Hệ thống chủ đề trong bạch vân quốc ngữ thi của nguyễn bỉnh khiêm - Pdf 86

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
--------------  --------------

VŨ THANH HUYỀN
HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ TRONG BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI
CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGÔ GIA VÕ
Thái Nguyên, năm 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 8
4. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 8
6. Đóng góp của đề tài ................................................................................. 9
7. Cấu trúc luận văn ..................................................................................... 9
PHẦN NỘI DUNG ...................................................................................... 10
CHƢƠNG 1 ................................................................................................. 10
TIỀN ĐỀ XÃ HỘI LỊCH SỬ CỦA HIỆN TƢỢNG ĐA CHỦ ĐỀ TRONG
BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM ................... 10
1.1. Khái niệm chủ đề ............................................................................... 10
1.2. Một số chủ đề nổi bật của thơ Việt Nam trƣớc thời Nguyễn Bỉnh
Khiêm ...................................................................................................... 11
1.2.1. Chủ đề vịnh vật ........................................................................... 11
1.2.2. Chủ đề thiên nhiên ...................................................................... 15
1.2.3. Chủ đề đời tƣ .............................................................................. 19
1.2.4. Chủ đề ngôn chí .......................................................................... 27
1.3. Nguồn gốc của hiện tƣợng đa chủ đề trong Bạch Vân quốc ngữ thi của
Nguyễn Bỉnh Khiêm ................................................................................. 33
1.3.1. Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nhà văn hóa ........................................... 33

hội ngày càng bộc lộ rõ, cùng với nó là sự bất lực của nhà nƣớc phong kiến.
Đặc điểm thời đại đó đã tác động mạnh vào tầng lớp nho sĩ trí thức đƣơng
thời, đặt họ trƣớc những trăn trở lựa chọn dữ dội về nhân cách, lối sống. Điều
này chi phối và tạo nên diện mạo riêng, phong phú, đa dạng và phức tạp của thơ
văn thế kỷ XVI.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), huý là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ,
hiệu là Bạch Vân cƣ sĩ, thƣờng gọi là Trạng Trình, danh sĩ nổi tiếng, tác gia
lớn của nền văn học trung đại Việt Nam. Đỗ Trạng nguyên 1535 dƣới triều
Mạc, làm quan tới chức Thƣợng thƣ, Thái phó tƣớc Trình Tuyền hầu, cuối
cùng gia phong Trình quốc công. Khi thấy triều chính ngày một xấu đi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém nhiều lộng thần nhƣng không đƣợc
chấp nhận, bèn cáo bệnh về quê. Tại quê nhà, ông dựng am Bạch Vân, lấy
hiệu Bạch Vân cƣ sĩ, xây chùa, mở trƣờng dạy học bên bờ sông Tuyết Hàn,
học trò tôn xƣng ông là Tuyết Giang Phu Tử. Tiếng là ẩn dật nhƣng ông vẫn ở
vị thế “làm quan tại nhà”, triều Mạc trọng thị nhƣ một đại thần cố cựu, thƣờng
tới hỏi kế sách, hoặc vời lên kinh bàn chính sự. Nhân dân tôn ông là bậc tiên
tri, tiên giác, gọi ông là Trạng Trình, lƣu truyền nhiều sấm trạng và nhiều
truyền thuyết về ông.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là ngƣời thông minh, đa tài không chỉ là một tên
tuổi lớn trong lịch sử văn học mà còn là một tên tuổi lớn trong lịch sử dân tộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Chọn đề tài này, chúng tôi nhằm đề cao vai trò của nhà thơ nổi tiếng qua tác
phẩm tiêu biểu Bạch Vân quốc ngữ thi của ông. Trên cơ sở những gợi ý và
những kết quả đã đạt đƣợc của các nhà nghiên cứu đi trƣớc, chúng tôi nghĩ
cần phải có một cái nhìn chuyên sâu và hệ thống hơn nữa về tác phẩm Bạch
Vân quốc ngữ thi (BVQNT) của Nguyễn Bỉnh Khiêm đặc biệt là tính chất đa
chủ đề của tập thơ này. Đây là lý do chủ yếu khiến chúng tôi quyết định chọn
vấn đề: Hệ thống chủ đề trong Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh

cập đến vấn đề chủ đề trong Bạch Vân quốc ngữ thi nhƣng các công trình
nghiên cứu đó mới chỉ tìm hiểu hoặc giới thiệu sơ lƣợc một số khía cạnh chủ
đề chứ chƣa đi sâu nghiên cứu và hệ thống hóa thành nhóm một cách đầy đủ
các chủ đề nổi bật của tác phẩm này. Trƣớc hết, Tác giả Lê Trí Viễn khi tìm
hiểu tập Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhấn mạnh:
“Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tất cả đều không có đầu đề, nhưng xét chung
thì xoay quanh một số đề tài nhất định: Sự suy tàn của đạo đức phong kiến,
cuộc đời nhàn dật, phong cảnh thiên nhiên, ý nghĩ về bổn phận với vua với
nước” [45, 473]. Chỉ ra đƣợc một số đề tài chủ yếu trong Bạch Vân quốc ngữ
thi, tác giả Lê Trí Viễn đã bƣớc đầu tìm hiểu một cách khái quát về các chủ đề
này. Theo tác giả, Bạch Vân quốc ngữ thi đƣợc viết trong thời kỳ Nguyễn
Bỉnh Khiêm đã về trí sĩ cho nên nội dung phản ánh nhiều khía cạnh suy tàn
của chế độ phong kiến. Bấy giờ là lúc các nhóm phong kiến tranh nhau quyền
vị, nhóm nào cũng cho là mình đúng, không ai chịu ai mà chỉ lấy sức mạnh để
lật đổ nhau. Chính sự đảo lộn ấy khiến cho đạo đức phong kiến ngày càng sa
đoạ, khắp nơi đâu đâu cũng có cảnh dâm loạn, anh em nhà vua giết nhau, bề
tôi giết vua để đoạt vị. Đó là hình ảnh thối nát của đạo đức trong xã hội phong
kiến. Một phƣơng diện khác về hệ thống chủ đề đƣợc Lê Trí Viễn phát hiện
đó chính là tƣ tƣởng nhàn tản, ƣu du của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong Bạch Vân
quốc ngữ thi. Theo tác giả bài viết, sở dĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tƣ tƣởng ấy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
là do nhiều nguyên nhân bắt nguồn từ sự khủng khoảng của chế độ làm cho
sự phân hoá trong hàng ngũ phong kiến ngày càng sâu sắc, có rất nhiều tác
giả có tƣ tƣởng thoát ly, lẩn tránh nên tìm đến học thuyết Lão Trang, hoặc
những tƣ tƣởng ƣu du, nhàn phóng coi nhẹ cuộc đời, vui với thiên nhiên, với
rƣợu… và Lê Trí Viễn đã phát hiện ra: “Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, ảnh hưởng
của những tư tưởng ấy khá rõ rệt” [45, 475]. Chính vì vậy, Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã rút lui khỏi vòng danh lợi, đã đi vào cuộc đời ẩn dật, không muốn

thống chủ đề, nên chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến những đánh giá của tác
giả bài viết xung quanh vấn đề nội dung của tác phẩm. Theo Nguyễn Quân,
có ngƣời nói toàn tập thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều là những bài đề cao
thú ẩn cƣ để hƣởng cảnh thanh nhàn của mình, nhƣng nhƣ vậy thì không
đúng. Ông nhận định: “Nếu ta chỉ thoáng qua để lấy cái phong khí tao nhã
của tác giả thì thấy như vậy thật. Phải xem kỹ từng bài, ngẫm từng câu, rồi
phân loại theo câu, chứ không theo bài mới thấy rõ nội dung Bạch Vân quốc
ngữ thi không phải toàn chứa đựng một tính chất ấy” [45, 509]. Từ đó, tác giả
đƣa ra ý kiến: Bạch Vân quốc ngữ thi bao gồm những ngụ ý “Xa lánh đời,
than trách đời, khuyên răn đời, mong ước đời” [45, 512]. Sau khi đƣa ra
những kiến giải đó, tác giả Nguyễn Quân đã chứng minh bằng một số câu thơ,
bài thơ và đi đến kết luận: “Qua những câu thơ trên, chúng ta thấy ở loại
nào, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những nét kín đáo nhẹ nhàng,
khiến người đọc dễ cảm, không mất lòng ai, kể cả những người thuộc vòng
than trách qua ngòi bút như cụ” [45,512]. Theo tác giả, tuy Nguyễn Bỉnh
Khiêm xa lánh đời, than trách đời, khuyên răn đời, mong ước đời nhƣng tựu
trung lại chỉ là một: “Vì đời có những cái than trách mới phải xa lánh, phải
khuyên răn và mong ước sẽ đẹp đẽ thoả đáng”. Mặc dù có những nhận định
sắc sảo, rất đáng chú ý, song trong bài viết này, tác giả Nguyễn Quân cũng
mới chỉ trích dẫn một số ý thơ và bàn luận một cách sơ lƣợc chứ chƣa có một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
cái nhìn xuyên suốt và kiến giải tƣờng tận. Tuy nhiên, những gợi ý của ông về
các chủ đề nổi bật của Bạch Vân quốc ngữ thi thực sự rất đáng quý đối với
các nhà nghiên cứu cũng nhƣ độc giả nói chung.
Tác giả Trần Thị Băng Thanh trong bài:“Thơ Nôm đến Nguyễn Bỉnh
Khiêm” trong cuốn “Nguyễn Bỉnh Khiêm - về tác gia và tác phẩm” có đề cập
đến đề tài và thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm. Ở phần đề tài, bà có nhận
xét: “Đề tài trong thơ Nôm của ông thu lại rất hẹp, có thể nói chỉ tập trung

trong cuốn “Nguyễn Bỉnh Khiêm - về tác gia tác phẩm”, còn khá nhiều tác giả
nghiên cứu về vấn đề này: Đinh Gia Khánh trong Thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm, năm 1983; Đinh Gia Khánh trong Văn học Việt Nam ( thế kỷ X - nửa
đầu thế kỷ XVIII), năm 2005; Bùi Văn Nguyên trong Thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Tập 1, năm 1989; …Hai tác giả trên tuy mục đích chính không bàn
đến chủ đề trong Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhƣng cũng
đã đề cập tới một số khía cạnh của vấn đề này. Tác giả Ngô Gia Võ, trong
công trình “Hồ Xuân Hương với dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng”
(2002) cũng dành một phần nghiên cứu đáng kể về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy
nhiên, do đặc thù của đề tài, tác giả chỉ khảo sát Nguyễn Bỉnh Khiêm ở
phƣơng diện trào phúng. Từ phƣơng diện này, tác giả đã chỉ ra và phân tích
một số chủ đề trào phúng đặc sắc trong Bạch Vân quốc ngữ thi[54, 88 – 112].
Nhận xét chung của chúng tôi là các công trình nghiên cứu của cả
Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên và Ngô Gia Võ cũng mới chỉ tìm hiểu
hoặc giới thiệu sơ lƣợc một số khía cạnh chủ đề trong tập thơ Nôm Bạch Vân
quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà chƣa hệ thống hóa một cách toàn
diện và đi vào phân tích, đánh giá một cách trọn vẹn về các chủ đề tiêu biểu
cũng nhƣ những đóng góp nghệ thuật đặc sắc trên phƣơng diện thể hiện chủ
đề của Bạch Vân quốc ngữ thi. Thấy đƣợc điều đó, cho nên ở đề tài này,
chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu và tiến hành hệ thống hóa, quy thành nhóm các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
chủ đề nổi bật trong Bạch Vân quốc ngữ thi. Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ đƣa
ra những đánh giá toàn diện, những kết luận khoa học về vị trí Nguyễn Bỉnh
Khiêm trong tiến trình thơ Trung đại ở phƣơng diện hệ thống chủ đề nhằm
xác định rõ hơn đóng góp và tầm vóc Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nền văn
chƣơng dân tộc.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nhƣ trên đã nói, vấn đề văn bản tác phẩm Bạch Vân quốc ngữ thi của

Trãi và Lê Thánh Tông để thấy đƣợc những đóng góp cũng nhƣ hạn chế của
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh đối chiếu
với thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ Nôm của các tác giả đời sau
nhƣ Hồ Xuân Hƣơng, Tú Xƣơng, Nguyễn Khuyến...
Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
6. Đóng góp của đề tài
Luận văn hy vọng sẽ cung cấp đƣợc một cái nhìn đầy đủ, hệ thống về các
chủ đề trong sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trên cơ sở đó, góp
phần đƣa đến cái nhìn toàn diện hơn về vị trí văn học sử của Trạng Trình – Thi
nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Tiếp tục phƣơng hƣớng nghiên cứu những đóng góp về nội dung cũng
nhƣ hình thức nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với lịch sử thơ Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn
chia làm ba chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Tiền đề xã hội lịch sử của hiện tƣợng đa chủ đề trong Bạch
Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Chƣơng 2: Các chủ đề nổi bật trong Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn
Bỉnh Khiêm .
Chƣơng 3: Một số biện pháp nghệ thuật thể hiện chủ đề trong Bạch Vân
quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TIỀN ĐỀ XÃ HỘI LỊCH SỬ CỦA HIỆN TƢỢNG ĐA CHỦ ĐỀ
TRONG BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI CỦA NGUYỄN BỈNH
KHIÊM


anh ta, nhưng chưa định hình và đòi hỏi thể hiện thành hình tượng, thức tỉnh
nhà văn, kêu gọi anh ta lao động để tạo dựng hình thức cho nó” [25, 262]
Đây chính là điều khiến cho chủ đề là một trong những điều quan trọng
nhất tạo nên giá trị độc đáo và tầm vóc của tác phẩm để khẳng định đóng góp
riêng của mỗi ngƣời nghệ sĩ. Có hàng chục thậm chí hàng trăm tác giả viết về
đề tài nông dân, đề tài trí thức nhƣng thành công đặc sắc thì lại rất ít. Điều đó
hoàn toàn do chủ đề, tƣ tƣởng của tác phẩm tạo ra. Qua chủ đề, ta có thể hiểu
đƣợc chiều sâu, sự độc đáo của con đƣờng tƣ duy nghệ thuật cũng nhƣ sự
nhạy cảm đặc biệt của nhà văn. Do đó, trong nghiên cứu văn học, chủ đề đƣợc
xem là một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị tác phẩm. Đặc biệt, theo các nhà lý
luận, “trong nghiên cứu văn học hiện đại, chủ đề còn được xem là phạm vi
quan tâm của nhà văn đối với thế giới, là hằng số tâm lý của nhà văn, gắn với
quan niệm thế giới của tác giả” [11, 61].
1.2 Một số chủ đề nổi bật của thơ Việt Nam trƣớc thời Nguyễn
Bỉnh Khiêm
1.2.1 Chủ đề vịnh vật
Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì Vịnh có nghĩa là: “Làm thơ về
phong cảnh hoặc sự vật” [60, 1818]; Vật: “Cái có hình khối có thể nhận biết
được” [60, 1803]. Ta có thể hiểu thơ vịnh vật là thơ lấy đối tƣợng là những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
vật dụng hàng ngày đến những loài hoa, con vật để ngâm vịnh. Qua những đối
tƣợng ấy, nhà thơ bày tỏ những quan điểm của mình về thiên nhiên và xã hội.
Trong văn học Trung Hoa, thơ vịnh vật xuất hiện từ khá sớm. Các nhà
nghiên cứu đã tìm thấy những vết tích đầu tiên của thơ vịnh vật xuất hiện
trong Kinh thi. Nhƣng những vết tích này cho thấy, đối tƣợng của vịnh là
“vật” ở đây chƣa đƣợc coi là đối tƣợng miêu tả chính, chƣa đƣợc coi là đối
tƣợng độc lập. Vịnh vật trong Kinh thi chỉ là do những cảm hứng bất chợt mà
thành. Đến Quất tụng của Khuất Nguyên thì chủ đề vịnh vật đã trở thành một

(Trụ thượng tử - Chiếc gậy của Trần Tung)
Triều Trần nối tiếp triều Lý và có sự phát triển cao hơn về nhiều
phƣơng diện. Xã hội thời Trần cùng tồn tại ba đạo: Nho – Phật – Đạo. Vì vậy,
văn chƣơng thời này có nhiều điểm riêng biệt, thơ ca cũng chịu ảnh hƣởng
của thời kỳ “Tam giáo thịnh hành”.
Tƣ tƣởng Phật giáo ảnh hƣởng sâu rộng tới đời sống tinh thần và khả
năng tƣ duy của con ngƣời thời kỳ này. Thuyết “vạn vật – nhất thể” đã hòa
đồng con ngƣời vào thế giới tự nhiên “Hƣ không, tịch diệt”. Do đó, ta có thể
thấy trong thơ vịnh vật những triết lý tƣ tƣởng của Phật giáo:
Tung phong thủy nguyệt minh,
Vô ảnh diệc vô hình
Sắc thân giá cá thị
Không không tầm hưởng thanh
Dịch:
(Gió cành thông, lòng sông trăng sáng
Bóng cũng không, hình dáng cũng không
Sắc thân, thân sắc đều không
Nhƣ tìm tiếng vọng trong vòng hƣ vô)
(Tầm hưởng - Tô Minh Trí)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Hay nhƣ:
Tối ái thanh tùng chủng kỷ niên,
Hưu ta địa thế sở cứ thiên.
Đống lương vị dụng nhân hưu quái,
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền
Dịch:
(Rất yêu cây thông xanh trồng mấy năm nay,
Đứng thở than ở vào địa thế hƣu quạnh.

Khi nói tới nhà thơ nào đấy, ta thƣờng hay nhắc đến thơ phong cảnh
thiên nhiên của họ. Bởi lẽ thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng sáng tác vô
tận, vừa là đối tƣợng miêu tả vừa là đối tƣợng tâm sự của các thi nhân.
Khi nói tới thơ thiên nhiên phong cảnh, ta thƣờng hay nghĩ tới thơ vịnh
vật. Quả thật, thơ viết theo chủ đề vịnh vật và chủ đề phong cảnh thiên nhiên
rất gần gũi nhau, có những bài hầu nhƣ ta không thể xác định đƣợc đó là thơ
viết theo chủ đề vịnh vật hay chủ đề thiên nhiên. Vì trong thơ thiên nhiên luôn
tồn tại những yếu tố (đối tƣợng) của thơ vịnh vật nhƣ: một cánh hoa, một
tiếng chim, một cánh diều… Và ngƣợc lại thơ vịnh vật không thể thiếu những
yếu tố thơ phong cảnh. Điểm khác biệt giữa thơ viết theo chủ đề vịnh vật và
chủ đề thiên nhiên là: thơ viết theo chủ đề vịnh vật thƣờng chỉ quan tâm đến
dáng vẻ bề ngoài của cảnh sắc thiên nhiên và coi đó là cái nền để sự vật hiện
lên với tất cả vẻ đẹp và ý nghĩa của nó, còn thơ viết theo chủ đề thiên nhiên
luôn đi tìm vẻ đẹp của bức tranh phong cảnh để gửi gắm tâm tƣ tình cảm của
mình trong đó.
Trong văn học thời Lý – mở đầu những truyền thống lớn của dòng văn
học viết, ta thấy bên cạnh những câu thơ mang tính triết lý của Phật giáo có
khá nhiều câu thơ viết về phong cảnh thiên nhiên:
Xuân hoa dữ hồ điệp,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Cơ luyến cơ tương vi
Dịch:
(Hoa xuân và bƣơm bƣớm
Hầu quyến luyến nhau lại hầu xa rời nhau)
Hay:
Giác hưởng tùy phong xuyên trúc đáo
Sơn nham đái nguyệt quá tường lai
Dịch:

Chất ngất đỉnh non lồng bóng quế.
Chợ họp bên sông gẫm có chiều,
Thuyền bày trên đất xem nhiều thế.
Cảnh vật bằng đây họa có hai,
Vì dân khoan giảm bên tô thuế.
(Vịnh làng Chế - Lê Thánh Tông)
Đó là bức tranh tƣơi vui về cuộc sống của một làng quê. Nhà thơ yêu
mến cảnh thiên nhiên hùng vĩ, mỹ lệ nhƣng hơn tất cả, đó là niềm vui sƣớng
khi thấy cảnh xã hội sầm uất với những buổi chợ nhiều ngƣời mua bán, biểu
tƣợng của cuộc sống yên vui.
Nói tới thơ thiên nhiên ở giai đoạn này, ta không thể không nhắc tới đại
thi hào Nguyễn Trãi. Trong sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm, ông đều có
một số lƣợng lớn các tác phẩm viết về chủ đề thiên nhiên. Thiên nhiên trong
thơ ông vừa kỳ vĩ, vừa mĩ lệ:
Dục Thúy vũ đình, phong tự ngọc,
Đại An triều trướng, thủy như thiên
Dịch:
(Núi Dục Thúy, mƣa tan, đỉnh tựa ngọc,
Cửa Đại An, triều nổi, nƣớc nhƣ trời)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
(Vọng Doanh)
Thơ Nguyễn Trãi không những có tính chất hoành tráng mà lại còn bộc
lộ tâm hồn đa cảm của một con ngƣời đầy lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời,
yêu con ngƣời:
Tiếc thiếu niên qua lật hạn lành,
Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình.
Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc,
Đầu bạc xưa nay có thuở xanh

viết Việt Nam, ta thấy trừ một số bài thơ khuyết danh ở cuối thời Lý phần nào
có thể hiện tâm trạng cá nhân con ngƣời, còn lại hầu hết là thơ Thiền – thơ ca
tôn giáo có tính “phi ngã” cao. Điều này là do mục đích chính các vị Thiền
sƣ làm thơ không phải để nói lên cảm xúc của mình mà để hƣớng tới những
triết lý cao siêu, vĩnh hằng, bất sinh bất diệt. Thế nhƣng, trong những phút
giây “đốn ngộ” của kẻ chân tu, lời thơ của họ lại nói biểu hiện những suy tƣ
của một con ngƣời cá nhân. Đó là những mặc cảm hối lỗi của Trần Thái Tông
trong Khoá hư lục; hay là khát khao “đập phá quan niệm lưỡng nguyên”,
“phá vỡ những quan niệm giả tạo của đời sống đạo ” để “ca lên khúc nhạc
huyền diệu của muôn đời” trong Diêu khúc bản lai tu cử xướng và Phóng
cuồng ca của Trần Tung.
Không chỉ có vậy, lâu nay, khi nói tới thơ ca trung đại nói chung,
ngƣời ta thƣờng nói tới tính chất “phi ngã” đồng nghĩa với quan niệm “không
có cái tôi cá nhân” trong thơ. Tuy nhiên, tính chất “phi ngã” ở đây nên hiểu
một cách rộng rãi hơn. Chịu sự chi phối bởi tƣ tƣởng thống trị của giai cấp
phong kiến, thơ ca trung đại luôn bị gò ép trong những khuôn mẫu nhất định
và do đó cái tôi cá nhân cũng bị hạn chế rất nhiều. Ở đây nói “phi ngã”
không có nghĩa là trong thơ ca trung đại không có cái tôi cá nhân mà thƣờng
thì nó bị che khuất bởi những quy phạm nhất định. Trên thực tế, đã là thơ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
trƣớc hết là tiếng lòng, là sự xúc cảm nào đó của chính bản thân ngƣời sáng
tác. Và thơ ca thời kỳ này cũng vậy! Có rất nhiều tác phẩm đã thể hiện một
cách xúc động thế giới nội tâm sâu kín của ngƣời nghệ sĩ trƣớc thời cuộc.
So với thời Lý thì sang thời nhà Trần, tình hình thơ ca đã có sự thay
đổi. Thơ thời nhà Trần là thơ nói về thế giới con ngƣời, là sự thể hiện của
những trạng thái tâm hồn – cuộc sống đời tƣ của con ngƣời. Thơ ca viết về
chủ đề đời tƣ đƣợc đặc biệt chú trọng từ thời nhà Trần.
Khía cạnh đầu tiên của chủ đề đời tƣ thƣờng thấy trong thơ thời Trần

thật vô nghĩa, buồn đến nỗi dằn dỗi xem “Bệnh khỏi không bằng khi còn
bệnh” (Không ngủ). Thơ ông tỏ rõ sự hoài nghi:
“Ngồi đợi sau này công thành danh toại,
Thì một nắm xương tàn đã vùi đắp thành gò cao.”
(Trong núi cảm hứng)
Nhƣ vậy, bên cạnh những nỗi lo về sơn hà xã tắc thƣờng thấy trong thơ
thời kỳ này, còn có cả những nỗi lo cá nhân; bên cạnh những bài thơ bộc lộ
chí hƣớng, khát vọng công danh còn có những bài thấm đƣợm nỗi buồn về
đƣờng đời mù mịt. Nguyễn Ức cảm thấy “Đường công danh vạn dặm chưa tỏ
lối” (Đêm thu cùng bạn cũ Chu Hà kể chuyện đã qua). Trang Định vƣơng
Trần Ngạc thốt lên ai oán với Trần Nguyên Đán: “Tôi nay vào hạng bỏ đi -
Anh cũng chẳng phải là người tài trong thiên hạ” (Tặng Tƣ đồ Nguyên Đán).
Nguyễn Phi Khanh thì bất lực đành phải kêu trời: “Xin nhờ cái đêm trăng
sáng ở trên trời kia - Soi thấu nỗi khổ của thế gian này” (Nhân tết Trung thu,
cảm xúc trƣớc sự việc)... Đọng lại hơn cả là một khối cô đơn, thất bại cay
đắng, tủi hờn của ngƣời anh hùng lỡ vận, đầy kiêu hùng mà bi tráng Đặng
Dung:
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca!

Trích đoạn Chủ đề ngôn chí Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhà văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm Bậc cao sĩ Yêu cầu nội tại của đời sống văn học Chủ đề nhàn dật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status