Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần I: Lời nói đầu
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm sát là dạng hạt động thông thể thiếu của
quá trình, thục hiện quyền lực nhằm quản lý xã hội, quản lý đất nớc. Hoạt động
thanh tra, kiểm tra đã góp phần tích cực vào cộng cuộc đẩy lùi các tệ nạn xã hội,
chấn an tội phạm, đem lại mộ xã hội tốt đẹp cho đất nớc. Góp phần to lơn vào cộng
cuộc xây dựng và bảo vệ đất nớc.
Hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát ở nớc ta thể hiện sự hoà quyện thống
nhất giữa tình Đảng, tính Nhà nớc và tính nhân dân trong toàn bộ cơ chế thanh tra,
kiểm tra, giám sát mà mục đích của nó không có gì khác hơn là hớng tới xây dựng
một Nhà nớc của dân, do dân và vì dân, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhà nớc muốn quản lý xã hội một cách hiệu quả thì không thể không sử dụng
đến công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát. Ngày nay do sự phát triển của nền kinh
tế thị trờng, do khuyết tật của nền kinh tế thị trờn đem lại đó là do chạy theo lợi
nhuận mà chúng ta những con ngời, những chủ nhân của xã hội đang dần dần huỷ
hoại xã hội của mình, phẩm chất đạo đức đã bị tha hoá, tệ nạn xã hội tràn lan, tham
ô, tham nhũng đang là những vấn đề hết sức bất cập. Điều đó cho thấy, vai trò của
công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của xã hội là hết sức cần thiết, chúng ta thờng
nhắc rất nhiều tới thanh tra, kiểm tra, giám sát. Vậy thanh tra, kiểm tra là gì? Nó có
vai trò nh nào trong quản lý xã hội nói chung và trong quản lý kinh tế nói riêng? Tìm
hiểu về hoạt động thanh tra, kiểm tra và vai trò của thanh tra, kiểm tra trong quản lý
nền kinh tế quốc dan là nội dung của đề tài này.
Chúng ta cùng nhau bàn luận về vấn đề này.
Trong quá trình tìm hiểu và hoàn thiện đề tài em đã đợc sự hớng dẫn chỉ bảo
tận tình của thầy giáo, Tiến sỹ Phan Kìm Chiến. Do sự hạn chế về việc thu thập tài
liệu nên đề tại của em cũng không tránh khỏi những thiếu sot. Rất mong đợc sự đóng
góp ý kiển xủa các bạn. Và em kính mong thầy giúp đỡ và bỏ qua cho em để em
hoàn thiện đề tài của mình.
Em xin chân thành cảm ơn thầy!
SVTH: Hoàng Thị Hằng 1 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiếp theo sắc lệnh số 64/SL ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc
lệnh số 80/SL cử ông Bùi Bằng Đoàn và ông Cù Huy Cận vào Ban thanh tra đặc biệt.
SVTH: Hoàng Thị Hằng 2 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đến đây, ban thanh tra đặc biệt đã đợc hình thành về mặt tổ chức với những trọng
trách, quyền hạn to lớn của mình.
Về sắc lệnh số 64/SL, có thể nói đây là văn bản pháp lý đầu tiên của nhà nớc
về công tác thanh tra, nó đã đặt viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng hệ thống pháp
luật về thanh tra, kiểm tra. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng Ban thanh tra đặc biệt đợc
tổ chức theo sắc lệnh này không phải là một thiết chế thanh tra thuần tuý. Nó thực
chất là một cơ quan hành chính t pháp, vừa có các quyền hạn của một cơ quan thanh
tra, vừa có quyền hạn của cơ quan điều tra, kiểm sát sau này. Và sự ra đời của Ban
thanh tra đặc biệt là để đáp ứng những yêu câu hết sức đặc biệt của Cách mạng Việt
Nam trong thời kỳ này. Lúc này, Ban thanh tra đặc biệt với những quyền hạn và trách
nhiệm đặc biệt không chỉ là một công cụ thờng xuyên của chính quyền nhân dân mà
còn có nhiệm vụ to lớn trong việc góp phần an dân, tạp hợp, đoàn kết toàn dân để
huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp bảo vệ và giải phóng tổ quốc.
Song song với việc thành lập Ban thanh tra đặc biệt, trong những tháng cuối
năm 1945, đầu năm 1946, Chính phủ đã hớng dẫn việc thành lập Ban thanh tra ở một
số Bộ nh Bộ Quốc Phòng, Bộ Nội Vụ, Bộ Tài Chính, Bộ Canh Nông và Ban thanh tra
các xứ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.
ở Trung Bộ nhiệm vụ chủ yếu của Ban thanh tra là thanh tra công việc hành
chính và việc chấp hành đờng lối, chủ trơng của Chính phủ, của Uỷ ban nhân dân các
cấp.
ở Bắc Bộ, ngoài nhiệm vụ thanh tra các Uỷ ban nhân dân các cấp, Ban thanh tra
còn làm thêm công việc thu thập và giải quyết các đơn khiếu tổ của nhân dân, thanh tra tại
chỗ một số vụ việc do quần chúng nhân dân khiểu nại hoặc phản ánh, tố giác.
ở Nam Bộ, do hoàn cảnh kháng chiến diễn ra ngay từ đầu, chiến trờng chia
cắt, nên đã tổ chức cac Ban thanh tra ở các miền (miền Đông, miền Trung và miền
Tây Nam Bộ). Nhiệm vụ của các Ban thanh tra ở Nam Bộ là trực tiếp giải quyết các
mảnh vải, nh thế là sẽ có chủ nghĩa xã hội.
Quyền kiểm kê, kiểm soát là thuộc về nhà nớc vô sản, mà lúc đầu là sự kiếm
soát của công nhân, sau đó sẽ do toàn thể dân c tiến hành. Lênin khẳng dịnh: Từ
nay cho đến khi giai đoạn cao cảu chủ nghĩa cộng sản xuất hiện, những ngời xã
hội chủ nghĩa yêu cầu xã hội và nhà nớc kiểm soát thật nghiêm ngặt mức độ lao động
và mức độ tiêu dùng và sự kiểm soát này không phải do nhà n ớc của bọn quan lại
thi hành, mà do nhà nớc cảu công dân vũ trang thi hành. Quyền kiểm kê, kiểm soát
của nhà nớc đợc giao cho Bộ dân uỷ thanh tra công nông đảm nhiệm.
Trong quyết định của Ban chấp hành Trung Ương các Xô Viết toàn Ngã đã
ghi rõ: Giao trách nhiệm cho Bộ dân uỷ thanh tra công nông kiểm soát và giám sát
hoạt động cảu tất cả mọi xí nghiệp, cơ quan và tổ chức nào, xét về mặt thực hiện
những nghĩa vụ mà họ đảm nhiệm trớc các cơ quan nhà nớc.
SVTH: Hoàng Thị Hằng 4 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối tợng chịu kiểm kê, kiểm soát trớc hết phải bắt đầu bằng việc tớc đoạt bọn
t bản, bằng việc công nhân kiểm soát bọn t bản, tiếp đó là bọn ăn cắp, bọn ăn bám,
bọn lu manh, bọn đầu cơ, làm ăn gian dối, nhận hối lộ và các biểu hiện của tính tự
phát vô chính phủ và tất cả mọi xí nghiệp, cơ quan và tổ chức xã hội và t nhân,
không loại trừ một xí nghiệp, cơ quan và tổ chức nào.
Nội dung của kiểm kê, kiểm soát chủ yếu là tập trung vào kiểm tra kiểm soát
việc sản xuất và phân phối những sản phẩm chủ yếu cảu nền kinh tế; các hoạt động
tiền tệ và tài chính của bọn nhà giàu, của giai cấp hữu sản; việc thực hiện chức
trách, nhiệm vụ, và kỷ luật lao động của nhà nớc; của các công chức nhà nớc.
Về phơng pháp tổ chức kiểm kê, kiểm soát phải hết sức linh hoạt và phong
phú. Việc kiểm soát chỉ có thể do nhân dân tiến hành và phải để cho công nhân
chiếm đa số trong tất cả các cơ quan có chức năng kiểm kê, kiểm soát. Phải dựa
vào tính sáng tạo của quần chúng, phải phối hợp kiểm tra từ dới lên và từ trên
xuống. Kiểm tra phải thực sự, công khai; xử lý phải nghiêm minh và kiên quyết thì
mới có hiệu quả.
Ngày nay, trên thế giới hầu hết các quốc gia đều tổ chức ra các cơ quan để
hoạt động của các cơ quan nhà nớc bao gồm: cơ quan hành pháp và toá án. Thanh
tra, giám sát hành chính giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nớc và
công chức nhà nớc, còn thanh tra chuyên ngành thì kiểm tra, thanh tra hoạt động của
các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý nhà nớc của bộ
ngành.
Về phơng thức thanh tra, kiểm tra và giám sát. Do vị trí, chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của các cơ quan này khác nhau, cho nên phơng thức hoạt động của nó
cũng khác nhau. Mặt khác, ngay trong một loại hình thanh tra, nhng do pháp luật của
mỗi nớc quy định khác nhau, nên phơng thức hoạt động cũng có những nét đặc thù
riêng. Tuy có sự khác nhau nh vậy, song phơng thức hoạt động của các tổ chức này
cũng có những net chung nh: coi trong phòng ngừa là chính, chú trong thanh tra,
kiểm tra tài chính và ngày này các nớc có xu hớng vợt lên cách thức kiểm tra cụ thể,
trực tiếp và có sự quan sát, đánh giá toàn diện các mặt về quản lý, để đa ra các kết
luận, kiến nghị điều chỉnh có tính chất vĩ mô.
ở nớc ta, ngay sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nớc Việt
Nam dân chủ cộng hoà ra đời, ngày 23 tháng 11 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký sắc lệnh số 64/SL thàh lập Ban thanh tra đặc biệt với nhiệm vụ giám sát tất cả
các công việc và các nhân viên của các Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính
phủ.
Về sau này, khi nói đến thuật ngữ thanh tra thờng chỉ chức năng, nhiệm vụ
của các tổ chức thanh tra Nhà nớc, giám sát chỉ chức năng của Quốc hội hay
SVTH: Hoàng Thị Hằng 6 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiệm vụ của Ban thanh tra nhân dân, kiểm tra chỉ chức năng, nhiệm vụ của Uỷ
ban kiểm tra Đảng Khi nói đến ph ơng pháp hay cách thức làm việc thì tuỳ theo
từng công việc cụ thể có thể dùng nh: kiểm tra toàn bộ sổ sách, giấy tờ; kiểm tra quỹ
hay kiểm kê kho; kiểm soát các hoạt động Ngân hàng, giám sát tất cả các công việc
của Uỷ ban nhân dân.
Về công tác thanh tra đợc quan niệm nh sau:
Về mục đích thanh tra: Theo pháp lệnh thanh tra năm 1990 là nhằm phát
Muốn thanh tra, kiểm soát có kết quả tốt, ngời cán bộ thanh tra phải là những
ngời có uy tín, có đầy đủ năng lực, trình độ chuyên môn mà công việc đòi hỏi, Ngời
nói: Thái độ của cán bộ thanh tra là phải cẩn thận: Nghe không đợc thiên lệch,
nghe một bên, nên nghe ngời này, nghe ngời kia. Phải khách quan ở địa phơng nào
đấy phải đến tận nơi, nghe nghóng, tìm hỏi, chịu khó. Quan liêu sẽ không làm đợc
nhiệm vụ. Phải cẩn thận khách quan, điều tra kỹ lỡng, chịu khó .
Có thể lấy quan điểm của Đảng, nhà nớc, và chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác
thanh tra là hết sức sâu sắc và toàn diện, bao gồm nhiều nội dung khác nhau nh:
mục đích, chủ thể, đối tợng, nội dung, phơng thức thanh tra. Những t tởng và quan
điểm này là cơ sở để hiểu rõ, hiểu sâu hơn khái niệm thanh tra và hoạt động thanh tra
trong quản lý nhà nớc.
Ngày nay, các khái niệm giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm kê, và kiểm soát
đợc sử dụng phổ biến trong hoạt động quản lý nói chung và trong quản lý nhà nớc
nói riêng.
Vậy thanh tra, kiểm tra là gì?
Thanh tra (tiến anh là Inspect) xuất phát từ gốc la tinh( inspectare) có nghĩa là
nhìn vào bên trong , chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của
một đối tợng nhất định.
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, nghĩa thứ nhất thanh tra là điều tra, xem
xét để làm rõ vụ việc; nghĩa thứ hai là chỉ ngời làm nhiệm vụ thanh tra.
Nhìn từ góc độ quản lý kinh tế thì:
Thanh tra là một chức năng của quyền hành pháp. Cơ quan thanh tra thuộc cơ
cấu các cơ quan của Chính phủ, của bộ trung ơng và các cơ quan hành chính ở địa
phơng.
Theo nghĩa chung, thanh tra là hoạt động của cơ quan hành pháp, cơ quan
hành chính nhà nớc, có chức năng duy trì các hoạt động của cơ quan và của công
chức hành chính phù hợp với pháp luật của nhà nớc, bằng các hoạt động xem xét,
thẩm định lại những hành vi của công chức, những hoạt động của cơ quan hành chính
nhà nớc trên cơ sở những quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ của các cá nhân
công chức, cán bộ và các nhân viên khác trong cơ quan hành chính và tổ chức.
các lĩnh vực khác nhau trong hệ thống quản lý nhà nớc.
Còn kiểm tra (control) chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành
vi của cá nhân hay một tổ chức . Kiểm tra bao giờ cũng đa lại những kết luận đối với
những hành vi (đã nêu) hoặc các biện pháp sử lý khi hành vi vợt quá những giới hạn
đã đợc quy định trớc.
SVTH: Hoàng Thị Hằng 9 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kiểm tra có thể đợc hiểu theo hai nghĩa : Theo nghĩa rộng; để chỉ hoạt động
của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân . Kiểm tra hoạt động bộ máy
Nhà nớc. Theo nghĩa này tính quyền lực Nhà nớc trong kiểm tra bị hạn chế vì các
chủ thể thực hiện kiểm tra không có quyền áp dụng trực tiếp những biện pháp cỡng
chế nhà nớc . Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành
xem xét , xác minh một việc gì đó của đối tợng bị quản lý xem có phù hợp hay
không phù hợp với trạng thái định trớc (kiểm tra mang tính nội bộ của ngời đứng
đầu cơ quan kiểm tra phơng diện giao thông ). Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra có
thể áp dụng một chế tài pháp lý nhất định, nh áp dụng các hình thức kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc buộc phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành
chính. ở nghĩa này, khái niệm kiểm tra nằm trong khái niệm thanh tratổ chức thanh
tra là công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền trong việc kiểm tra sự chấp hành đ-
ờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật, kế hoạch của Nhà Nớc . Pháp lệnh thanh
tra 1990 cũng quy định: Thanh tra Bộ, Uỷ ban Nhà Nớc hớng dẫn , kiểm tra t tởng
các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý.(Điều 14).
Tóm lại, kiểm tra là quá trình xem xét các hoạt động nhằm mục đích làm cho
các hoạt động đạt kết quả tốt hơn. Đồng thời giúp phát hiện những sai sót lệch lác để
có biện pháp khắc phục bảo đảm cho thực hiện đúng hớng.
Kiểm tra có các đặc điểm quan trọng nh:
Kiểm tra là một quá trình liên tục về thời gian và không gian.
Có mục đích và mục tiêu rõ ràng.
Tạo cơ sở để hoàn thiện các hoạt động và cải tiến hệ thống, tạo môi trờng
hoạt động lâu dài cho hệ thống.
để táng cờng sự kiểm tra từ phía quần chúng nhằm tiêu diệt cái thứ cỏ dại chủ
nghĩa quan liêu.
Nh vậy, xét theo tính chất, mục đích của quản lý Nhà nớc, với t cách là chức
năng không thể thiếu đợc của ngời quản lý, thanh tra và kiểm tra có thể thiếu trong
mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Trong một chừng mực nhất định, hai thuật ngữ kiểm tra (control) và thanh tra
(inspect) có sự phân biệt về mặt lịch sử. Trong quá trình phát triển của xã hội từ khi
cha có Nhà nớc đến khi xuất hiện Nhà nớc thì tác động của chúng đối với xã hội có
khác nhau về mức độ thực hiện quyền năng thanh tra và kiểm tra là những chức
năng, những mặt của quản lý nói chung, chúng liên hệ tác động lẫn nhau theo mức
độ quyền năng và trong mối tơng quan với quản lý Nhà nớc thì thanh tra giữ vai trò
trực tiếp, bởi chính trong quá trình thanh tra, u thế về tính quyền lực Nhà nớc đợc thể
thiện rõ hơn so với kiểm tra.
SVTH: Hoàng Thị Hằng 11 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Còn về mặt lịch sử, thuật ngữ kiểm tra tồn tại trớc thanh tra, khi con ngời biết
lao động tức là tham gia quá trình sản xuất, phân phối của cải vật chất xã hội đòi hỏi
phải quản lý, nghĩa là đòi hỏi họ phải xem xét, đánh giá kết quả hoạt động cảu mình.
Chính trong hoạt động sản xuất, phân phối của cải vật chất xã hội quyết định sự cần
thiết phải có kiểm tra. Mặt khác nh ăng-ghen đã nói mỗi hoạt động có ý thức, có tổ
chức của con ngời đều chứ đựng trong nó những yếu tố của kiểm tra và đối với con
ngời tự nhiên, mỗi cộng đồng nguyên thuỷ, kiểm tra (theo nghĩa đơn sơ của từ
NHâN DâN) đợc xem xét nh là phơng thức hành động để thực hiện mục đích.
Sự ra đời của Nhà nớc tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt của giai cấp
thống trị đòi hỏi phải có những công cụ mang tính quyền lực để bảo vệ quyền lợi cảu
giai cấp thống trị. Từ đó, quản lý mang tính quyền lực Nhà nớc xuất hiệnv à là một
trong những đặc trng phân biệt Nhà nớc xuất hiện và là một trong những đặc trng
phân biệt Nhà nớc với các bộ lạc, thị tộc xa kia và các tổ chức xã hội hiện nay. Để
thực hiện quản lý Nhà nớc, giai cấp thống trị sử dụng các chức năng khác nhau, trong
đó có chức năng thanh tra nhằm tác động tới khách thể quản lý, lập lại trật tự và nâng
có những điểm khác nhau.
Thanh tra và kiểm tra đều phục vụ công tác quản lý nhà nớc. Qua thanh tra,
kiểm tra, tìm ra những quy định của pháp luật đã không còn phù hợp với thực tế để
kiến nghị cơ quan nhà nớc có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung kịp thời; phát hiện ra
những thiếu sót, sai phạm của đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó có biện pháp kịp thời
chấn chỉnh, xử lý. Tuy nhiên, thanh tra và kiểm tra cũng có khác nhau sau:
Thứ nhất: Về cơ sở pháp lý: Nừu nh có sở pháp lý của hoạt động kiểm tra về
một lĩnh vực nào đó thì chủ yếu là các văn bản pháp luật mang tính nghiệp vụ,
chuyên môn; các văn bản quy định về công tác tổ chức và các văn bản liên quan., thì
trong hoạt đông thanh tra ngoài cơ sở pháp lý đó, còn chủ yếu dựa vào Luật khiếu
nại, tố cáo; Pháp lệnh thanh tra; Quy chế đoàn thanh tra và nhiều văn bản pháp luật
khác điều chỉnh riêng về lĩnh vực thanh tra.
Thứ hai, về mục đích thực hiện: Đối với các hoạt động thanh tra theo chuyên
đề, kế hoạch, mục đích của cuộc thanh tra bao giờ cũng rộng hơn, sâu hơn đối với
các hoạt động kiểm tra. Ví dụ: một trong những nhiệm vụ trọng tâm công tác thanh
tra của ngành T pháp là tập trung vào lĩnh vực thi hành án dân sự; thì mục đích
không chỉ dừng lặinh ở việc kiểm tra mang tính hành chính của cấp trên đối với cấp
dới mà qua đó còn để đánh giá đúng tình hình thực hiện pháp lệnh thi hành án dân
sự; phát hiện những sơ hở, yếu kém vi phạm trong công tác thi hành án dân sự; đẩy
nhanh việc giải quyết các khiếu nại trong công tác thi hành án. Trên cơ sở đó có biện
pháp khắc phục khuyết điểm, xử ly các trờng hợp vi phạm, kiến nghị hoàn thiện cơ
chế, chính sách và nghiệp vụ, nhằm tăng cờng công tác quản lý nhà nớc về thi hành
án dân sự, góp phần tích cực vào việc cải cách t pháp và cải cách hành chính.
SVTH: Hoàng Thị Hằng 13 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đặc biệt, đối với các cuộc thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo thì sự khác
biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra càng rõ hơn nhiều bởi:
thông thờng khiếu nại, tố cáo phản ánh sự bức xúc của công dân trớc những việc mà
họ cho là cán bộ, công chức làm cha đúng, làm sai hoặc có vi phạm pháp luật, cho
nên giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo sẽ bảo vệ đợc các quyền, lợi ích chính đáng
SVTH: Hoàng Thị Hằng 14 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
điều tra để xem xét khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can nh trờng hợp bản kết luận
thanh tra số 110/KL-TTr ngày 6/11/2002 của đoàn thanh tra liên ngành Bộ T pháp,
Bộ công an, Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em đã kiến nghị Bộ công an giao cơ quan
điều tra tiếp nhận hồ sơ do đoàn thanh tra chuyển giao để xem xét khởi tố vụ án hình
sự và tiếp tục làm rõ hành vi phạm pháp của một số cá nhân có liên quan.
3.2. Phân biệt hoạt động thanh tra, kiểm tra với hoạt động kiểm sát, kiểm
soát và giám sát.
3.2.1. Với hoạt động kiểm sát.
Kiểm sát là một hoạt động đặc trng của quyền t pháp.
Kiểm sát là một hoạt động nhà nớc thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, duy
trì pháp chế, duy trì trật tự kỷ cơng xã hội. Thông qua hoạt động của mình, kiểm sát
xem xét, làm sáng tỏ bản chất của hành vi công dân, công chức, trả lại quyền và lợi
ích cho họ. Đồng thời, đa những vụ việc nghiêm trọng ra truy tố trớc pháp luật (truy
tố trớc toà án nhân dân).
Đặc trng của hoạt động kiểm sát là:
Phán quyết sau kiểm tra có tính chất chính trị xã hội.
Phán quyết sau thanh tra có tính chất chính trị quản lý.
Phán quyết sau kiểm sát có tính chất chính trị t pháp.
Hậu quả của phán quyết sau kiểm tra dẫn đến những đánh giá về phẩm chất
hành vị của cá nhân và tổ chức.
Hậu quả cuả phán quyết sau thanh tra dẫn đến những đánh giá về trách nhiệm
gắn liền với cơng vị xã hội trong hệ thống công vụ.
Hậu quả cảu phán quuyết sau kiểm sát dẫn đến những đánh giá về tình trạng
của cá nhân liên quan đến tính chất của hành vi phạm tội trong hệ thống pháp luật
nhà nớc.
Kiểm sát là khái niệm đợc sử dụng trong thực tiễn tổ chức bộ máy Nhà nớc và
khoa học pháp lý (investigate) để chỉ hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
(kiểm sát chung), thực hành quyền công tố (bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nớc, tập
thì không có xét xử, chứ không phải là bản thân là xét xử.
Cơ quan Viện kiểm sát có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ
quan và các cá nhân liên quan trực tiếp đến quản lý nhà nớc. Hoạt động khác là kiểm
sát toàn bộ các hoạt động tuân thủ pháp luật của công dân.
3.2.2. Với hoạt động giám sát và kiểm sát.
Ta thấy giám sát, tiếng Anh là Supervision hoặc overseer để chỉ một hoạt động
xem xét có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ
thống khác tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm
SVTH: Hoàng Thị Hằng 16 Lớp: Quản lý kinh tế 43B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc. Trong bộ máy Nhà nớc ta, giám
sát thờng thể hiện chức năng của các cơ quan quyền lực Nhà nớc đối với hoạt động
của bộ máy Nhà nớc hoặc của Toà án nhà nớc, các tổ chức xã hội và công dân đối
với hoạt động quản lý nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý
Nhà nớc.
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nớc cao nhất ở nớc CHXHCN Việt Nam
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động Nhà nớc
thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo hiến pháp, luật và các nghị quyết của
Quốc hội (điều 83 và 84 Hiến pháp 1992). Nế xét tính quyền lực cao nhất của Quốc
hội thì ngoài việc lập hiến, lập pháp, bầu Chính phủ, thành lập các cơ quan tối cao
của đất nớc, chức năng giám sát cũng thể hiện tính hơn trội, tính bao quát từ phía
quyền lập pháp đến việc giám sát các hoạt động của các cơ quan do Quốc hội thành
lập. Xem xét các quy định của pháp luật hiện hành thì hoạt động giám sát của Quốc
hội bao gồm: một là, giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động Nhà nớc, tức là các
hoạt động hành pháp, t pháp của các cơ quan do Quốc hội thành lập đều chịu sự giám
sát của Quốc hội. Chẳng hạn việc Chủ tịch nớc, Chình phủ, Thủ tớng Chính phủ,
Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải
báo cáo trớc Quốc hội; chịu sự chất vấn của các đại biệt Quốc hội. Hai là, tất cả các
hoạt động tuân theo Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội đều chịu sự giám
sát của Quốc hội. Vấn đề này, có thể đợc hiểu chỉ có những hoạt động trái Hiến
Toà án nhân dân các cấp với nhiệm vụ bảo đảm pháp chế XHCN, giám sát các
hoạt động quản lý Nhà nớc thông qua hoạt động xét xử nhằm bảo vệ tài sản của Nhà
nớc, tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Hoạt động giám sát của Toà án đối với hoạt động quản lý Nhà nớc khác với loại hình
giám sát khác và của thanh tra ở chỗ: sự giám sát của Toà án chỉ tiến hành thông qua
hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hành chính, kinh tế Trong
quá trình xét xử hình sự, bên cạnh việc xác định tội phạm, toà án nhân dân còn kiểm
tra tính hợp pháp trong hành vi quản lý (bao gồm cả quyết định quản lý) của các cơ
quan, ngời có chức vụ. Quyết định, bản án của Toà án có thể đợc gửi cho thủ trởng
cơ quan, tổ chức hữu quan.
ở nớc ta còn có một loại hình giám sát nữa là giám sát của các tổ chức xã hội.
Với t cách là một thành tố của hệ thống chính trị, hoạt động giám sát của các tổ chức
xã hội là một bộ phận không thể thiếu đợc nhằm củng cố kỷ luật, nâng cao hiệu quả
quản lý Nhà nớc (các điều 9, 10 Hiến pháp 1992). Tuy nhiên, hoạt động này không
mang tính quyền lực Nhà nớc, các chủ thể giám sát không có quyền áp dụng trực tiếp
các biện pháp cỡng chế Nhà nớc. Kết quả giám sát của các tổ chức xã hội chỉ dừng
lại ở mức kiến nghị, đề nghị, tức là áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã
hội vào hoạt động của đối tợng bị giám sát (sự lên án, phê bình từ xã hội), từ đó đối
tợng bị giám sát tự chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình.
Hoạt động kiểm soát: Kiểm soát kinh tế quốc dân là tổng thể những hoạt
động của nhà nớc trong việc phát hiện, xử lý những sai lệch, ách tắc, đổ vỡ những
SVTH: Hoàng Thị Hằng 18 Lớp: Quản lý kinh tế 43B