GIÁO TRÌNH BỆNH TRUYỀN NHIỄM THÚ Y (PHẦN ĐẠI CƯƠNG) part 4 - Pdf 19


64 5. Cảm nhiễm và phát bệnh: vai trò dịch tễ học của cảm nhiễm ẩn tính
Động vật đã cảm nhiễm mầm bệnh có phát bệnh hay không phát
bệnh phụ thuộc vào sự cân bằng giữa tính gây bệnh của mầm bệnh và tính
đề kháng của ký chủ và tác động ảnh hƣởng đối với sự cân bằng đó từ phía
các nhân tố ngoại cảnh. Tổn hại có thể chỉ trong trƣờng hợp phát bệnh do
cảm nhiễm hiển tính (apparent infection), nhƣng cảm nhiễm ẩn tính
(inapparent infection) không phát bệnh cũng có ý nghĩa quan trọng trong
dịch học. Các cá thể động vật bị cảm nhiễm ẩn tính trong nhiều trƣờng hợp
có thể là vật mang trùng và bài xuất mầm bệnh. Ngƣợc lại, do kích thích
cơ thể động vật sản sinh miễn dịch sau đó, cảm nhiễm ẩn tính làm tăng tính
đề kháng tập đoàn nên đóng vai trò trong quá trình làm ngừng dịch.
II. Nguồn bệnh
Vật bảo lƣu mầm bệnh và là ngọn nguồn của sự tán phát, truyền bá
mầm bệnh gọi là nguồn bệnh (nguồn mầm bệnh cảm nhiễm, hay nguồn
cảm nhiễm - source of infection). Nguồn bệnh nhƣ vậy có thể là động vật
bị mắc bệnh, động vật mang mầm bệnh nhƣng không mắc bệnh (vật mang
trùng) và thổ nhƣỡng, Suy rộng hơn, cũng có trƣờng hợp nguồn bệnh là
những vật thể bị ô nhiễm hay vật môi giới lan truyền đóng vai trò của
đƣờng truyền lây mầm bệnh.
Tuy vậy, khái niệm nguồn bệnh thƣờng đƣợc giới hạn ở những
động vật duy trì thuộc tính ký sinh (tính gây bệnh) của mầm bệnh. Nguồn
bệnh là khâu đầu tiên và là khâu chủ yếu của quá trình sinh dịch, nguồn
bệnh là nơi mầm bệnh cƣ trú và sản sinh thuận lợi, và từ đó trong những
điều kiện nhất định sẽ xâm nhập vào cơ thể bằng cách này hay cách khác
để gây bệnh.
Nguồn bệnh phải là nơi tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại và duy
trì những thuộc tính của nó qua các thế hệ. Mặc dù trực khuẩn nhiệt thán

tháo, ho, hắt hơi, có tác dụng gieo rắc mầm bệnh ra ngoài môi trƣờng.
Trong nhiều bệnh, con vật bệnh ở thời kỳ nung bệnh là nguồn bệnh nguy
hiểm nhất (lở mồm long móng, dịch tả lợn, viêm phổi truyền nhiễm, dại, )
vì con vật bệnh đã mang và bài xuất mầm bệnh ra ngoài một thời gian
trƣớc khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng đầu tiên. Ngƣời mắc bệnh trong
nhiều trƣờng hợp cũng là nguồn bệnh động vật. Dã thú gậm nhấm cũng là
nguồn bệnh rất nguy hiểm đối với gia súc, vì chúng là những nguồn (ổ
chứa) di động và khó kiểm soát của nhiều vi sinh vật trong thiên nhiên
trong đó có rất nhiều vi sinh vật là nguyên nhân của bệnh truyền nhiễm.
Về mặt dịch tễ học, những con vật mắc bệnh nhẹ nguy hiểm hơn
những con vật mắc bệnh nặng vì chúng thƣờng khó đƣợc phát hiện, dễ bị
bỏ qua hoặc coi thƣờng, lại có khả năng đi lại tiếp súc với con khỏe nên
làm bệnh dễ lây lan.
1. Các con đường bài xuất mầm bệnh
Mầm bệnh có thể bài xuất từ bề mặt cơ thể, các lỗ tự nhiên hoặc
chỗ tổn thƣơng của động vật mắc bệnh một cách trực tiếp từ nơi ổ bệnh
(bệnh sào, ổ cảm nhiễm) hoặc cùng với chất tiết xuất hoặc chất bài tiết.
Con đƣờng bài xuất mầm bệnh có tính đặc trƣng đối với các loại bệnh cảm
nhiễm khác nhau và là yếu tố trọng yếu trong quá trình nhận biết đặc tính
của các dạng lan truyền của bệnh cảm nhiễm.

66 Ở các bệnh cảm nhiễm đƣờng hô hấp, mầm bệnh thƣờng đƣợc bài
xuất ra ngoài cơ thể vật bệnh ở dạng những giọt nhỏ và khí dung chứa dịch
bài xuất từ xoang miệng hoặc đƣờng hô hấp nhƣ dịch nƣớc bọt, dịch mũi,
dịch hắt hơi, Ở các mầm bệnh cảm nhiễm đƣờng tiêu hóa mầm bệnh chủ
yếu bài xuất theo phân ra ngoài. Ở các mầm bệnh cảm nhiễm toàn thân
mầm bệnh bài xuất theo nhiều loại dịch tiết xuất khác nhau: nƣớc tiểu,


67 2.3. Vật mang trùng khỏe mạnh
Vật mang trùng khỏe mạnh là những động vật cảm nhiễm ẩn tính,
không biểu hiện triệu chứng bệnh nhƣng bài xuất mầm bệnh ra môi trƣờng
(bệnh đóng dấu lợn, tụ huyết trùng, phó thƣơng hàn, ). Côn trùng, ve
bét, cũng đƣợc coi là nguồn bệnh hay vật mang trùng khi chúng có khả
năng truyền mầm bệnh từ đời này sang đời khác.
Các con vật mắc bệnh là nguồn bệnh nguy hiểm bài xuất lƣợng lớn
mầm bệnh nhƣng dễ phát hiện hơn vật mang trùng nên có thể xử lý kịp
thời và thuận tiện hơn bằng giết hủy hoặc cách ly, Còn các vật mang
trùng do khó phát hiện và cũng di động nhƣ các động vật khỏe nên chúng
là những nguồn bệnh nguy hiểm hơn vật mắc bệnh.
3. Cảm nhiễm ẩn tính và tái phát
Ở bệnh giả dại ở lợn và bệnh viêm mũi khí quản truyền nhiễm bò
có điểm chung là cùng cảm nhiễm herpesvirut, sau khi lành bệnh, virut
tiềm phục trong tế bào thần kinh. Trong tế bào bị cảm nhiễm có thể phát
hiện ADN virut nhƣng cũng có trƣờng hợp không tìm thấy các virion virut
có tính gây nhiễm. Trạng thái ẩn này kéo dài suốt đời con vật, nhƣng trong
thời gian đó cũng có khi virut hoạt hóa một cách gián đoạn gây tái phát
bệnh. Tái phát các bệnh này thƣờng do cảm ứng bởi các yếu tố stress nhƣ
lạnh, vận chuyển, mang thai, Trong thời kỳ tái phát, động vật trở thành
nguồn bệnh.
4. Vai trò của thổ nhưỡng
Đất đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mầm bệnh trong tự
nhiên. Nếu cảm nhiễm các nha bào có trong đất của các vi khuẩn nhiệt
thán, uốn ván, thủy thũng ác tính, ung khí thán, động vật sẽ phát bệnh
nên các bệnh này thƣờng đƣợc gọi là các bệnh thổ nhưỡng. Cùng với cái

trong cơ thể và/hoặc thông với cơ quan hình ống) từ nguồn bệnh mầm
bệnh dễ dàng bài xuất ra ngoài dẫn đến lây lan nhanh chóng bệnh cảm
nhiễm. Ngƣợc lại, nếu ổ bệnh kín, nhƣ trong bệnh lao xƣơng chẳng hạn,
khả năng lây lan mầm bệnh từ nguồn bệnh thƣờng hạn chế.
III. Ảnh hưởng của ngoại cảnh đến sự lan truyền vi sinh vật ngoài cơ
thể
Vi sinh vật mầm bệnh có tính phụ thuộc ký chủ cao, quá trình tồn
tại ngoài cơ thể ký chủ là không thích hợp với chúng, trừ trƣờng hợp nha
bào. Các virut, Rickettsia và Chlamydia không thể sinh sản ngoài cơ thể
sống. Sự phát triển của nhiều vi khuẩn gây bệnh cũng vậy, tƣơng tự trƣờng
hợp vi khuẩn nhiệt thán chỉ có thể diễn ra trong điều kiện môi trƣờng đặc
thù đảm bảo các điều kiện cần thiết. Tuy nhiên, là những nguồn dinh
dƣỡng phong phú các loại thực phẩm là môi trƣờng tƣơng đối thuận lợi đối
với sự phát triển của vi khuẩn, nếu nhiệt độ và các điều kiện khác thích
hợp cho phép vi khuẩn phát triển, thì thực phẩm trở thành nguyên nhân
trúng độc (ngộ độc) thực phẩm.
Đối với sự tồn tại của mầm bệnh ngoài môi trƣờng thì nhiệt độ thấp
thƣờng có lợi hơn nhiệt độ cao. Trong điều kiện ẩm độ khác nhau thì sự
sinh tồn của các vi sinh vật mầm bệnh là khác nhau phụ thuộc vào chủng
loại của chúng. Nhìn chung, các virut không có áo ngoài tồn tại tốt hơn ở

69 nhiệt độ cao, còn các virut có áo ngoài và các vi khuẩn tồn tại thích hợp
hơn ở điều kiện nhiệt độ thấp. Trƣờng hợp trúng độc thực phẩm thì mối
quan hệ với nhiệt độ môi trƣờng là khá rõ nhƣng đối với các mầm bệnh
gây bệnh hô hấp phát sinh nhiều vào mùa đông thì có mối quan hệ giữa
nhiệt độ môi trƣờng với sự tồn tại của mầm bệnh ngoài cơ thể hay không
thì còn chƣa rõ.

gây ra) ở ngựa thƣờng do mầm bệnh lây truyền thông qua giao cấu, mầm

70 bệnh brucellosis có thể lây truyền khi bò khỏe liếm vùng đít bò bệnh, bệnh
dại lây truyền thƣờng do động vật dại bài xuất virut theo nƣớc bọt và phát
triệu chứng thần kinh mà cắn động vật khác, Ngoài ra dịch ho, hắt hơi do
chỉ phát tán gần động vật bệnh nên thƣờng cũng đƣợc coi nhƣ yếu tố gây
lây truyền mầm bệnh trực tiếp.
Dụng cụ đồ vật: Tất cả dụng cụ, đồ vật dùng cho động vật trong
chăn nuôi, sản xuất, hoặc tiếp xúc với gia súc, đều có thể truyền mầm
bệnh. Mức độ tác hại của dụng cụ, đồ vật phụ thuộc vào thời gian tồn tại
của mầm bệnh trên dụng cụ đồ vật đó. Nếu có điều kiện tối, độ ẩm và độ
nhiệt thích hợp, thì mầm bệnh tồn tại đƣợc lâu. Trên dụng cụ nhẵn nhụi và
bằng kim loại mầm bệnh chóng bị tiêu diệt hơn so với dụng cụ bằng gỗ xù
xì.
Sản phẩm gia súc: Sản phẩm động vật có thể trở thành nguy hiểm
đối với ngƣời và gia súc. Thịt động vật bệnh có thể là nguyên nhân làm lây
lan bệnh. Sữa gia súc bệnh hay sữa gia súc mang trùng chứa nhiều vi sinh
vật gây bệnh. Trong quá trình vắt sữa và chế biến, sữa rất dễ bị nhiễm
trùng. Bệnh lao, sẩy thai truyền nhiễm, lở mồm long móng, đậu, có thể
truyền qua sữa. Da lông thú vật nhiễm nha bào nhiệt thán, thịt ƣớp lạnh có
thể nhiễm virut lở mồm long móng và đƣa mầm bệnh đi rất xa. Các thú sản
khác nhƣ xƣơng, lông, sừng, móng, và các sản phẩm nông nghiệp nhƣ
rơm, cỏ, củ, hạt giống, đều có thể mang và truyền mầm bệnh đi xa.
Người: Ngƣời có thể mang nhiều loại mầm bệnh, nhất là những
ngƣời trực tiếp tiếp xúc với động vật nhƣ công nhân chăn nuôi, vắt sữa,
cán bộ nhân viên thú y, ngƣời chăm sóc gia súc, Mầm bệnh trong các
trƣờng hợp có thể dính vào quần áo, tay chân, giày dép, hoặc tạm thời ở

khuẩn đóng dấu lợn có thể sinh sản ngay cả trong đất. Nha bào nhiều loại
vi khuẩn (nhiệt thán, ung khí thán, uốn ván, ) tồn tại khá lâu trong đất.
Đất đƣợc coi là môi trƣờng sống tự nhiên của những vi khuẩn đó. Các loại
vi khuẩn tồn tại lâu trong đất gây ra những bệnh gọi là bệnh thổ nhƣỡng.
3. Truyền lây qua không khí
Không khí có thể là nơi mầm bệnh tồn tại và làm lan truyền bệnh.
Không khí có chứa mầm bệnh là do mầm bệnh dính vào bụi (khi quét dọn
chuồng trại, khi cọ rửa gia súc, ) hoặc dính vào các bọt nƣớc nhỏ khi
động vật kêu, rống hoặc ho, hắt hơi bắn ra. Mầm bệnh dính vào bụi và bọt
nƣớc có thể đƣợc đƣa đi rất xa và xâm nhập qua đƣờng hô hấp để lây bệnh
theo hai phƣơng thức: truyền bệnh bằng giọt và truyền bệnh bằng bụi.
Ngoài ra, thƣờng gặp hiện tƣợng bụi (pha rắn) và giọt (pha lỏng) lơ lửng
trong không khí (pha khí), gọi là khí dung. Mức độ tác hại của khí dung
phụ thuộc vào độ lớn của chúng, vào số lƣợng mầm bệnh chứa trong giọt
và bụi đó và phụ thuộc vào độ ẩm, độ nhiệt và sự chuyển động của không
khí. Ví dụ, giọt lớn (đƣờng kính trên 10 m) chứa nhiều mầm bệnh, lâu
khô hơn giọt nhỏ, nhƣng không tồn tại lâu trong không khí, không đi đƣợc
xa và không vào sâu trong khí quản đƣợc. Trái lại, giọt nhỏ (0,3 - 2 m)
tuy chứa ít mầm bệnh hơn và chóng khô hơn nên mầm bệnh chóng chết,
nhƣng lại tồn tại lơ lửng lâu trong không khí, dịch chuyển đƣợc xa và vào

72 đƣợc sâu trong các phế quản nhỏ. Vì vậy, sự lan truyền của mầm bệnh
thƣờng phụ thuộc vào mật độ động vật cảm thụ.
Phƣơng thức truyền bệnh bằng giọt ngắn hơn và là đƣờng lây
truyền của những mầm bệnh không chịu đƣợc khô và không sống đƣợc lâu
trong không khí. Tuy nhiên trong nhiều trƣờng hợp giọt trong không khí
không rơi xuống mà tiếp tục phát tán đi xa. Khi vắt sữa hoặc khi động vật

73 trên cơ thể chúng rất ngắn. Giữa mầm bệnh và sinh vật mang mầm bệnh
không có mối quan hệ sinh vật học nào cả.
Trong phương thức truyền bệnh sinh học, mầm bệnh tồn tại, sinh
sản trong sinh vật mang mầm bệnh. Khi đã mang mầm bệnh sinh vật đó có
thể truyền bệnh suốt cả đời sống của nó (ví dụ, chấy, rận chứa mầm bệnh
sốt phát ban, ve bét mang các arenavirut, ). Cũng có loại mầm bệnh phải
trải qua một hoặc một số giai đoạn sinh trƣởng trong cơ thể sinh vật mang
mầm bệnh (muỗi Culex đối với virut viêm não Nhật Bản) rồi mới trở nên
cảm nhiễm và gây phát bệnh. Gia súc, gia cầm và các động vật cảm nhiễm
khác có thể là ký chủ trung gian trong quá trình dịch hoặc ngƣợc lại chỉ là
ký chủ chung mạt (ký chủ cuối cùng – dead-end host) của vi sinh vật mầm
bệnh. Các ký chủ trung gian có thể tham gia vào quá trình làm tăng số
lƣợng tế bào (hoặc virion) mầm bệnh gọi là ký chủ khuyếch đại (host-
amplifier).
Nếu sinh vật chân đốt mang mầm bệnh có thể truyền mầm bệnh
cho các hệ sau của chúng thì chúng không những là sinh vật môi giới
(vector truyền lây) mà còn đƣợc coi là nguồn bệnh. Trong lớp Nhện và lớp
Côn trùng có rất nhiều loài (ruồi, muỗi, rận, ve, bọ chét, ) có thể là vector
truyền lây bệnh truyền nhiễm. Ruồi nhà có thể mang vi khuẩn nhiệt thán,
lao, xoắn khuẩn, virut dịch tả lợn, lở mồm long móng. Khi đó, trực trùng
lao có thể sống trong ruồi 16 ngày. Ruồi trâu hút máu động vật, mang và
truyền bệnh nhiệt thán, bệnh tiêm mao trùng, bệnh tula (bệnh thỏ hoang),
bệnh leptô (leptospirosis, hay bệnh nghệ). Muỗi truyền bệnh sốt rét cho
ngƣời, mang mầm bệnh gây bệnh thiếu máu truyền nhiễm của ngựa. Muỗi,
ruồi nhà, ruồi trâu chứa vi khuẩn Brucella nhiều ngày. Rệp, ve chứa vi
khuẩn này trong nhiều năm, có thể truyền cho đời sau. Bọ chét truyền bệnh
tula, bệnh sốt rét,

5. Truyền lây dọc và truyền lây ngang
Truyền lây cảm nhiễm từ bố mẹ sang con gọi là truyền dọc, truyền
lây giữa các cá thể trong tập đoàn mà không phải từ bố mẹ sang con gọi là
truyền ngang. Trong cơ chế truyền dọc mầm bệnh cảm nhiễm đƣợc truyền
sang con qua tinh trùng, trứng hoặc sang thai qua tử cung, hoặc qua đƣờng
sinh dục khi sinh đẻ, hoặc con con bị nhiễm do bú sữa hoặc tiếp xúc với
mẹ sau khi sinh. Ở gia cầm, các loại chim và bò sát, truyền lây theo chiều
dọc là truyền lây qua trứng. Nếu mầm bệnh cảm nhiễm xâm nhập vào
trứng trƣớc khi hình thành vỏ trứng thì gọi là truyền lây trong trứng hay
cảm nhiễm trong trứng (in-egg infection). Trong trƣờng hợp mầm bệnh
cảm nhiễm lây truyền vào trứng sau khi vỏ trứng đã hình thành hoặc khi
trứng ở bên ngoài thì gọi là cảm nhiễm trên trứng (on-egg infection).
Các bệnh cảm nhiễm truyền lây dọc cho phôi và thai thƣờng dẫn
đến sẩy thai, đẻ con chết, không thụ thai, giảm lƣợng con sinh ra (đối với
động vật đa thai), con yếu, trứng không phôi, trở ngại sinh sản, suy giảm
miễn dịch hay dung nạp miễn dịch. Ở các bệnh nhƣ brucellosis ở bò,
vibriosis, Akabane, viêm mũi khí quản truyền nhiễm bò, phó thƣơng hàn
ngựa, virut viêm não Nhật Bản của lợn, bệnh parvovirut lợn và bạch lỵ gà
con, động vật mẹ thƣờng cảm nhiễm ẩn tính hoặc biểu hiện bệnh tƣơng

75 đối nhẹ độ nhƣng ở phôi, thai hoặc con non thƣờng thấy tổn hại trầm trọng.
Ví dụ về trƣờng hợp truyền lây cảm nhiễm dọc sau sinh có thể là những
bệnh hô hấp mãn tính nhƣ bệnh viêm phổi do Mycoplasma (suyễn) ở lợn
và bò, bệnh viêm teo mũi ở lợn, Trong những trƣờng hợp này động vật
mẹ là những vật mang trùng nhƣng con con cảm nhiễm trong thời kỳ bú
sữa. Sau đó, động vật con trở thành vật mang trùng, nếu sinh trƣởng thành
động vật giống (sinh sản) thì lại truyền lây cho thế hệ sau. Các bệnh

76 sóc, vệ sinh, phòng bệnh, ) và sức đề kháng đặc hiệu (tiêm phòng) là
những biện pháp chủ động và tích cực nhằm xóa bỏ khâu thứ ba của quá
trình sinh dịch, làm dịch không thể phát sinh.
Nhìn chung, có khuynh hƣớng là tuổi càng tăng cao tính đề kháng
của ký chủ đối với mầm bệnh cảm nhiễm càng tăng, nhƣng sau đó khi
động vật già thì tính đề kháng giảm. Điều này phản ánh sự thành thục và
sự lão hóa của sức đề kháng của cơ thể cũng nhƣ của đáp ứng miễn dịch.
Cảm nhiễm tinh trùng, trứng, phôi, thai dẫn đến vô sinh, giảm số lƣợng
con đẻ ra hoặc sản lƣợng trứng, đẻ thai chết hoặc con chết non, nhƣng
trong nhiều trƣờng hợp ở động vật mẹ cũng nhƣ các động vật thành thục
khác trong đàn không nhận thấy sự bất thƣờng. Cảm nhiễm parvovirut,
enterovirut, bệnh viêm não Nhật Bản ở lợn, cảm nhiễm adenovirut và virut
viêm não tủy gà thuộc dạng này. Nhiều bệnh truyền nhiễm đƣờng ruột đa
phát với tỷ lệ chết cao ở kỳ sơ sinh nhƣng tuổi càng cao thì tỷ lệ bệnh cũng
nhƣ tỷ lệ chết giảm hẳn.
Khi tuổi càng tăng dạng bệnh cũng thƣờng thấy thay đổi. Cảm
nhiễm E. coli ở lợn phát chứng bại huyết ở lợn sơ sinh, bệnh ỉa chảy phân
trắng ở kỳ bú sữa, bệnh phù (bệnh phù đầu) ở kỳ sau cai sữa, nhƣng ở lợn
trƣởng thành thấy phát bệnh cục bộ nhƣ bệnh viêm phổi, viêm khớp, viêm
vú, Cảm nhiễm Salmonella gây sẩy thai ở ngựa con thƣờng phát bệnh bại
huyết và viêm đa khớp, ở ngựa trƣởng thành gây nung mủ cục bộ, còn ở
ngựa chửa thƣờng gây sẩy thai, tuổi càng cao bệnh càng trở nên cục bộ.
Sự phát sinh bệnh viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm (TGE) ở một
trại nuôi lợn tập trung thƣờng kéo dài 2 - 3 tuần. Nguyên nhân là miễn dịch
trong đàn phát triển nhanh do cảm nhiễm lan rộng nhanh. Tuy nhiên, trong
nhiều trƣờng hợp của trại chăn nuôi lợn sinh sản và lợn vỗ béo quy mô lớn
dịch cấp tính kéo dài ít nhất là 2 năm. Virut phát triển trong động vật non

tra kháng thể. Lấy huyết thanh một cách định kỳ, trắc định hiệu giá kháng
thể, xác định tỷ lệ động vật mang kháng thể, điều tra phân bố hiệu giá
kháng thể là những công tác cần thiết cho việc đánh giá miễn dịch đàn.
Nhờ đo đƣợc sự biến động mức đề kháng nên có thể ƣớc định đƣợc nguy
cơ phát sinh dịch. Dự báo dịch cúm ở ngƣời thƣờng nhờ vào phƣơng pháp
này. Trong các trại gà lớn, việc trắc định phân bố hiệu giá kháng thể do
tiêm phòng vacxin và trên cơ sở kết quả này đề ra kế hoạch tiêm phòng là
việc làm thƣờng gặp.
3. Vòng cảm nhiễm
Trong các trƣờng hợp trong tập đoàn ở khu vực rộng gồm nhiều
loại động vật thụ cảm trong đó có các động vật hoang dã thƣờng có hiện
tƣợng bệnh cảm nhiễm truyền lan thành chuỗi lây truyền giữa các động vật
này, tạo thành vòng cảm nhiễm (infection cycle). Vòng cảm nhiễm có tính
địa lý do phụ thuộc chủng loại, phân bố và mật độ của động vật thụ cảm
trong hệ sinh thái nhất định. Trong trƣờng hợp bệnh dịch tả lợn châu Phi
các loại ve bét ở châu Phi là ổ chứa mầm bệnh, virut tồn tại lƣu cửu trong
tập đoàn ve bét. Ở tập đoàn lợn đã cảm nhiễm virut từ ve bét có thể còn
xảy ra cảm nhiễm do tiếp xúc và điều này làm cho vòng cảm nhiễm lan

78 rộng. Tuy nhiên, do tỷ lệ chết cao và mật độ lợn thấp nên dịch không thể
duy trì. Lợn rừng hoặc những động vật hoang dã khác cũng bị cảm nhiễm
từ ve bét nhƣng chúng duy trì virut lâu dài ở dạng ký chủ chung mạt (dead-
end host) và không trở thành nguồn bệnh. Ngƣợc lại ở Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha ve bét và lợn là những ổ chứa virut. Ở khu vực này độc lực của
virut đối với lợn giảm, virut có thể lan truyền và duy trì trong đàn lợn.
Điều này có đƣợc còn nhờ mật độ nuôi lợn ở vùng này cao hơn ở châu Phi.
Ổ chứa virut viêm não Nhật Bản là lợn. Sau khi cảm nhiễm lợn
trong quá trình tiến hóa lâu dài bảo đảm trƣờng hợp lây nhiễm mới và tính
liên tục của quá trình dịch gọi là cơ chế truyền mầm bệnh. Cơ chế này bao
gồm ba khâu (ba pha): 1) thải mầm bệnh từ cơ thể, 2) tồn tại của mầm
bệnh, trong đa số trƣờng hợp, ở ngoại cảnh, và 3) xâm nhập của mầm bệnh
vào cơ thể ký chủ mới. Trong đa số trƣờng hợp các bệnh truyền nhiễm cơ
chế truyền mầm bệnh diễn ra ở dạng ba pha này. Đặc điểm của quá trình
truyền lây phụ thuộc vào chỗ khu trú của mầm bệnh (ổ bệnh, hay ổ cảm
nhiễm) trong cơ thể động vật bị cảm nhiễm cũng nhƣ những con đường bài
xuất mầm bệnh, còn sự xâm nhập vào cơ thể mới đƣợc thực hiện thông qua
cửa cảm nhiễm. Có những vi sinh vật bệnh nguyên có tính đơn hƣớng,
chúng chỉ ký sinh ở một tổ chức hoặc một cơ quan, chẳng hạn vi khuẩn
bệnh Johne (á lao) chỉ ký sinh ở đƣờng ruột. Nhƣng cũng có những bệnh
nguyên có tính đa hƣớng và tính toàn hƣớng, ký sinh ở nhiều hoặc ở tất cả
các tổ chức, chẳng hạn, virut dịch tả lợn, lở mồm long móng, vi khuẩn
lao, Tuy nhiên, chỉ những vị trí khu trú của vi sinh vật trong cơ thể khả
dĩ làm quá trình lây truyền mầm bệnh từ con vật bệnh sang vật lành là có ý
nghĩa dịch học.
Nơi khu trú đầu tiên của mầm bệnh trong cơ thể là kết quả hợp quy
luật tiến hóa thích nghi của vi sinh vật đối với sự ký sinh và thay đổi ký
chủ. Tính đặc hiệu của nơi cƣ trú đầu tiên quyết định con đƣờng bài xuất
của mầm bệnh khỏi cơ thể cũng nhƣ quy định ngoại cảnh mà mầm bệnh
bài xuất ra cũng nhƣ lây nhiễm con vật mới. Vì vậy, trong những điều kiện
giống nhau cơ chế truyền lây đƣợc thực hiện theo một dạng thức của riêng
mỗi loại mầm bệnh và điều đó bảo đảm tính đặc hiệu của dạng cơ chế
truyền lây đối với mỗi loại bệnh.
Trong cơ chế truyền lây các bệnh, các pha bài xuất và xâm nhập
của mầm bệnh là những bƣớc diễn ra chỉ trong thời gian ngắn. Pha bài
xuất mầm bệnh từ một cơ thể có thể gắn với quá trình sinh lý (hô hấp, tiết

Trong phạm trù các yếu tố truyền lây mầm bệnh ngƣời ta chú trọng đặc
biệt đến các vật chuyển tải mầm bệnh, tức là các vật trung gian sống là các
động vật chân đốt (côn trùng và ve bét), cũng nhƣ các động vật hoang dã
và gia súc. Việc vận chuyển có thể đƣợc thực hiện một cách cơ giới, nếu
giữa vật mang và mầm bệnh không có mối liên hệ sinh học nào, và một
cách đặc hiệu nếu có sự liên hệ sinh học nhất định (sinh sản của ký sinh
vật trong động vật mang). Trong trƣờng hợp cuối (vận chuyển đặc hiệu)
các vật trung gian sinh học còn đƣợc gọi là ổ chứa mầm bệnh.
Trong cơ chế lây truyền mầm bệnh cảm nhiễm có thể có sự tham
gia của một hoặc một số yếu tố truyền lây. Tổ hợp các yếu tố tham gia vận
chuyển mầm bệnh và tƣơng tác của chúng với động vật thụ cảm khỏe xác
định đặc điểm quá trình dịch gọi là các con đường truyền lây, hay con
đƣờng phát tán mầm bệnh cảm nhiễm. Trong dịch học ngƣời ta phân biệt,
một cách có cơ sở khoa học và có định hƣớng ứng dụng, bốn con đƣờng
phát tán mầm bệnh cảm nhiễm: 1) nhờ tiếp xúc, 2) qua không khí, 3) thức
ăn và nƣớc, và 4) nhờ vector truyền lây.
Sự lây lan của mầm bệnh từ cơ thể bệnh sang cơ thể khỏe không
những là một yếu tố cần thiết của quá trình sinh dịch, mà còn cần thiết cho
sự tồn tại của mầm bệnh trong thiên nhiên. Quá trình lây lan đó của bệnh
cảm nhiễm do những quy luật nhất định chi phối, Gramasepsky gọi là quy
luật truyền bệnh hay cơ chế truyền mầm bệnh, nhƣ sau:

81 Nơi khu trú đầu tiên có tính chất chuyên biệt đối với từng loại mầm
bệnh và ảnh hưởng đến cách bài mầm bệnh ra khỏi cơ thể. Nếu nơi khu trú
đầu tiên là phổi thì mầm bệnh chỉ bài ra ngoài theo nƣớc mũi, đờm; nếu là
ruột thì bài ra ngoài theo phân; nếu là máu thì chỉ ra khỏi cơ thể nhờ chân
đốt hút máu.

82 thời gian sống ở ngoại cảnh càng ngắn nhƣng dịch thƣờng càng ồ ạt, lan
rộng và biểu hiện rõ ràng.
Căn cứ vào cơ chế truyền bệnh, có thể chia ra bốn phương thức
truyền bệnh chính.
- Truyền theo đường tiêu hóa hay đường phân - miệng: Nơi khu trú
đầu tiên của mầm bệnh là ruột. Mầm bệnh bài ra ngoài theo phân, sống
tạm thời ở ngoại cảnh trên các nhân tố trung gian nhƣ thức ăn, nƣớc uống,
đất, ruồi nhặng, rồi xâm nhập vào đƣờng tiêu hóa chủ yếu theo thức ăn,
nƣớc uống. Đƣờng truyền bệnh này là đƣờng từ phân tới miệng.
- Truyền theo đường hô hấp: Nơi khu trú đầu tiên là phổi. Mầm
bệnh theo nƣớc bọt, nƣớc mũi bắn ra ngoài, sống trong không khí, rồi lại
xâm nhập vào phổi khi con vật hít phải, đƣờng truyền bệnh này còn gọi là
đƣờng không khí - mũi.
- Truyền bệnh theo đường máu: Nơi khu trú đầu tiên là máu. Mầm
bệnh từ máu súc vật bệnh, đƣợc các động vật chân đốt trung gian hút máu
hút ra theo máu vào ống tiêu hóa của chúng, sống một thời gian dài trong
những động vật chân đốt này và đƣợc truyền vào máu súc vật khỏe khi
chúng bị động vật chân đốt mang mầm bệnh chích hút. Đƣờng truyền bệnh
này là đƣờng máu - động vật chân đốt hút máu - máu.
- Truyền bệnh qua da và niêm mạc: Do có nhiều nơi khu trú đầu
tiên nên có nhiều đƣờng truyền bệnh và nhiều loại nhân tố trung gian
truyền bệnh.
Dựa vào các phƣơng thức truyền bệnh, ngƣời ta có thể phân loại
bệnh truyền nhiễm theo các nhóm bệnh nhất định, và nhờ phân loại theo
quan điểm dịch học này chúng ta có thể đề ra những phƣơng hƣớng và các
biện pháp phòng trừ thích hợp với từng loại bệnh.
3. Các giai đoạn của quá trình dịch bệnh cảm nhiễm

phép phân chia sáu giai đoạn trong động thái dịch: giữa các dịch, trƣớc
dịch, phát triển dịch, cao trào dịch, tắt dịch và sau dịch.
Kỳ giữa các vụ dịch (kỳ yên lặng) là khoảng thời gian giữa hai đợt
dịch. Giai đoạn này đặc trƣng bởi những trƣờng hợp bệnh riêng rẽ có tác
dụng duy trì dịch nhƣng không kéo theo sự tăng trƣởng đột ngột tỷ lệ ca
bệnh mới cũng không có sự lan truyền bệnh. Mang trùng và cảm nhiễm
không triệu chứng chiếm ƣu thế. Ở nhiều động vật còn mang miễn dịch
nhƣng số động vật mẫn cảm tăng dần.
Kỳ trước dịch là thời kỳ vẫn duy trì các điều kiện để xuất hiện dịch
do động vật mất miễn dịch, do sản sinh động vật non không miễn dịch
hoặc/và do nhập thêm vào đàn những động vật mẫn cảm. Đặc trƣng của kỳ
này là tăng số lƣợng động vật bệnh tức tăng nguồn bệnh và xuất hiện
những trƣờng hợp bệnh có triệu chứng lâm sàng điển hình. Kết cục là thiết
lập đƣợc những điều kiện thích hợp đối với sự lây truyền mầm bệnh cảm
nhiễm đó.
Kỳ phát triển dịch tiếp sau kỳ trƣớc dịch và đặc trƣng bởi các điều
kiện thích hợp cho sự lây truyền bệnh và sự chiếm ƣu thế của các dạng
bệnh lâm sàng điển hình cấp tính và quá cấp tính. Hoạt tính của các khâu

84 riêng biệt của chuỗi dịch và mối liên hệ giữa chúng tăng, dẫn đến sự tăng
tốc số lƣợng động vật mắc bệnh mới. Tuy nhiên, trong lúc này đã xuất hiện
những động vật miễn dịch và điều này là tiền đề cho sự ngừng tắt dịch.
Kỳ cao trào dịch diễn ra sau kỳ phát triển dịch và là giai đoạn đỉnh
điểm của vụ dịch. Số lƣợng động vật mắc bệnh mới tăng cao nhất. Bệnh
chủ yếu cấp tính, số ca quá cấp tính giảm. Số lƣợng động vật miễn dịch
tiếp tục tăng.
Kỳ tắt dịch đặc trƣng bởi việc giảm số lƣợng động vật mắc bệnh


càng rõ rệt, vì điều kiện thiên nhiên quyết định vùng cƣ trú, sự phát triển
về loài, về số lƣợng và về sự hoạt động của chúng.
Ngoài ra, vì điều kiện thiên nhiên còn thông qua nguồn bệnh mà
ảnh hƣởng đến độc lực của mầm bệnh, ảnh hƣởng đến mầm bệnh càng rõ
khi nó đƣợc bài xuất ra ngoài (nhƣ làm tăng hoặc giảm số lƣợng, làm mầm
bệnh phân tán rộng hay hẹp trong thiên nhiên).
Ảnh hưởng đến các yếu tố trung gian truyền bệnh: Đối với các yếu
tố trung gian truyền bệnh không phải là sinh vật (đất, nƣớc, dụng cụ, đồ
vật, ) điều kiện thiên nhiên ảnh hƣởng đến thời gian tồn tại của mầm
bệnh, đến mức độ phát tán rộng hay hẹp của mầm bệnh. Nếu yếu tố trung
gian là sinh vật thì điều kiện thiên nhiên ảnh hƣởng đến vùng cƣ trú, đến
sự sinh sản và phát triển về loài, về số lƣợng và về sự hoạt động của chúng,
do đó làm tăng hoặc giảm vai trò truyền bệnh của chúng.
Ảnh hưởng đến động vật thụ cảm: Các yếu tố thiên nhiên (khí hậu,
ánh sáng, ẩm độ, ) thƣờng xuyên tác động đến cơ thể súc vật làm tăng
hoặc làm giảm sức đề kháng của chúng. Điều kiện thiên nhiên còn ảnh
hƣởng đến mật độ động vật (do mức độ sinh sản thấp hay cao, điều kiện
nuôi tập trung hay phân tán), làm cho mức độ cảm thụ đối với bệnh trong
đàn thay đổi, điều kiện và mức độ lây lan thay đổi.
Thiên nhiên nhiệt đới ở nƣớc ta tạo nên những đặc điểm riêng về
nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, không khí, đất nƣớc, Điều kiện thiên nhiên đó
ảnh hƣởng đến từng mùa, từng vùng, đối với sức khỏe, sức sinh sản và đối
với sự phát sinh và lây lan các bệnh truyền nhiễm. Hiểu biết sâu sắc những
ảnh hƣởng của các yếu tố thiên nhiên, khắc phục các yếu tố có hại và lợi
dụng các yếu tố có lợi là rất hữu ích đối với công tác phòng chống bệnh.
2. Các yếu tố xã hội
Bệnh truyền nhiễm là một hiện tƣợng sinh vật học, nhƣng dịch
bệnh lại xảy ra trong một xã hội nhất định, nên đó là một hiện tƣợng xã hội
và chịu ảnh hƣởng quyết định của các yếu tố xã hội. Các yếu tố xã hội bao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status