1982 643400 461400 1265600
1983 691900 510600 1335800
1984 715500 527000 1402500 4216
1985 748600 560300 1472000 4342
1986 833195 625576 1674100
1987 890328 665725 147246 77357 1720000
1988 886125 652846 153767 79512 1759700
1989 956984 714189 1807200 9000
1990 1007900 729000 167900 111900 1896400 9300
1991 1015200 715500 146380 123388 2016900 9352
1992 1078866 797156 154435 127275 2269086 13043
1993 1171538 878380 169878 123280 2346910 15073
1994 1235933 937730 186411 111792 2672108 16234
1995 1322097 1006918 197084 118064 2825025 20925
1996 1408320 1076004 212954 119362 3083777 27856
1997 1515004 1166215 226100 122653 3168646 30768
1998 1608476 1230621 250100 127755 3226666 32000
1999 1711724 1318196 261808 131720 3442863 39692
2000 1835923 1408961 286513 140449 3708605 52172
2001 1989291 1513279 322602 153410 4161844 64703
2002 2146300 1653600 338400 154200 4530000 95000
2003 2300000 1795400 372720 160600 4854000 96600
Mức sản xuất sản phẩm chăn nuôi/đầu người/năm tăng qua các giai đoạn (Bảng
1.6), nhưng đang còn mức rất thấp (chỉ bằng 1/2 - 1/3 lượng tiêu thụ bình quân của các
nước đang phát triển).
Bảng 1.6. Sản phẩm chăn nuôi sản xuất bình quân/đầu người/năm
1995 1997 2003
Năm
1,79
100
77,0
15,0
8,0
Trứng (quả) 37,9 41,3 45,0
Sữa (ml) 280,8 407,6 500,0
1.2.2.3. Tình hình chăn nuôi lợn
Lợn là loài vật nuôi có khả năng lợi dụng tốt các phụ phẩm công-nông nghiệp, khả
năng sinh sản cao, quay vòng khá nhanh, cho phân bón nhiều và tốt.Vì vậy chăn nuôi lợn
đã trở thành nghề truyền thống của nông dân và là ngành chăn nuôi chủ yếu ở nước ta.
Lợn được nuôi phổ biến ở tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp, đặc biệt tập trung nhiều
ở vùng đồng bằng sông Hồng: 22,5% tổng số đầu con và 26% tổng sản phẩm, khu 4 cũ
tương ứng 16,4% và 13%, đồng bằng sông Cửu Long: 15% và 22%. Như vậy, riêng đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đàn lợn chiếm 37,5% đầu con và 48% sản
lượng thịt lợn của cả nước. Đàn lợn vẫn được nuôi chủ yếu theo phương thức bán thâm
canh trong nông hộ (90 - 95%) với quy mô nhỏ (3 - 5 con/hộ), số hộ nuôi quy mô lớn hơn
từ 6 con trở lên chỉ chiếm 1,8%. Một tỷ lệ nhỏ đàn lợn (5 - 10%) được nuôi trong các
trang trại (200 - 300 con) theo phương thức thâm canh (công nghiệp). Lợn vẫn là nguồn
cung cấp thịt chính (77% tổng lượng thịt các loại), nhưng tiêu thụ trong nước là chủ yếu,
mỗi năm chỉ xuất khẩu được 5000 - 10000 tấn thịt. Cơ cấu giống lợn hiện đang nuôi chủ
yếu vẫn là các giống lợn nội. Ở phía Bắc đàn lợn nái gần 1,5 triệu con trong đó nái Móng
Cái chiếm 40 - 45%, lợn nái lai 32 - 35%, các giống địa phương khác 10 - 15%, lợn nái
ngoại hoặc nái lai nhiều máu ngoại chỉ 1 - 2%. Ở phía Nam 0,73 triệu con lợn nái thì lợn
nái lai nhiều máu ngoại và lợn Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu chiếm tỷ lệ cao (70 - 80%), lợn
nái ngoại chiếm 10 - 15%, còn lại là các giống địa phương khác. Trong đàn lợn nuôi thịt,
tỉ lệ lợn lai 50% máu ngoại (con lai F1) là 67%, lợn nội 30%, lợn ngoại và nhiều máu
ngoại mới chiếm 3%.
1.2.2.6.Tình hình chăn nuôi các đối tượng vật nuôi khác
Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi hướng tới chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, ngành chăn nuôi đã được
quan tâm và phát triển đa dạng hơn. Ngoài các vật nuôi truyền thống: lợn, trâu bò, gà thì
dê, cừu, ngan, vịt, chim cút, bồ câu, đà điểu… cũng được chú ý đầu tư phát triển. Đồng
thời với việc bảo tồn quỹ gen các gia súc, gia cầm địa phương, việc nhập nội các gia súc
gia cầm cao sản phục vụ phát triển chăn nuôi thâm canh, sản xuất hàng hoá đã được triển
khai thực hiện như: bò sữa cao sản từ Úc; lợn có tỷ lệ nạc cao từ Bỉ, Nhật; gà lông màu từ
Trung Quốc; vịt cao sản thịt, trứng từ Anh, Thái Lan; ngan Pháp; bồ câu Pháp…đã tạo
nên sự đa dạng trong sản phẩm chăn nuôi ở nước ta, đang góp phần tích cực trong các
chương trình xoá đói giảm nghèo vươn lên làm giàu từ chăn nuôi và đã mở ra bước phát
triển mới của ngành chăn nuôi.
1.3. Định hướng phát triển chăn nuôi đến năm 2010
1.3.1. Mục tiêu sản xuất chăn nuôi đến năm 2010
+ Mục tiêu chung của phát triển chăn nuôi là:
- Đảm bảo nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và sản xuất được thực
phẩm có chất lượng cao để xuất khẩu.
- Cung cấp phân bón cho cây trồng và nguyên liệu khác cho công nghiệp.
- Tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện thu nhập và điều kiện sống cho các vùng
nông thôn. Khai thác hiệu quả diện tích bãi chăn và phụ phẩm nông-công nghiệp.
- Góp phần xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, bảo tồn tính đa dạng
sinh học, bảo vệ môi trường trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành chăn nuôi.
- Tăng dần giá trị ngành chăn nuôi so với tổng giá trị nông nghiệp lên 30% vào năm
2010, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp.
+ Mục tiêu cụ thể
Năm 2010, Việt Nam đặt mục tiêu tổng đàn lợn 30 triệu con, đàn trâu 3,5 triệu con,
đàn bò 4,6 triệu con, đàn gia cầm 350 triệu con. Sản phẩm chăn nuôi tính theo đầu người
(tính cho 90 triệu dân): thịt 42 kg, trứng 77 quả, sữa 2500ml. Trong quá trình phát triển
chăn nuôi coi trọng năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, an toàn (thực phẩm
sạch) và khả năng cạnh tranh.
Long và các tỉnh duyên hải để cung cấp thịt, trứng, lông cho thị trường trong và ngoài
nước.
+ Biện pháp
- Cải tiến phương thức chăn nuôi truyền thống ở các nông hộ, đồng thời xây dựng
các cơ sở chăn nuôi gia cầm công nghiệp.
- Gây tạo giống gà thả vườn, gà chất lượng cao về thịt, trứng. Tiếp tục nhập nội các
giống gà công nghiệp có năng suất thịt, trứng cao.
1.3.2.3. Chăn nuôi trâu bò
+ Hướng phát triển
Phát triển chăn nuôi trâu bò ở miền núi vùng Đông Bắc, Tây Bắc và các tỉnh Bắc
Trung Bộ để lấy thịt, sức kéo và cung cấp phân bón cho trồng trọt. Chọn lọc nhân thuần
đàn trâu nội.
Phát triển chăn nuôi bò thịt ở các vùng có đồng cỏ và nhiều phụ phẩm nông-công
nghiệp, đặc biệt vùng Trung Bộ và Tây Nguyên. Thịt bò phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong
nước là chính nhưng cần tìm kiếm thị trường cho xuất khẩu.
Phát triển chăn nuôi bò sữa ven các thành phố lớn và khu công nghiệp (Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh…) và ở 2 cao nguyên Mộc Châu và Lâm Đồng để có thể tự túc
25% nhu cầu về sữa tiêu thụ trong nước.
+ Biện pháp
- Cải tiến phương thức chăn nuôi truyền thống ở các nông hộ, đồng thời xây dựng
các cơ sở chăn nuôi bò thịt, bò sữa hiện đại.
- Tiếp tục Zêbu hoá đàn bò. Nhập một số giống bò chuyên dụng sữa, chuyên dụng
thịt năng suất cao. Tiến hành lai tạo giữa bò chuyên dụng sữa, chuyên dụng thịt với bò đã
được Zêbu hoá.
Với các đối tượng vật nuôi khác tiếp tục quan tâm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi
ngựa ở vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc để lấy sức kéo, thịt; dê để lấy thịt sữa; cừu lấy thịt,
lông; ngan, ngỗng, các động vật quý hiếm khác như đà điểu, cá sấu…ở những nơi có điều
kiện và các vùng thích hợp.