KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900 - 1930_2 - Pdf 19

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1900 - 1930

Nhìn chung, nền văn hoá Việt Nam được thai nghén và trưởng thành
trong cái nôi văn hoá Ðông Nam Á. Tư tưởng phương Ðông đã ăn sâu
vào phong tục, tập quán và tâm khảm của con người. Lối sống theo làng
xã, họ tộc đã tạo nên thế tự trị lâu đời cho người Việt Nam. Con người
Việt Nam có nếp sống chuẩn mực từ trong cách ăn mặc cho đến việc
ứng xử. Thế mà đến đầu thế kỉ XX, sự du nhập của văn hoá phương Tây
vào Việt Nam đã làm thay đổi những giá trị cổ truyền của dân tộc. Văn
hoá Việt Nam chuyển dần sang nền văn hoá hiện đại chịu ảnh hưởng của
văn hoá phương Tây.

Trên bình diện văn hoá vật chất, ảnh hưởng đáng kể nhất là trong phát
triển đô thị, công nghiệp và giao thông- các lĩnh vực mà phương Tây
vốn mạnh.

Về mặt văn hoá tinh thần: Trước kia ở Việt Nam tồn tại ba tôn giáo được
du nhập từ nước ngoài. Ðó là Phật giáo, Nho giáo và Ðạo giáo. Kitô giáo
vốn đã xuất hiện ở Việt Nam từ các thế kỉ trước (XVI ,XVII) , đến giai
đoạn 1900- 1930 đã có nhiều ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của
người Việt Nam. Ngoài ra, còn có những đổi mới trong việc giáo dục,
trong lĩnh vực văn tự - ngôn ngữ, báo chí, văn học nghệ thuật.

Về giáo dục : Ði đôi với những đổi thay về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo
dục ở giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều yếu tố mới. Thực hiện chính
sách cai trị thuộc địa, Pháp đã tỏ ra rất khôn khéo trong vấn đề này. Khi
đã bình định xong toàn cõi Việt Nam, chúng chưa bỏ ngay việc học và
thi cử bằng chữ Hán mà tiến hành theo từng bước. Ðầu tiên là bổ sung
những bài thi mới vào những kì thi vốn có từ trước. Cho nên Tú Xương
đã mỉa mai :

tiện đầu tiên, để cho trong thời gian vài ba tháng đàn bà, trẻ con đều biết
chữ Ðó thực là là bước đầu tiên trong việc mở mang trí khôn vậy [ 43/
76]. Nhưng đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khi Hán học mất
địa vị chính thống và trong xã hội đã hình thành những yêu cầu mới,
những thành phần công chúng mới thì chữ quốc ngữ mới được xem là
thứ chữ của dân tộc. Việc đổi mới chữ viết đã mang nhiều ý nghĩa lớn,
nó không chỉ tạo điều kiện dễ dàng trong việc học, viết , đọc mà còn
cung cấp phương tiện hiện đại cho nền văn học mới.

Về văn học : Việc phổ biến sử dụng chữ quốc ngữ cũng góp phần thúc
đẩy việc xây dựng và phát triển nền văn xuôi Việt Nam Nền văn học
trung đại Việt Nam chưa chú ý phát triển văn xuôi. Ở giai đoạn nửa cuối
thế kỉ XIX đã có xuất hiện những sáng tác văn xuôi bằng chữ quốc ngữ
của Trương Vĩnh Kí và Huỳnh Tịnh Của . Nhưng đây chỉ là những mò
mẫm ban đầu, những thí nghiệm lẻ loi chưa có tính chất phổ biến. Sang
đầu thế kỉ XX , văn xuôi Việt Nam mới thể hiện những tiến bộ rõ rệt.
Bên cạnh đó, do có sự tiếp xúc với văn học phương Tây mà nền văn học
Việt Nam giai đoạn này đã xuất hiện thể loại mới: Thể loại tiểu thuyết
hiện đại, vốn là đặc thù của văn hoá phương Tây. Khởi đầu là quyển tiểu
thuyết in bằng chữ quốc ngữ, xuất hiện ở Nam kì năm 1887 với tựa đề
Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản. Nhưng đến giai
đoạn 1900-1930 thì thể loại tiểu thuyết hiện đại mới phát triển trong
phạm vi cả nước. Những tên tuổi tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh, Trần
Thiên Trung, Trương Duy Toản, Hoàng Ngọc Phách, Trọng Khiêm,
Nguyễn Trọng Thuật Chất văn xuôi, tính cách cá nhân phương Tây
còn ảnh hưởng đến cả lĩnh vực sáng tác lâu đời trong văn học Việt Nam,
đó là thơ. Thơ Tản Ðà, thơ Trần Tuấn Khải trong giai đoạn này đã mang
những giai điệu mới.

Nghệ thuật sân khấu thời này cũng xuất hiện các hình thức mới: Kịch,

kín đáo, lối dùng hình ảnh tượng trưng hoặc mượn lời nhân vật lịch sử
để thổ lộ tâm tình rất phổ biến.

Xu hướng hiện thực mới được manh nha trong giai đoạn này qua một số
tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Vũ
Ðình Long, Các tác giả đã phanh phui những xấu xa của xã hội thực
dân nửa phong kiến, phơi bày cảnh khổ của nhân dân.

Xu hướng lãng mạn được khơi nguồn từ các tác phẩm của Ðông Hồ,
Tương Phố, Tản Ðà, Hoàng Ngọc Phách. Ðấy là những sáng tác đã gợi
lên tiếng lòng sâu kín, những nỗi buồn đau và những mơ ước hảo huyền
của lớp người đang bi quan, chán nản trước cuộc sống. Sự xung đột giữa
lễ giáo phong kiến cũ và chủ nghĩa cá nhân bắt đầu xuất hiện.

Văn chương hiện thực và lãng mạn giai đoạn này như khúc nhạc dạo đầu
chuẩn bị cho buổi hoà tấu sẽ được diễn ra vào giai đoạn 1930 - 1945.
Vào thập niên thứ ba của thế kỉ đã xuất hiện các sáng tác của Nguyễn
Aïi Quốc được gởi từ nước ngoài về như: Con rồng tre, Nhật kí chìm
tàu, Bản án chế độ thực dân Pháp, Ðường Cách mạng Nguyễn Aïi
Quốc đã khai sinh cho dòng văn học của giai cấp vô sản của nước ta.

So với văn học và sân khấu thì các ngành nghệ thuật: hội hoạ, điêu khắc,
kiến trúc biến đổi chậm hơn. Lực lượng chuyên nghiệp về mĩ thuật lúc
này chủ yếu vẫn là những nghệ sĩ dân gian. Bên cạnh đó cũng có sự xuất
hiện những thế loại vay mượn từ phương Tây như tranh sơn dầu, tranh
bột màu với bút pháp tả thực. Nói chung về nội dung, hình thức tính chất
dân tộc và đại chúng vẫn còn được duy trì mạnh ở lĩnh vực này.

Báo chí: Một sự kiện rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng trong đời sống
xã hội mà còn tác động đến sự phát triển của văn học giai đoạn này là sự

đã tấn công quyết liệt vào xã hội phong kiến Việt Nam, cùng với nó là
sự du nhập ồ ạt của nền văn hoá phương Tây. Tất cả đã làm thay đổi hẳn
bộ mặt trang nghiêm của xã hội phong kiến vốn tồn tại vững chắc hơn
10 thế kỉ qua. Kẻ thù mang vào đất nước chúng ta nhiều cái mới. Sự phát
triển của đô thị tư sản đã phá dần thế tự trị làng xã ngày trước. Lối sống
sôi động, gấp rút theo cường độ của xã hội hiện đại đánh mất những sinh
hoạt gia đình, họ tộc, làng xã, vốn là một phương diện tạo nên các mối
quan hệ tốt đẹp của con người được hình thành rất lâu. Ðứng trước
những đổi thay của con người và xã hội; đối diện với những cái xấu xa,
hợm hĩnh do thực dân Pháp đưa đến, con người Việt Nam đã phản ứng
quyết liệt trong buổi đầu. Họ tỏ ra bực tức, căm giận, không thể chấp
nhận nổi, lắm lúc phải hét to lên trong sự bất lực :

Muốn mù , trời chẳng cho mù nhỉ ,
Giương mắt trông chi buổi bạc tình
( Trần Tế Xương )

Nhưng dù căm tức, dù bực bội đến đâu họ vẫn phải sống với nó, phải
thích nghi với nó; dần dần lại bình thường hoá trước cái xấu, cái lố lăng
của phương Tây, của xã hội tư sản. Cuối cùng , chính những người nệ cổ
nhất, những nhà nho bảo thủ nhất cũng phải chạy theo cuộc sống mới,
phải học lối sống mới. Trạng thái tâm lí của con người đã thay đổi trước
những biến động trong xã hội, cho nên ý thức thẩm mĩ của con người tất
yếu cũng đổi thay. Quan niệm về cái đẹp của cuộc sống, của con người
khác trước. Và cũng chính vì thế quan niệm về cái đẹp trong nghệ thuật
không giống như xưa nữa. Thử nhìn lại trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống
thường ngày như ăn, ở, mặc và trong lĩnh vực nghệ thuật, ý thức ấy có
những biểu hiện mới nào?

Trước hết chúng ta bàn đến lĩnh vực sinh hoạt. Biểu hiện rõ nhất qua cái

không còn ca ngợi mái tóc dài mà lại thích rẽ tóc lệch Nói chung,
quan niệm cái đẹp được quy định lại theo những đổi thay của cuộc sống
và trạng thái tâm lí con người.

Trong lĩnh vực nghệ thuật chúng ta càng thấy rõ điều này hơn. Ví dụ
như lĩnh vực hội hoạ. Ngày trước, con người phát hiện ra nét đẹp từ
những bức tranh dân gian sinh động như tranh làng Hồ qua nét vẽ gợi
cảm, gợi ý, tập trung vào đề tài cuộc sống và con người lao động Xem
tranh đó ta không bao giờ thấy buồn, thấy chán ngán. Vẻ đẹp của nó
chính là sự kết hợp giữa tình cảm chân thật với phong thái của dân tộc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status