hệ thống chủ đề trong Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm_7 - Pdf 19

hệ thống chủ đề trong Bạch Vân Quốc
Ngữ Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm

(Bài số 74)
Lời thơ trên thể hiện ý khinh bạc có phần mỉa mai về lẽ đời, sự đổi thay
của lòng người, thời thế. Có lẽ đây là kinh nghiệm đúc rút từ cuộc đời
làm quan cũng như những va vấp thực tế của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nghe
sao ngậm ngùi và chua xót. Không chỉ có vậy, ta còn thường gặp những
câu thơ hàm ý châm biếm nhẹ nhàng nhưng vẫn thấm thía xiết bao:
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử,
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.
(Bài số 71)
Không những thế, sự đời khi giàu sang thì thiên hạ khối kẻ đến cầu cạnh
luồn cúi nhưng đâu phải vì phẩm giá thanh cao hay tốt đẹp của chủ nhân
mà chính là vì kẻ đó có của đó thôi “nhị kết hoa thơm; mỡ bùi mật
ngọt”. Giả sử người nghèo khó thì lấy ai “náo nức”? Thế mới thấy
Nguyễn Bỉnh Khiêm có cái nhìn sắc sảo và lối nói thâm thúy biết bao về
những điều hiểm hóc và sâu kín của lòng người. Bạch Vân quốc ngữ thi
là tập thơ tiêu biểu của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Giống như các nhà thơ
khác, ông làm thơ chữ Nôm khi tâm hồn đã thực sự thư thái, làm thơ là
để nói những điều gần gũi, giản dị, những mơ ước đời thường nhưng vô
cùng chính đáng, cao quý. Về phương diện này, ta thấy trong Bạch Vân
quốc ngữ thi tập những lời tâm sự kín đáo thể hiện quan điểm sống của
Nguyễn Bỉnh Khiêm mà vì thời cuộc ông không thể “nói to” lên được.
3.3. Biểu trưng hóa đối tượng miêu tả
Đến thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ vịnh vật đã phát triển và đạt đến độ
phong phú, đa dạng. Ngay trong thơ chữ Hán của ông, chúng ta cũng bắt
gặp rất nhiều những vần thơ vịnh vật. Và có thể nói, chưa tác giả thơ chữ
Hán nào vịnh sự vật nhiều như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong Bạch Vân
quốc ngữ thi tập có cả một tập hợp những bài thơ vịnh vật với những
chủ đề về bầu trời, về thời tiết khí hậu, về mặt đất, về nơi ở của người,

Tất cả những ấn tượng mơ hồ, những cảnh đẹp như chốn bồng lai tiên
cảnh ấy đã được tác giả khắc họa thành hình hài và chuyển thành những
ý thơ đầy chất lãng mạn: nào là “ Đợi trăng cài bóng trúc”, “chờ gió thổi
tin hoa”,“bến nguyệt - am mây” Chính nhờ nghệ thuật biểu trưng hóa
đối tượng miêu tả mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “thơ hóa” những ấn tượng
rất lãng mạn, bay bổng ẩn sâu trong tâm thức của mình thành những
hình ảnh giàu sức gợi tả, đáng yêu. Động từ “cài”, “thổi” đã khiến thiên
nhiên như người bạn tâm tình đem đến niềm vui, tin vui chia sẻ, gần gũi
với con người. Không chỉ có vậy, “bến nguyệt”, “am mây” đã trở nên có
hình hài khi có thêm “ thuyền kề” bến ấy, “cửa” ấy!
Nghệ thuật biểu trưng hóa đối tượng miêu tả còn được tác giả sử dụng
rất thành công khi đi vào khai thác các chủ đề cụ thể khác: Khi nói về
cái thú “nhàn”, hình ảnh nhàn của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khéo
léo ghi lại những chi tiết “đắt giá” nhất, tiêu biểu nhất, có tính chất khái
quát nhất nhưng thể hiện đầy đủ, ấn tượng về một cách sống, một triết lý
sống của mình:
Tóc đã thưa, răng đã mòn,
Việc nhà đã phó mặc dâu con.
Bàn cờ, cuộc rượu vầy hoa trúc,
Bó củi, cần câu chốn nước non.
Nhàn được thú vui hay nấn ná,
Bữa nhiều muối bể chứa tươi ngon.
Chín mươi thì kể xuân đã muộn,
Xuân ấy qua thì xuân khác còn.
(Bài số 32)
Chỉ qua vài nét “chấm phá”, ông đã ghi lại một cách chân thực hình
dáng “tóc thưa, răng mòn” nhưng vẫn vô cùng lạc quan, yêu đời của một
con người sống trọn vẹn với triết lý nhàn, tìm niềm vui trong cảnh vật
“bàn cờ, cuộc rượu, bó củi, cần câu,” “chốn nước non”. Một vài nét đó
thôi nhưng đã thấy cả một niềm vui sống, ham sống, lạc quan sống:

nên sắc nét, có chiều sâu hơn, có sức gợi hơn, đảm bảo “lời ít” mà “ý
nhiều”, hình ảnh thơ cũng trở nên gần gũi, dễ hiểu.
Ta có thể thấy rằng thơ quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một nội
dung phong phú, đa dạng, sâu sắc gắn liền với sự phong phú, đa dạng và
sâu sắc của hệ thống vấn đề cơ bản mà ông quan tâm, chú ý phản ánh
trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập. Để thể hiện hệ thống vấn đề đó,
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm cho thơ mình những nghệ thuật biểu hiện
không những phù hợp mà còn rất đặc sắc so với các tác giả khác, từ đó
tạo nên “chất thơ” thâm trầm, sâu lắng nhưng vẫn vô cùng gần gũi, dễ
hiểu. Những hình thức nghệ thuật cơ bản mà ông dùng trong Bạch Vân
quốc ngữ thi có thể kể đến đó là: nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: thơ ông
vừa có lối nói khẩu ngữ bình dị, tự nhiên vừa có cách nói ẩn ý sâu kín;
nghệ thuật miêu tả biểu trưng hóa đối tượng miêu tả.Chính vì lẽ đó, thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn được xếp vào hàng thơ hay, bản thân ông
cũng là một nhà thơ vào loại lớn của dân tộc. Tầm vóc lớn của thơ ông-
cả về nội dung lẫn hình thức vẫn mãi là một cái mốc đẹp không thể thay
thế và làm say mê nhiều trái tim yêu công chúng văn học.
PHẦN C
KẾT LUẬN

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật tương đối đặc biệt trong lịch sử

răn con người. Tuy các chủ đề mà ông quan tâm, phản ánh trong Bạch
Vân quốc ngữ thi tập không nhiều mới mẻ so với thơ văn trước đó, song
khi đi vào thơ ông, chúng đã có một diện mạo khác hẳn: phong phú, đa
dạng, thống nhất, qua đó thể hiện sâu sắc các vấn đề nhân sinh thế sự
cũng như thể những trăn trở, suy nghĩ; quan điểm sống và niềm vui sống
của bản thân ông. Có thể nói, khi Bạch Vân quốc ngữ thi tập ra đời thì
thơ văn trung đại đã có thêm một hệ thống các chủ đề, hơn nữa lại được
phản ánh một cách hoàn chỉnh, phong phú, tập trung, đặc sắc trong một
tác phẩm.
Ngoài ra, những đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm về mặt nghệ thuật
trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập cũng rất đáng kể. Để thể hiện cho các
chủ đề như đã nói ở trên, trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, tùy từng nội
dung cụ thể, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vận dụng rất linh hoạt, thành công
giữa lối nói khẩu ngữ bình dị, tự nhiên với cách nói ẩn ý thâm trầm, sâu
sắc. Điều đó khiến cho thơ ông vừa gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng
ngày của quần chúng nhân dân vì thế mà trở nên dễ hiểu; đồng thời vẫn
có được chiều sâu trí tuệ mà càng đọc ta càng vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị
hay tự mình chiêm nghiệm về bản thân, về lẽ đời.
Không những ta kính phục cái phẩm cách của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm
mà ta còn phải nhìn nhận cái địa vị rất cao và rất xứng đáng của cụ trong
văn học nước nhà. Cuốn “ Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của cụ là một sự
tiến bộ đầu tiên rất rõ rệt của nền văn Nôm. Thơ của cụ ít dùng điển tích,
ít dùng chữ Hán, chất phác, hồn hậu, tư tưởng lại thanh cao, tình cảm rất
chừng mực, điều hoà. Vừa mới từ giã những bài văn Nôm cổ kính nặng
nề của các thi sĩ đời Hồng Đức, ta gặp những bài thơ sáng sủa, dễ dàng
của cụ tự nhiên có cảm giác nhẹ nhàng khoan khoái như cái khoan khoái
thấm nhuần tâm hồn cụ khi ở Bạch Vân am nay lại thoát ra khỏi lời thơ
mà ảnh hưởng đến ta vậy.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status