Về lối thơ trong bài "Hoàng hạc lâu" của Thôi Hiệu potx - Pdf 19

Về lối thơ trong bài "Hoàng
hạc lâu" của Thôi Hiệu

Lâu nay bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, đời Đường (Trung Quốc) đã được
chọn vào chương trình môn Văn ở trường phổ thông. Nguyên tác viết bằng chữ Hán, phiên
âm như sau:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, (câu 1)
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu. (câu 2)
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, (câu 3)
Bạch vân thiên tải không du du. (câu 4)
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Người biên soạn sách Ngữ Văn 10, Tập một (NXB Giáo dục, 2003) nhận định, Hoàng
Hạc lâu “là bài thơ Đường luật”, đồng thời lại thấy trong bài có những chỗ phá cách, từ đó đề
ra câu hỏi: “Hoàng Hạc lâu được xem là một trong vài bài thơ Đường luật hay nhất ở đời
Đường. Tại sao ở bốn câu thơ đầu lại có nhiều chỗ không đúng luật?”. Trước câu hỏi này, học
sinh phải giải thích mấy hiện tượng:
1. Chữ cuối câu 1 phải gieo vần, ở đây lại không gieo vần.
2. Hai câu thơ đầu theo Đường luật không cần đối ngẫu, ở đây lại đối ngẫu, mặc dầu
đối ngẫu có chỗ không chỉnh.
3. Thơ bát cú Đường luật kiêng lặp chữ (trùng tự), trừ trường hợp lặp trong câu, ở
đây chữ hoàng hạc được dùng đến ba lần, chữ khứ được dùng hai lần.
4. Sử dụng Bằng - Trắc trong cả bốn câu đều có những chỗ không đúng luật:

cũng không phải là “những chỗ không đúng luật”.
Hiện tượng 1: Thơ bát cú Đường luật thường có năm vần chân, nhưng cũng có bài
chỉ có bốn vần, tức là chữ cuối câu 1 không gieo vần và vẫn được coi là hợp luật. Như
bài Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc (Được tin quan quân lấy lại HàNam, Hà Bắc) của
Đỗ Phủ:
Câu 1. Kiếm ngoại hốt truyền thu Kế Bắc,
Câu 2. Sơ văn thế lệ mãn y thường.
(Kiếm ngoại được tin thu Kế Bắc,
Thoạt nghe nước mắt ứa hai hàng).
(Doãn Kế Thiện dịch)
Hoặc bài Ký Lý Đam Nguyên Tích (Gửi cho Lý Đam Nguyên Tích) của Vi Ứng Vật:
Câu 1. Khứ niên hoa lý phùng quân biệt,
Câu 2. Kim nhật hoa gian hựu nhất niên.
(Năm ngoái trong hoa vừa từ biệt,
Hôm nay hoa nở hết một năm).
(Trần Trọng Kim dịch)
Hiện tượng 2: Thơ bát cú Đường luật, hai cặp câu giữa bài thường đối ngẫu. Đó là
chính lệ. Nhưng cũng có bài đối ngẫu được dùng ở hai câu cuối, như trường hợp bài Văn
quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc của Đỗ Phủ:
Câu 7. Tức tòng Ba Giáp xuyên Vu Giáp,
Câu 8. Tiện há Tương Dương hướng Lạc Dương.
(Ngay từ Ba Giáp qua Vu Giáp,
Rồi xuống Tương Dương tới Lạc Dương).
(Doãn Kế Thiện dịch)
Lại có khi đối ngẫu được dùng ở hai câu mở bài, như Vịnh hoài cổ tích (Vịnh nhớ cổ
tích) của Đỗ Phủ:
Câu 1: Chi li đông bắc phong trần tế,
Câu 2: Phiêu bạt tây nam thiên địa gian.
(Chia tan đông bắc cơn gió bụi,
Phiêu bạt tây nam cõi đất trời)

Bằng - Trắc để xem xét mối quan hệ về thanh điệu trong một cặp câu thì câu 2 cũng không
phải là câu thơ Đường luật. Câu 1, 3, 4 đều thuộc dạng cổ thể.
Câu 1 giống dạng câu Đoạn hà bán không ngư vĩ xích (Từng đám ráng trên lưng trời
đỏ như đuôi cá) trong bài thơ thất ngôn cổ thể Du Kim Sơn tự (lên chơi chùa Kim Sơn) của
Tô Thức.
Câu 3 dạng hoàn toàn giống câu Cầm thú dĩ tế thập bát cửu (Cầm thú mười phần
chết tám chín) trong bài thơ thất ngôn cổ thể Đông thú hành (Bài hành đi săn vào mùa
đông) của Đỗ Phủ.
Câu 4 có dạng y hệt câu Sở vương đài tạ không sơn khâu (Lâu đài vua Sở chỉ còn là
núi gò trơ trụi) trong bài thất ngôn cổ thể Giang thượng ngâm (Khúc ngâm trên sông) của
Lý Bạch.
Trong sách giáo khoa, khi nói về một số chỗ “không đúng luật”,- thực ra là những
chỗ tác giả vận dụng ưu thế khác biệt của thơ cổ thể so với thơ Đường luật -, người biên
soạn đã có những nhận xét tinh tế: “Theo lệ thường, “khứ” (động từ) không thể đối với
“lâu” (danh từ) song nhà thơ thiên tài Thôi Hiệu vẫn cứ làm thế, bởi vì diễn đạt cái đi xa, đi
mãi , không gì bằng động từ và diễn đạt cái còn ở lại, không gì bằng danh từ”; “Sự đối lập
giữa ba thanh trắc liên tiếp (bất phục phản) với ba thanh bằng liên tiếp (không du du) có tác
dụng làm nổi bật sự đối lập cái đã đi mất và cái còn lại mãi mãi (dĩ nhiên chỉ là cái cảm giác
chứ có đám mây nào tồn tại vĩnh viễn). Việc dùng ba thanh phù bình (không dấu) liên tiếp
cũng có thể gợi lên hình ảnh những đám mây lơ lửng trên tầng cao” Rõ ràng cái hay trong
bốn câu phần trên của bài thơ là do được viết bằng thơ cổ thể. Đây không phải là hiện tượng
phá cách, phá cách luật, mà thực là tác giả đã dùng một thể thơ khác – thơ cổ thể, còn có tên
là cổ phong –, để diễn ý tứ bốn câu thơ đầu. Trong sáng tác thơ, có những ý tứ nếu được
diễn bằng cổ thể thì lại đạt hiệu quả hơn. Do vậy nhiều thi gia đời Đường, trong cùng một
bài thơ tám câu đã dùng cả hai thể, cổ thể và cận thể, “cổ” xen với “luật” như bài Đăng Kim
Lăng Phượng Hoàng đài (Lên đài Phượng Hoàng ở Kim Lăng) của Lý Bạch, bài Vũ bất
tuyệt (Mưa không dứt) của Đỗ Phủ Bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu cũng nằm trong
một kiểu thức trên. Những bài như thế đã thành một lối thơ mà từ lâu có học giả như Trần
Trọng Kim ở ta, Vương Lực ở Trung Quốc gọi là “lối thơ nửa cổ nửa luật”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status