hệ thống chủ đề trong Bạch Vân Quốc
Ngữ Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm
CHƯƠNG 3
NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CHỦ ĐỀ
TRONG BẠCH VÂN QUỐC NGỮ THI TẬP
CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
3.1 Sử dụng lối nói khẩu ngữ bình dị, tự nhiên
Vếu váo câu thơ cũ rích
Khề khà chến rượu hăng xì
(Bài số 84)
Một trong những yếu tố tạo nên phong cách riêng, dấu ấn riêng của tác
giả chính là việc sử dụng thành công lối nói khẩu ngữ bình dị, tự nhiên
thể hiện trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập. Vì có quãng thời gian dài
sống ẩn dật nơi thôn dã nên nhà thơ có nhiều điều kiện tiếp xúc với nhân
dân. Điều đó giúp ông hiểu được tâm tư, tình cảm cũng như những
phong tục tập quán sinh hoạt của họ. Không chỉ có vậy, ông còn là một
nhà thơ có tấm lòng yêu nước thương dân nên không chờ đến khi đã ở
ẩn ông mới gần gũi với dân, học tập ngôn ngữ của nhân dân. Ngay từ
đầu, những nếp sống, cách suy nghĩ của người dân, cùng với lời ăn tiếng
nói của họ đã đi vào thơ ông một cách rất tự nhiên. Trước Nguyễn Bỉnh
Khiêm đã có nhiều nhà thơ sử dụng lối nói khẩu ngữ, bình dị, tự nhiên
vào thơ văn làm cho tính chất quan trong thơ văn của tầng lớp trên giảm
xuống, tính chất dân dã được gia tăng, từ đó văn thơ bác học trở nên gần
gũi hơn với cuộc sống thường ngày. Ta có thể bắt gặp cách làm thơ như
trên trong nhiều sáng tác của Nguyễn Trãi hay Lê Thánh Tông và Hội
Tao đàn, nhất là trong thơ Nôm của họ. Bạch Vân quốc ngữ thi tập đã kế
tục và phát huy những thành công về mặt ngôn ngữ của thơ Nôm thời
Hồng Đức, của Nguyễn Trãi ở thời kỳ trước. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
cho thấy sự thâm nhập sâu sắc của ngôn ngữ bình dân qua cách ông đã
sử dụng lối nói khẩu ngữ rất thành công. Khẩu ngữ là một dạng ngôn
đời sống hàng ngày của người dân. Với thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm,
có thể khẳng định sự giản dị, thuần thục và thanh thoát của ngôn ngữ
văn học dân tộc. Rất nhiều từ, nhiều câu nói bình dị của nhân dân được
đưa vào một cách tự nhiên mà vẫn mang đậm tính chất nghệ thuật, ví dụ:
Bội bạc, đắn đo, ấm cật, tanh tao, nghêu ngao, nấn ná, rủ rê, chốc mồng,
…
Thơ ông rất ít dùng những từ cổ kính, nếu có dùng thì cũng thường là
những từ dễ hiểu. Có thể thấy ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
quen thuộc, gắn bó với đời sống của người dân lao động. Đó là thứ ngôn
ngữ mà nhân dân vốn quen dùng, giản dị và dễ hiểu. Việc sử dụng lối
nói khẩu ngữ trong thơ chứng tỏ tác giả là người gần gũi với nhân dân
nên mới am hiểu và vận dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân
thành thạo đến như vậy. Đưa khẩu ngữ vào sáng tác văn học có tác dụng
khẳng định tiếng nói của nhân dân, làm phong phú thêm vốn ngôn ngữ
nghệ thuật dân tộc. Một khía cạnh nữa của lối nói khẩu ngữ bình dị tự
nhiên trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập chính là việc tác giả đã học tập
ca dao, tục ngữ, thành ngữ và vận dụng một cách thành thục theo dụng ý
nghệ thuật của mình: Giàu ba bữa khó ba niêu (thành ngữ giàu ba bữa
khó đỏ lửa ba lần, bài số 3); Người ta bằng mặt chẳng bằng lòng ( bằng
mặt chẳng bằng lòng, bài số 127). Vì vậy, tuy là nhà thơ triết lý, đạo lý
nhưng thơ quốc âm Nguyễn Bỉnh Khiêm lại đậm đà màu sắc dân tộc,
đậm đà phong vị ca dao tục ngữ. Nhờ đó, thơ ông dễ đi vào lòng người,
dễ được truyền tụng rộng rãi.
Hình tượng trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự vận dụng
sáng tạo hình tượng của ngôn ngữ văn học dân gian. Hình ảnh con ong
cái kiến mà ta hay gặp trong ca dao tục ngữ đã trở thành hình tượng của
ngôn ngữ thơ ông, nhưng nó không mang tính trữ tình như trong ca dao
dân ca mà dược dùng để phê phán xã hội:
Nhị kết, hoa thơm, ong đến đỗ,
Mỡ bùi, mật ngọt, kiến nào đi.
cho tập thơ một sức sống mới. Chủ đề thiên nhiên nhờ lối sử dụng khẩu
ngữ mà toát lên vẻ đẹp giản dị hồn nhiên. Chính là vì với ngôn ngữ dân
tộc, nhà thơ có điều kiện phản ánh những cảnh sắc mang hồn Việt,
những cảm nghĩ của nhân dân lao động cho nên lời thơ đằm thắm, cảm
xúc thơ chân thành, hình tượng thơ lay động lòng người. 3.2 Cách nói ẩn ý sâu sắc
Thơ văn là những giá trị tinh túy của tâm hồn - những trăn trở, nghĩ suy,
cảm nhận về cuộc sống, đôi khi rất mơ hồ nhưng thể hiện sự nhạy cảm,
thăng hoa của tâm hồn mới trở thành thơ. Toàn bộ sự nghiệp thơ văn nói
chung, Bạch Vân quốc ngữ thi tập nói riêng là kết tinh của tất cả những
tư tưởng, quan điểm cũng như tài năng của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phần
lớn các vấn đề mà Bạch Vân quốc ngữ thi tập đề cập đến là các vấn đề
thế sự, nhân sinh và quan niệm sống “nhàn” gắn với thiên nhiên, tạo vật.
Ngoài lối nói khẩu ngữ, bình dị tự nhiên gần gũi với lời ăn tiếng nói
hằng ngày, ở tập thơ này ông còn sử dụng phổ biến lối nói ẩn ý thâm
trầm và sâu sắc. Mới nghe qua dường như có sự mẫu thuẫn: Bình dị, tự
nhiên thì khó đạt được “độ sâu” cũng như “sức nặng” mang chứa nghĩa
đằng sau những ấn tượng nghệ thuật. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây, và
cũng chính điều này là một trong những lý do khiến cho thơ văn ông
sống mãi đó chính là: bên cạnh và thậm chí bên trong cái khẩu khí tự
nhiên “nói ra là thành thơ” của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại chứa đựng
những triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc. Nó thể hiện đúng “con người”
ông ở trong thơ. Ta có thể thấy phần lớn thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
là thơ ít nhiều có tính chất triết lý, mang ý nghĩa nói “chí” hoặc giáo
huấn sâu sắc nhưng bằng tài năng của mình rất ít khi ông dùng giọng
quyền uy, ồn ào theo lối lên gân hội, những khúc quanh hiểm hóc của
lòng người, thói đời hay khuyên răn con người sống theo đạo lý thánh
hiền, ca ngợi cái thú “nhàn dật”, “an bần lạc đạo”, “lánh đục về trong”
nói một cách quá gay gắt, “lộ liễu” như cụ Tú Xương sau này. Những
câu thơ của ông nhẹ nhàng mà như một chân lý:
Đắc thời thân thích chen chân đến,
Thất thế, hương lân ngoảnh mặt đi.
Thớt có tanh tao ruồi đậu đến,
Ang không mật mỡ kiến bò chi.
(Bài số 53)
Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn nhìn sự vật hiện tượng hết sức biện chứng.
Ông thấy sự vật hiện tượng không chỉ ở mặt biểu hiện tĩnh tại mà còn
thấy mặt phát triển, mặt tương lai của nó. Cái triết lý “giàu tìm đến, khó
tìm đi” của dân gian đã được ông cụ thể hóa và nhằm vào một đối tượng
không thể khác được - giai cấp thống trị, những kẻ có thể đặt lợi ích lên
trên tất cả. Điều đó chứng tỏ sự phê phán, thái độ bất bình của ông đối
với tầng lớp trên vẫn hết sức ý nhị, kín đáo. Mặt khác, nếu như xem
những câu thơ trên là sự phản ánh thói thường của người đời thì cái ẩn ý
mà ông gửi gắm trong đó thể hiện sự cám cảnh về nhân tình thế thái
cũng hết sức sâu sắc.
Đọc Bạch Vân quốc ngữ thi, nhiều khi ta bắt gặp những lời thơ đạt đến
tính hàm xúc rất cao vì chữ ít mà nhiều ý, gợi mở biết bao ngẫm ngợi,
suy tư. Câu thơ, ý thơ gọn gàng, thích đáng nên có một dáng dấp rắn rỏi,
sắc nét, nhiều khi giống như một châm ngôn:
Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười,
Có của thì hơn hết mọi lời…
Người, của lấy cân ta thử nhắc,
Mới hay rằng của nặng hơn người.