất là Tây Nguyên (0,7%) và


14
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng lao động thừa mà thiếu đang diễn ra, đây là
một khó khăn lớn cần giải quyết: Theo dự báo của các chuyên gia lao động, năm
2007, thị trường trong nước tiếp tục khan hiếm lao động cấp cao; lao động bậc
trung và phổ thông tại các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) cũng thiếu,
cụ thể như sau:
Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, trong năm 2007, 15
KCN, KCX của Thành phố cần tuyển 51.750 lao động, trong đó 38.295 lao động
phổ thông. Còn tại Bình Dương, theo bà Nguyễn Hoài Nam, Trưởng phòng Quản
lý lao động các KCN Bình Dương, trong năm 2007, nhu cầu tuyển dụng lao động
tại các KCN là 20.000 người. Trong đó, lao động phổ thông chiếm 85%, số còn lại
tập trung vào lao động có tay nghề trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học.
Phản ánh từ các trung tâm giới thiệu việc làm (GTVL) ở TP.HCM cho thấy,
quý I/2007, nhu cầu tuyển dụng lao động, nhất là lao động phổ thông tăng vọt,
nhưng số ứng viên đến đăng ký tìm việc làm lại giảm. Sự khan hiếm lao động này
gây khó khăn cho các doanh nghiệp, nhưng đó lại là tín hiệu tốt, khi các doanh
nghiệp phải cạnh tranh gay gắt để thu hút và giữ chân người lao động, thì họ buộc
phải tăng cường cải thiện đời sống và sinh hoạt cho người lao động. Từ đó, người
lao động có thể yên tâm làm việc lâu dài, với mức thu nhập có thể trang trải được
cuộc sống tốt hơn.
Dịch chuyển lao động ở các KCX, KCN tại TP.HCM đã và đang ngày càng rõ
nét, tạo ra những nguy cơ về thiếu hụt lao động khi cân đối lại các ngành nghề.
Theo phân tích của Ban Quản lý các KCX-KCN TP.HCM (HEPZA), những năm
tới, nhu cầu lao động sẽ thay đổi theo từng ngành nghề, theo hướng giảm dần các
ngành thâm dụng lao động trình độ thấp, ưu tiên các ngành sản xuất công nghệ cao
sử dụng nhiều công nhân lành nghề, lao động kỹ thuật bậc cao.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm GTVL TP.HCM cho biết, qua
khảo sát 2.300 doanh nghiệp đóng trên địa bàn, các nhóm ngành: kỹ thuật - công
nghệ phục vụ sản xuất, điện tử - viễn thông, cơ khí chính xác, công nghệ - thông

lượng, về mặt chất lại còn là vấn đề bức xúc hơn). Vì vậy, sự phát triển kinh tế ở
khu vực này còn gặp nhiều khó khăn trong đó có khó khăn lớn thiếu nguồn nhân
lực có trình độ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở lợi thế của vùng.
2.3 Chất lượng lao động: Nhìn vào số liệu về phân bổ lực lượng lao động
giữa các khu vực cũng đã phần nào nói lên chất lượng lao động ở nước ta. Phần
lớn lao động ở khu vực nông thôn chưa qua đào tạo, hoặc đào tạo không cơ bản,
trình độ văn hóa thấp. Vì trên thực tế hiện nay yêu cầu lao động ở đây cũng chủ
yếu là lao động phổ thông là chính, những ngành nghề đòi hỏi trình độ cao ở khu
vực này chưa phát triển.
Hiện nay lực lượng đã qua đào tạo (tính lao động được đào tạo từ 3 tháng trở
lên) trong cả nước chiếm 25%, lao động từ bậc tiểu học trở xuống chiếm 42,5%,
lao động mù chữ 5%. Trình độ đào tạo của Việt Nam còn nhiều bất cập so với yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng.
Vì vậy, nhu cầu lao động có chất lượng cao (tức lao động có trình độ chuyên môn
cao, có tác phong lao động công nghiệp, có ý thức, kỷ luật cao) ngày càng tăng.
Mặt khác, từ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh kinh tế
thế giới thì vấn đề chất lượng lao động ở nước ta trở thành một vấn đề bức xúc của
nền kinh tế và là nguyên nhân cơ bản của tình trạng lao động thiếu việc làm hiện
nay. Chúng ta vẫn thường nói: lao động ở nước ta còn dư thừa, điều ấy là đúng
nhưng chưa đủ, ta chỉ dư thừa lao động phổ thông (lao động không có tay nghề)
nhưng lại rất thiếu những lao động có trình độ chuyên nghiệp, tay nghề giỏi, thiếu
những lao động nghiên cứu khoa học để ứng dụng thành tựu đó là phát triển kinh
tế - xã hội cho đất nước.
2.4 Tác động của WTO đối với việc làm tại Việt Nam
Tác động của gia nhập WTO đối với việc tạo thêm việc làm thể hiện ở 3 khu
vực: Thứ nhất là khu vực đầu tư nước ngoài dưới tác động của các điều khoản về
đầu tư; thứ hai là các doanh nghiệp sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu, đặc biệt là
những ngành sử dụng nhiều lao động, dưới tác động của các điều khoản về thương
mại; thứ ba là tại các khu vực tuy không – giao thương quốc tế trực tiếp nhưng do
việc gia tăng giao thương quốc tế có ảnh hưởng nhất định tới kích cầu nội địa về

nhập WTO sẽ giúp Việt Nam tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế,
từ đó hình thành một cơ cấu kinh tế - xã hội có hiệu quả hơn, đẩy nhanh, rút ngắn
tiến trình hiện đại hóa.
Nói tóm lại lực lượng lao động ở nước ta đông nhưng không mạnh, sự phân
bổ và sử dụng lao động còn nhiều điều bất hợp lý với một nền kinh tế chuyển đổi
và thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH.
3. Những vấn đề đặt ra về lao động, việc làm và hướng giải quyết
* Sự mất cân đối giữa cung và cầu về lao động trên các mặt sau đây:
- Về chất lượng đội ngũ lao động: Do yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi lao động chất lượng cao ngày càng
lớn. Nhưng trên thực tế đội ngũ lao động của chúng ta đang hụt hẫng trước yêu cầu
đó. Chúng ta vừa thiếu cả thầy và thiếu cả thợ, khác một số ý kiến cho rằng Việt
Nam “thừa thầy thiếu thợ”. Chúng ta “thiếu thầy” tức là thiếu đội ngũ cán bộ quản
lý và các chuyên gia giỏi để vận hành nền kinh tế có hiệu quả; “thiếu thợ” là thiếu
đội ngũ công nhân lành nghề, có tính chuyên nghiệp cao. Vì vậy, vấn đề nâng cao
chất lượng đội ngũ lao động trở thành nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược giải

17
quyết việc làm ở nước ta. Nó vừa là điều kiện là tiền đề để giảm thất nghiệp và cải
thiện đời sống cho người lao động.
- Về cơ cấu lao động: Cơ cấu lao động và cơ cấu việc làm đang có sự mất cân
đối lớn xét theo ngành, vùng kinh tế. Điều đó nó được thể hiện sự phân bổ lao
động bất hợp lý giữa các ngành, vùng kinh tế, đẩy đến tình trạng một số ngành và
vùng kinh tế có lao động dôi dư, tỷ lệ lao động thất nghiệp cao. Hiện tượng lao
động ở các khu vực nông thôn ra tìm việc làm ở thành thị đã minh chứng cho điều
đó. Ngược lại một số ngành (ngành có kỹ thuật cao) thiếu lao động buộc chúng ta
thuê lao động nước ngoài. Để sử dụng lao động có hiệu quả thì việc chuyển dịch
cơ cấu lao động là yêu cầu quan trọng trong chính sách lao động – việc làm hiện
nay.
- Về cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực: Cơ cấu đào tạo ảnh hưởng trực tiếp cơ

* Lao động dôi ra từ việc sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước trong
thời gian qua cũng là một trong những nhân tố tác động lớn đến lao động – việc
làm của nền kinh tế. Hiện nay có khoảng hơn 10 vạn lao động dôi dư khi thực hiện

18
việc sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước, nhìn chung lực lượng lao động
này khả năng phát triển rất hạn chế, tuy nhiên họ vẫn nằm trong lực lượng lao động
của quốc gia. Hướng giải quyết lực lượng lao động đó là việc khuyến khích phát
triển nhiều thành phần kinh tế để họ có thể tự nguyện tham gia lao động phù hợp
với khả năng của họ (tức là hướng giải quyết chủ yếu để họ tự tìm và tạo việc làm).
Từ bức tranh lao động – việc làm ở nước ta hướng giải quyết cơ bản cần tập
trung vào những vấn đề sau:
- Đào tạo nguồn nhân lực: Đây là bước đi căn bản đầu tiên, đặt nền tảng cho
việc giải quyết việc làm ổn định, bền vững. Đặc biệt chú ý đến chất lượng đào tạo,
cơ cấu đào tạo và gắn nó với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Công tác đào tạo
phải hướng tới mục tiêu chuyển thế hệ lao động nông nghiệp sang lao động công
nghiệp (lao động có kỹ thuật, kỷ luật). Để thực hiện được mục tiêu đó là một quá
trình lâu dài và có lộ trình thực hiện cho từng giai đoạn nhất định, không thể nóng
vội, đốt cháy giai đoạn.
- Đầu tư có hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội để đa
dạng hóa mô hình tạo việc làm, chú ý tạo việc làm tại chỗ trên cơ sở chuyển dịch
cơ cấu kinh tế để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, ổn định trật tự an toàn xã
hội. Mặt khác, phải phát triển các ngành khoa học kỹ thuật cao để thu hút lao động
có chất lượng để tăng thu nhập và khuyến khích người lao động có ý thức nâng cao
trình độ. Đây là một trong những yếu tố tạo sự ổn định và phát triển bền vững đối
với lao động và việc làm.
- Phát triển thị trường lao động: phát triển thị trường lao động để lao động
được xã hội hóa, người lao động được quyền tham gia trao đổi sức lao động trên
thị trường theo quan hệ kinh tế thị trường. Điều đó vừa đảm bảo lợi ích cho người
lao động, vừa tạo động lực thúc đẩy chất lượng đội ngũ lao động. Trong những

tìm được người. Thị trường lao động đang khan hiếm tất cả các loại giám đốc,
chuyên gia trên mọi lĩnh vực. Thậm chí, những người giỏi nhất về marketing trên
thị trường hiện nay chỉ "đếm được trên đầu ngón tay". Với những vị trí cao cấp
như vậy, nhiều Cty phải giành giật nhau để có được người tốt nhất. 20

21
KẾT LUẬN
Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên quý giá đối với một quốc gia nói chung
và đối với từng doanh nghiệp nói riêng, nhất là trong gia đoạn hội nhập với khu
vực và quốc tế như hiện nay và áp lực về sức cạnh tranh đối với từng doanh nghiệp
ngày càng gay gắt và họ luôn tìm cách để săn tìm những con người có trình độ
chuyên môn giỏi về mình bằng nhiều hình thức khác nhau.
Ở nước hiện nay đang sở hữu nguồn nhân lực trẻ rất dồi dào, lượng lao động
từ 15 tuổi trở lên cả nước là 43.255 nghìn người. Trong đó lực lượng lao động ở
nhóm tuổi 15 – 34 tuổi chiếm 46,8%, từ 35 – 54 tuổi chiếm 35,4%, trên 55 tuổi
chiếm 7,8%. Như vậy lực lượng lao động trẻ (dưới 35 tuổi) ở nước ta chiếm xấp xỉ
50% và chất lượng của nguồn lao động về phương diện chuyên môn kỹ thuật đã
được cải thiện đáng kể, tỷ lệ lao động được đào tạo tăng lên: từ 19,62% năm 2002
tăng lên 21% năm 2003, 22,5% năm 2004, và 24,79% năm 2005. Đây là lợi thế của
nước ta và đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh nguồn cung lao động trẻ
dồi dào đó chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn đó là chất lượng lao động, sự phân
bố lao động bất hợp lý giữa thành thị và nông thôn.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì nhu cầu của doanh
nghiệp không còn là lao động đơn giản mà là lao động có trình độ chuyên môn đã
qua đào tạo. Do đó với nguồn lao động ở nước ta hiện nay so với yêu cầu là chưa
đáp ứng đủ về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn đã qua đào tạo, đặc biệt là
nguồn nhân lực có chuyên môn giỏi. Như vậy giải pháp nào để cải thiện chất lượng

đó, lãnh đạo công ty ra điều kiện, sau khi tuyển dụng kỹ lưỡng, sinh viên phải
được đào tạo sâu hơn, toàn diện hơn, để thành cán bộ quản trị giỏi.
Tóm lại để thích ứng được với sự phát triển của nền kinh tế đang biến đổi
hàng ngày như hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công
nghệ thì cần có sự phối hợp chặt chẽ từ phía nhà nước, doanh nghiệp, hệ thống đào
tạo và bản thân người lao động.
Contents
Contents
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG YẾU TỐ ĐẦU VÀO 3
CỦA SẢN XUẤT 3
1. Sản xuất là gì? 3
1.1 Yếu tố đầu vào (yếu tố sản xuất) và yếu tố đầu ra (sản phẩm) 3
1.2 Hàm sản xuất 3
2. Năng suất biên và năng suất trung bình 5
2.1 Năng suất biên (MP) 5
2.2 Quy luật năng suất biên giảm dần 5
2.3 Năng suất trung bình (AP) 5
2.4 Tác động của tiến bộ công nghệ đến sản lượng 6
3. Đường đẳng lượng 6
3.1 Đường đẳng lượng 6
3.2 Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS) 6
4. Một số hàm sản xuất thông dụng và đường đẳng lượng tương ứng 7
4.1 Hàm sản xuất tuyến tính 7
4.2 Hàm sản xuất với tỷ lệ kết hợp cố định 7
4.3 Hàm sản xuất COBB-DOUGLAS 8
6. Đường đẳng phí 8
CHƯƠNG 2: 9
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status