Mấy vấn đề về sách giáo khoa lớp 10 thí điểm (phần Văn học Dân gian) - Pdf 19

Mấy vấn đề về sách giáo khoa lớp
10 thí điểm (phần Văn học Dân gian) Chủ trương đổi mới sách giáo khoa và vấn đề dạy, học văn ở nhà
trường phổ thông của Bộ Giáo dục và đào tạo đã được khởi động từ thập
niên 80 của thế kỉ trước. Việc chia ra hai bộ sách giáo khoa (phía bắc, phía
nam) chưa kịp rút kinh nghiệm để điều chỉnh thì bị nhập lại
(1)
, rồi tách ra
hai bộ như bây giờ, luẩn quẩn mãi cho đến nay vẫn ở dạng thí điểm, có
thể vẫn chưa đến hồi kết thúc. Quanh vấn đề này đã từng rộ lên nhiều ý
kiến trái ngược nhau lắm khi gay gắt, tạo nên không khí đối lập trong giáo
giới và dư luận xã hội. Dù sao đấy cũng là tín hiệu đáng mừng thể hiện
khuynh hướng dân chủ xã hội hóa giáo dục buổi đầu, ẩn chứa khá nhiều
thách đố. Bên cạnh những ý kiến phá phách có chủ đích thường nhân
danh bảo vệ đường lối giáo dục và những ý kiến do không hiểu vấn đề
nhưng có nhiệt tình đổi mới dù được đăng tải trên các phương tiện truyền
thông vẫn không ít ý kiến xây dựng bổ ích. Điều đáng mừng là những ý
kiến đối thoại như thế, ngày một cởi mở hơn và mong rằng nó sẽ góp
phần hòan thiện thêm chương trình, nội dung sách giáo khoa trong tiến
trình đổi mới của nền giáo dục nước ta trong thời đại hội nhập. Trên ý
nghĩa đó, bài viết này xin nêu một vài ý kiến nhỏ để các nhà biên soạn
sách giáo khoa tham khảo thêm.


trong hệ thống XHCN, học sinh phổ thông không biết gì hơn. Ngày nay
tầm nhìn mở rộng, việc tiếp cận phương Tây, các nước Trung Đông đã trở
thành tri thức thông dụng. Mối quan hệ hiểu biết giữa các cộng đồng dân
tộc anh em trong lãnh thổ Việt Nam ngày một gần gũi hơn do có điều kiện
giao tiếp. Tuy nhiên, nhìn chung mặt bằng dân trí của nhân dân ta giữa
các dân tộc và vùng miền vẫn có độ chênh khác nhau. Vì vậy vào thập
niên 40-50 của thế kỷ trước, tri thức văn chương chuyển tải trong sách
giáo khoa đòi hỏi giản dị, dễ hiểu. Sang thập niên 60-80, mặt bằng đó thay
đổi, chương trình văn cao hơn, được uốn nắn để hợp với thời đại cách
mạng vũ bão của dân tộc. Và nay, mặt bằng phổ thông ấy lại được thay
đổi. Sự thay đổi chuẩn này sẽ còn được tiếp diễn trong tương lai. Như
vậy, việc xác lập mặt bằng ấy sao cho phổ thông đại chúng, tránh nặng nề
bác học là nhiệm vụ, theo chúng tôi, đặt ra cho đợt cải cách sách giáo
khoa lần này. Từ đó, chúng tôi muốn đề cập đến việc chọn tác phẩm đòi
hỏi phải đảm bảo mặt bằng sự hiểu biết chung của trình độ nhân dân hiện
nay.

Một tác phẩm đưa vào sách giáo khoa đòi hỏi phải thông dụng, vùng
miền nào cũng biết, phù hợp với khả năng nhận thức và suy luận của đối
tượng. Vì vậy xin đi vào trường hợp trích đoạn Xúy Vân giả dại đã từng
gây ít nhiều phản cảm cho người dạy và học. Đây vẫn chưa bàn đến việc
vở chèo này có quen thuộc với mọi vùng miền đất nước hay không mà chỉ
đề cập đến cách nhận thức của học sinh. Giả dụ, học sinh chất vấn: Một
người phụ nữ bỏ chồng để chạy theo lời rủ rê của kẻ khác, dân gian
thường phê phán đấy là hành động Bỏ mồi bắt bóng. Để thực hiện mưu
đồ này, Xúy Vân phải giả điên tức là thực hiện hành vi giả dối để gia đình
giải thoát cho mình là hành động đáng phê phán. (Kiểu chất vấn này từng
xảy ra với nhân vật Chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố). Điều
đó có lý. Mặt khác, việc từ chối gia đình chồng của Xúy Vân không phải do
nguyên nhân bị hắt hủi mà từ mặc cảm tự ti vì không “môn đăng hộ đối”.

chuẩn mực đạo đức chặt chẽ hơn. Ngày nay, ý nghĩa những lời khuyên
như: “Giấy rách phải giữ lấy lề” vẫn còn nguyên giá trị giáo huấn. Dù hoàn
cảnh thế nào cũng phải giữ mình trong sạch và đức hạnh. Đây là điểm
khác biệt cơ bản giữa truyền thống giáo dục phương Đông và phương
Tây. Một bên cổ xúy cho sự nổi loạn, tháo cũi sổ lồng, tự do cá nhân, một
bên tìm kiếm hạnh phúc trong sự thỏa hiệp mang tính bảo thủ. Bởi vậy
môtíp nhẫn chịu, thỏa hiệp rất đặc trưng, thường gắn với mẫu nhân vật
phụ nữ trong văn học cổ và văn học dân gian chúng ta. Có khá nhiều điển
hình như vậy trong các truyện Nôm như Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải
Ngọc Hoa. Trong lúc đó môtíp phản kháng của cô gái trong Tiễn dặn
người yêu, Xuý Vân, Thị Mầu trong Quan Âm Thị Kính chỉ loé lên như một
khát vọng tự do và có ý nghĩa như sự gợi mở cho xu hướng chưa thành
hình, định tính trong ứng xử văn hoá truyền thống của dân tộc. Nó thiên
về giả định hơn là giá trị hiện thực. Đặc điểm này khá phổ biến trong cổ
tích. Đó là những hành động phi lý được hình thành trên sự bế tắc và ước
mơ của một xã hội truyền thống đầy bảo thủ. Rõ ràng đó không phải là lối
ứng xử mang tính phổ quát. Vì vậy ở đây cần có lựa chọn: hoặc đề cao
tinh thần tự do, bất chấp những điều cấm kỵ theo quan niệm đạo đức
phong kiến hoặc đề cao cách ứng xử đức hạnh. Liệu học sinh đầu cấp có
phân biệt được vấn đề phức tạp này hay không? Sự cân nhắc giữa tính
hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc ở đây quả là sự thách đố.

Một vấn đề nữa cũng đáng bàn là việc đưa sân khấu chèo vào
chương trình giảng dạy văn ở phổ thông còn nhiều bất cập. Hầu như
không ít các giáo viên đều trở nên lúng túng trước bài giảng này. Điều đó
có lý do. Đành rằng chèo là nghệ thuật tổng hợp, song mục đích giảng văn
đối với chèo là giảng “tích” (có tích mới dịch nên trò). Ở đây, để thể hiện
đoạn Xuý Vân giả dại, nhân vật phải sử dụng một số làn điệu, trong đó có
điệu Con gà rừng. Mô tả tâm trạng điên ấy không thể chỉ qua lời mà phải
được nghe thể hiện qua làn điệu, tiết tấu, phách nhịp của nó. Điều này

vấn đề đó lồng vào nhau. Chắc người dạy rất khó trả lời trong tình huống
giả định này. Và liệu sách giáo khoa đã có câu hỏi nào cho khả năng sáng
tạo của học sinh như vậy chưa? Vì vậy xin kiến nghị các trích đoạn chỉ
nên tập trung vào đặc điểm tính cách anh hùng của nhân vật sử thi là đủ.
Theo đó, đoạn đánh nhau với Mtao Mxây được tuyển là hợp lý. Nó thể
hiện đúng đặc trưng thể loại. Còn những vấn đề liên quan đến tập tục hôn
nhân của tộc người Tây Nguyên nên hạn chế vì nó đòi hỏi phải mở rộng
một số kiến thức khác mới hiểu được. Điều đó chưa cần thiết với trình độ
phổ thông lớp 10. Ấy là chưa nói đến người soạn sách chưa hẳn hiểu thấu
đáo các lĩnh vực này thì sao lại đưa ra dạy được. Chẳng hạn phần tiểu
dẫn Đăm Săn của bộ SGK II đã viết: “Theo tục nối dây truyền thống, Đăm
Săn về làm chồng hai chị em tù trưởng Hnhí và Hbơhí” (tr.35). Viết như
vậy là sai. Ở Tây Nguyên chưa bao giờ có tù trưởng là đàn bà cả. Hnhí và
Hbơhí là vợ tù trưởng chứ không phải tù trưởng. Ở một chú thích khác
(SGK I, tr.29) chưa thể lột tả hết ý nghĩa nhân văn sâu xa của tục nối dây.
Nó không chỉ là sự đền bù về sự thiệt hại khi người đàn ông hoặc đàn bà
mất vợ hoặc chồng. Cái chính là tập tục này nhằm đảm bảo cho những
đứa con không bị mồ côi hoàn toàn. Vì khi bố hoặc mẹ mất, người kia nếu
tuân thủ tập tục sẽ tiếp tục ở bên con, bằng không chấp nhận (trong
trường hợp người chồng) sẽ ra khỏi nhà vợ mà không được phép mang
theo con và hậu quả bất hạnh thuộc về đứa trẻ. Đấy là giới hạn cần thiết
trong tri thức cần truyền thụ, nếu không sẽ trở nên buồn cười, khó hiểu
với tập quán nhận thức của học sinh.
Có lẽ vì người viết chưa tìm được giới hạn tri thức hợp lí trong tác
phẩm cho đối tượng nên mới có những câu hỏi như “chứng minh rằng sự
thất bại của Đăm Săn trong đoạn trích này là tất yếu của thời đại” (SGK II,
tr.43). Câu hỏi này dành cho sinh viên Văn khoa năm thứ I hoặc hơn mới
đúng. Cả một vấn đề phức tạp như thế, ngay cả khi được tiếp cận toàn bộ
tác phẩm vẫn không dễ gì đưa ra nhận xét về cái “tính tất yếu của thời
đại” thì sao lại bắt trẻ mới lớn luận ra từ một đoạn trích được. Từ cách

về ý nghĩa. Trường hợp Tấm trả thù trong Tấm Cám từng gây nhiều tranh
cãi, khiến cho người dạy nao núng. Bởi vì, ngay từ đầu người ta đã
hướng vấn đề giáo dục vào hành vi nhân vật và cho rằng như thế là dễ
kích động bạo lực hoặc hỏng mỹ cảm đạo đức, v.v… thì còn đâu là đặc
trưng thể loại. Nhưng nếu hướng vào nó vấn đề luật pháp thì tốt biết bao
nhiêu. Pháp luật thời nào cũng trừng trị kẻ ác, bất lương. Bài học công lí
muôn đời bao giờ cũng đúng. Có thể dẫn ra hiện tượng ngày nay, kẻ
phạm pháp vì thấy không thể dung được trong cộng đồng đều bị nhận án
tử. Còn riêng việc kiểu trả thù của Tấm thuộc phạm trù thời đại. Ngày xưa
giết người bằng hình thức chém, treo cổ, v.v… là chuyện bình thường.
Điều này, học sinh có thể liên hệ qua các phương tiện truyền thông. Thế
thì, việc gì phải tước bỏ một chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa nhân sinh, ý
nghĩa giáo dục như vậy (trong SGK II).

4. Có thể vấn đề tích hợp kiến thức là một bước tiến quan trọng của
sách giáo khoa mới. Từ chỗ trước đây chú trọng kiến thức văn nghĩa,
chuyển sang vận dụng kiến thức đa chiều tạo cho học sinh nhiều góc tiếp
cận tác phẩm rất khoa học. Nhưng chính điều này đòi hỏi người soạn
sách giáo khoa và người dạy cần tỉnh táo để chọn lọc giới hạn kiến thức.
Bản thân văn học dân gian là hiện tượng phức hợp. Tiếp cận ở góc này
hay góc khác sẽ tạo ra những nhận thức khác nhau. Việc liên hệ văn học
dân gian với cuộc sống thực tại là cần. Nhưng nếu quy chiếu văn học dân
gian theo cách nhìn hiện đại sẽ là phản khoa học. Xin dẫn trường hợp
dưới đây làm ví dụ. Bài Chiến thắng Mtao, Mxây ở sách Phân tích
bình giảng tác phẩm văn học- nâng cao 10 (NXB Giáo dục, H, 2006) có
nhận định: “Hơn thế nữa, cuộc chiến của Đăm Săn chống lại Mtao, Mxây
được nhân dân xem là cuộc chiến chính nghĩa. Chứng cớ là ông trời đứng
về phía chàng, bày cho chàng dùng chày mòn ném vào vành tai Mtao,
Mxây. Nhờ vậy chàng đã chiến thắng” (tr.6). Cách lập luận này hơi tùy tiện
và phóng túng. Đối với đề tài chiến tranh trong sử thi, các nhà kinh điển

sáng tác văn chương của mình nhưng không đậm đặc và cũng không
hoàn toàn giống như trong sử thi của đồng bào Tây Nguyên” (tr.7, Sđd).
Sao lại so sánh như vậy? Hai ngôn ngữ khác nhau, ở hai thời đại khác
nhau, hai lĩnh vực khác nhau. Người Kinh (Việt) có ngôn ngữ hình thành
muộn hơn các ngôn ngữ khác của cộng đồng dân tộc anh em. Tiếng Việt
hình thành khi tư duy sử thi đã đi qua. Đấy là lí do vì sao người Việt (Kinh)
không có sử thi. Việc sử dụng lối ví von so sánh trong sáng tác văn
chương phải là văn học dân gian chứ không chung chung như tác giả
viết. Ngôn ngữ sử thi Tây Nguyên biểu thị một trình độ tư duy và đặc điểm
ngôn ngữ khá cổ lại trong cảm hứng hoành tráng nên phong cách ví von
so sánh sẽ khác với phong cách giao tiếp trong thơ ca dân gian người
Việt là đương nhiên. Vì vậy việc so sánh trên vừa không đúng cấp độ mà
cũng chẳng để làm gì cả.

Một ví dụ khác trong phần chú thích (SGK II, tr.7) cũng khá mơ hồ.
Chú thích (4) cho rằng: “Đàn Môi là thứ nhạc cụ nhỏ làm bằng miếng đồng
mỏng, dài như chiếc lá tre, ngậm trong miệng rồi dùng tay gảy một đầu
cho rung lên hòa với hơi thở tạo nên âm thanh để diễn đạt tình cảm…”.
Hơi thở không tạo được âm thanh mà là âm phát ra từ họng có tiết tấu
được lá đồng khuếch đại lên mới đúng
(5)
.

KẾT LUẬN

- Công việc soạn sách giáo khoa vô vàn phức tạp. Chúng tôi hoàn
toàn chia sẻ với người biên soạn, vì vậy những vấn đề nêu trên chỉ mang
tính đối thoại. Đối thoại để làm sáng rõ thêm nội dung, đối thoại để chỉnh
sửa, đối thoại để nâng cao. Với mức độ nào cũng mong cho sách hoàn
thiện. Và dù nói bao nhiêu cũng chỉ mang tính chất sửa cái cụ thể chứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status