1
Trang
3
NG 4
4
6
9
9
máu não 9
10
12
não 12
3.2. 16
3.3. 18
3.4. 20
17
18
20
36
38
Tai biến mạch máu não là bệnh lý thường gặp do nhiều nguyên nhân khác
nhau, nó thực sự đang là một vấn đề thời sự và cấp bách của y học. Tỷ lệ bệnh nhân
TBMMN ngày càng gia tăng do nhiều yếu tố nguy cơ phổ biến và có thể gây tử vong
nhanh chóng hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề [7, tr.218].
Ở các nước phát triển, TBMMN là nguyên nhân gây tử vong thứ ba sau bệnh
ung thư và tim mạch. Tỷ lệ mắc ở Hoa kỳ (2001) là 794/100.000 dân, gây tàn tật ở
50% BN. Ở Việt nam, theo số liệu của bộ môn Thần kinh - Đại học Y Hà Nội
(1999), tỷ lệ mắc TBMMN là 115,92/ 100.000 dân, trong đó 92,62% có di chứng
vận động, nhẹ và vừa chiếm 62,41%. Do vậy, nhu cầu PHCN cho những đối tượng
này là rất lớn. Theo số liệu thống kê của khoa PHCN bệnh viện Bạch Mai (2000),
22,41% BN điều trị nội trú tại khoa này là BN liệt nửa người [5, tr.3].
Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy TBMMN là bệnh thường gặp ở người trung
niên và người cao tuổi, không thấy sự khác biệt về giới tính, nghề nghiệp. Y học
hiện đại đã có rất nhiều tiến bộ trong việc chẩn đoán, điều trị, dự phòng bệnh
TBMMN nhưng việc khắc phục di chứng của nó còn nhiều hạn chế. Qua thực tế
lâm sàng, nếu thầy thuốc sớm kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong điều
trị thì việc khắc phục di chứng của TBMMN sẽ khả quan hơn, hạ thấp tỷ lệ tàn phế
cho BN [7, tr.218].
Một trong những di chứng nặng nề và dai dẳng trong giai đoạn hồi phục ở
bệnh nhân TBMMN là di chứng về vận động, nó ảnh hưởng trực tiếp đến những
sinh hoạt hàng ngày của BN. Vì vậy, PHCN đặc biệt là chức năng vận động là rất
cần thiết, cần tiến hành sớm, ngay khi tình trạng tổn thương nóo đó ổn định[6,
tr.5].
Do vậy, khóa luận của chúng tôi: “Phục hồi chức năng vận động cho bệnh
nhân tai biến mạch máu não giai đoạn hồi phục” nhằm các mục tiêu:
- Phân tích nguy cơ và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phục hồi chức năng vận
động của bệnh nhân TBMMN
- Hệ thống các bài tập PHCN cần thiết cho bệnh nhân TBMMN giai đoạn
hồi phục.
Thấy có ổ nhồi máu não thể hiện bằng hình ảnh một vùng giảm tỷ trọng khu
vực động mạch bị tổn thương, giảm tỷ trọng rõ nhất từ sau khi xảy ra TBMMN 48
5
đến 72 giờ. Trong giai đoạn sớm (trước 48 giờ) chụp cắt lớp vi tính sọ não có thể
bình thường, nó cho phép loại trừ xuất huyết não.
Thấy ổ xuất huyết não thể hiện bằng hình ảnh một vùng tăng tỷ trọng ở não,
nếu có xen kẽ giữa giảm tỷ trọng và tăng tỷ trọng là vừa nhồi máu vừa chảy máu
não.
CT - scanner sọ nóo cũn cho phép đánh giá tình trạng phự nóo: mất cỏc rónh
vỏ não, đẩy lệch các vách ngăn hoặc chèn ép các buồng não thất.
+ Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) nóo: Cú độ nhạy cao hơn so với chụp
cắt lớp. Hình ảnh MRI tăng tín hiệu trong thì T2.
+ Chụp động mạch não cản quang: Hình ảnh TBMMN qua chụp động mạch
não cản quang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nơi tổn thương ở các mạch máu.
1.1.4. Tình hình TBMMN trên thế giới và ở Việt Nam [5, tr. 4]
- Trên thế giới: Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1998, cứ
100.000 người dân mỗi năm có từ 127 - 740 người bị bệnh TBMMN. Theo Coletta
(2001) ở Mỹ mỗi năm có 500.000 người bị đột quỵ, TBMMN là nguyên nhân thứ
ba gây tử vong và tàn tật. Theo Broeks (2000) ở Hà Lan tỷ lệ TBMMN mới mắc
hàng năm là 162/100.000 dân, mỗi năm có khoảng 250.000 trường hợp TBMMN
mới xuất hiện. Ở Pháp năm 2001 tỷ lệ tử vong 130/100.000 dân, tức 62.000 trường
hợp tử vong do TBMMN trong năm cho cả nước Pháp.
- Ở Châu Á: Theo Hiệp hội TK học các nước Đông Nam Á, BN TBMMN vào
điều trị nội trú ở Trung Quốc là 40%, Ấn Độ 11%, Philipin 10%, Triều Tiên 16%,
Indonesia 8%, Việt Nam 7%, Thái Lan 6% Malaisia 2%. Tỷ lệ mắc bệnh trung bình
hàng năm có sự khác biệt giữa các nước như: Nhật Bản 340 - 523TBMMN/100.000
dân, Trung Quốc 219/100.000 dõn, riờng ở Bắc Kinh 370/100.000 dân.
- Tại Việt Nam: Theo Lê Văn Thành và cộng sự tỷ lệ mắc TBMMN trung bình
hàng năm là 416/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 152/100.000 dân. Theo Nguyễn
- Các kỹ thuật y học can thiệp vào cơ thể người tàn tật
+ Phẫu thuật chỉnh hình, y học nội khoa, các kỹ thuật chuẩn đoán y khoa.
+ Sản xuất cung cấp các dụng cụ chỉnh hình, thay thế như mắt kính, tai nghe, xe
lăn, máy phát âm (thường để khắc phục tình trạng tàn tật)…
+ Ngôn ngữ trị liệu.
+ Hoạt động trị liệu.
+ Vận động trị liệu.
+ Tâm lý trị liệu.
7
- Các kỹ thuật giúp đỡ người tàn tật tham gia hội nhập XH
Với cán bộ XH: Để giúp đỡ người tàn tật tham gia hội nhập XH, các cán bộ
XH cần nghiờn cứu các khía cạnh của XH có liên quan đến người tàn tật, qua đó
khắc phục có hiệu quả những khó khăn, rào cản mang tính xã hội cho BN. Các kỹ
thuật giúp đỡ người tàn tật tham gia hội nhập XH gồm:
+ Giáo dục đặc biệt: giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt.
+ Dạy nghề: Tạo việc làm cho người tàn tật.
+ Cải thiện môi trường như đường đi, nhà ở, phương tiện đi lại để người tàn tật
có thể đến những nơi họ cần đến, làm các việc có ích cho cuộc sống của họ mà họ
muốn.
1.2.4. Các hình thức phục hồi chức năng
Có 3 hình thức PHCN: PHCN tại trung tâm, PHCN ngoài trung tâm (PHCN
ngoại viện) và PHCN dựa vào cộng đồng.
- Phục hồi chức năng tại trung tâm
Là hình thức PHCN đã có trên 150 năm nay. Người tàn tật đến các trung tâm
có cán bộ chuyên khoa và trang thiết bị PHCN đầy đủ.
+ Ưu điểm: kỹ thuật PHCN tốt, cán bộ được đào tạo chuyên khoa sâu.
+ Nhược điểm: người tàn tật phải đi xa, giá thành cao, số lượng người tàn tật
được PHCN ít, không đạt được mục tiêu hoà nhập xã hội.
Vì vậy, ở các trung tâm chỉ PHCN với người tàn tật nặng, đồng thời đây là
9
C 2
CÁC
2.1. trong TBMMN [2, tr.13]
Mẫu co cứng ở BN liệt nửa người là hiện tượng co cứng các cơ ở nửa thõn
bờn liệt theo một kiểu nhất định, xảy ra ở tất cả BN bị TBMMN. Mẫu co cứng bắt
đầu xuất hiện ở giai đoạn hồi phục, đi kèm với trương lực cơ tăng và phản xạ gân
xương tăng. Mẫu co cứng xuất hiện gây hiện tượng tăng trương lực các cơ gập ở
tay và các cơ duỗi ở chõn. Cỏc cơ chi trên ở tư thế gấp, khép và xoay trong, cũn cỏc
khớp ở chân ở tư thế duỗi dạng và xoay ngoài, cơ ở cổ và thõn bờn liệt co ngắn hơn
bên lành. Mẫu co cứng thể hiện rõ hơn khi BN cử động. Khi BN cử động, các cơ ở
một chi hoặc nhiều chi thậm chí ở cả 2 phía cơ thể đều co, khi ấy xuất hiện cử động
khối, khiến tư thế cơ thể co cứng, thiếu tự nhiên và vận động khó khăn.
2.BN TBMMN
[1, tr. 143-144]
Tình trạng BN dần được cải thiện và ổn định, BN phối hợp được với việc
khám và điều trị. Cũng nhờ đó các hoạt động ăn uống, hô hấp, bài tiết được kiểm
soát, giảm bớt nguy cơ các thương tật thứ cấp. Tuy nhiên, ở BN bắt đầu xuất hiện
tình trạng co cứng cơ ở bên liệt và dần dần đưa đến dính, hạn chế vận động các
khớp vai, cổ chõn… bờn đó.
- Khiếm khuyết vận động:
Đặc trưng bởi liệt mềm, rồi chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng điển
hình và “cử động khối”.
Hội chứng vai tay và hiện tượng đau khớp vai bên liệt.
Hiện tượng đau khớp vai và tay bên liệt còn được gọi là phản xạ loạn dưỡng
giao cảm. Khớp vai sưng, đỏ đau, co rút, hạn chế vận động, đau lan xuống các khớp
còn lại của chi. Chụp X quang có thể thấy hiện tượng loãng xương hình đốm, mất
chậm hơn.
Yếu tố tâm lý BN, gia đình, sự động viên cũng là một trong những yếu tố
quan trọng cho sự phục hồi. Điều đó làm cho BN cố gắng trong những hoạt động
thường ngày làm cho PHCN nhanh hơn. 11
2.3.4. Thực trạng PHCN cho bệnh nhân TBMMN
Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới do các nguyên nhân khác nhau
số người bị TBMMN ngày một tăng. Tỷ lệ tử vong do TBMMN cũng có xu hướng
ngày một tăng [3, tr.5]. Các kỹ thuật điều trị, PHCN cho người TBMMN cũng ngày
một tốt hơn, song việc thực hiện PHCN còn có nhiều vấn đề chưa được tốt như:
- PHCN không đúng thời điểm: nếu quá sớm khi tai biến chưa ổn định có thể gây
tăng chảy máu, làm cho tai biến nặng lên. Nếu quá muộn thỡ cỏc cơ, khớp bị cứng,
teo khó hồi phục.
- Việc hướng dẫn cho người nhà BN, hướng dẫn cho cộng đồng chưa được thật
chi tiết, không có các tài liệu kèm theo để họ tiến hành dễ dàng ở cộng đồng.
- Việc tham gia của gia đình, đặc biệt của cộng đồng chưa cao.
- Việc lượng giá tình trạng bệnh và mức độ tổn thương vận động chưa được chú ý
đúng mức nên quyết định mức độ tập luyện, PHCN chưa thật phù hợp.
Với các thực trạng trên, hiện nay việc PHCN cho BN TBMMN chưa có hiệu
quả cao. 12
C 3
N
3.1. L [2, tr. 43-44]
+ Có gia đình nhưng hàng ngày ở nhà một mình.
+ Nghề nghiệp.
+ Có cầu thang trong gia đình.
+ Có người giúp đỡ.
+ Cần dụng cụ trợ giúp, PHCN.
3.1.3. Lượng giá hệ vận động
- Vận động thụ động các khớp: nhận xét tầm vận động và đưa ra nhận xét.
- Vận động khớp chủ động: nhận xét tầm vận động và đưa ra nhận xét.
- Độc lập các động tác.
- Phối hợp vận động bình thường, hai bên
- Chức năng ngồi, đứng, chức năng thăng bằng.
- Chức năng bàn tay.
3.1.4. Đo tầm vận động của khớp [8, tr. 48]
- Phương pháp đo: Đo bằng phương pháp Zero: Tư thế người đứng thẳng, 2 lòng
bàn tay quay ra trước, khi đó tất cả các khớp ở vị khí nghỉ được quy ước là 0
0
.
- Nguyên tắc đo:
+ Mọi cử động khớp đều xuất phát từ vị trí 0
0
.
+ Tầm vận động khớp được so sánh với bên đối diện, với đối tượng cùng thể trạng.
+ Đo tầm vận động khớp ở cả hai dạng vận động chủ động và thụ động.
+ Cách ghi: ghi từ vị trí khởi đầu đến cuối tầm vận động của khớp.
+ Sai số cho phép 0-5
0
.
- Đo các khớp
+ Khớp cổ tay: duỗi 70
0
; Xoay trong 70
0
; Khép gập ngang 135
0
; Dạng gập ngang 45
0
.
+ Khớp cổ chân: Gấp lòng 45
0
, Gấp mu 20
0
, Xoay trong 45
0
, Xoay ngoài 20
0
. + Khớp gối: Gấp 140
0
, Duỗi 0
0
.
+ Khớp háng: Gấp 120
0
, Duỗi 30
0
- Theo dõi: dấu hiệu sinh tồn, tai biến sau tập, tầm vận động của khớp và các
dấu hiệu triệu chứng bất thường xảy ra.
- Vận động trị liệu:
+ Tập thụ động cho BN
+ Hướng dẫn BN tự tập chủ động hoặc thụ động theo tầm vận động khớp đặc
biệt là khớp vai, cẳng tay, cổ chân bên liệt, tập với dụng cụ.
- Can thiệp y lệnh
- Dinh dưỡng: tăng đạm, vitamin, tăng cường chất xơ, uống 1,5-2l nước/ ngày
Hoặc chế độ ăn bệnh lý nếu có bệnh kèm theo.
- Vệ sinh: đảm bảo vệ sinh thân thể sạch sẽ trong ngày
- Giáo dục sức khỏe: Giải thích cho BN và người nhà hiểu hơn về bệnh và cách
theo dõi bệnh
+ Khuyến khích BN tập luyện, tham gia các bài tập ngoài trời: như đi bộ
+ Hướng dẫn đặt tư thế đúng, chống lại mẫu co cứng.
16
+ Khuyến khích BN đeo nẹp chỉnh hình dưới gối, nẹp cổ tay.
+ Động viên BN tập theo chương trình tập mạnh cơ, tập theo tầm vận động
khớp
+ Khuyến khích, hướng dẫn BN tự chăm sóc: ăn uống thay quần áo, chải đầu,
đánh răng, tắm giặt…
+ Tư vấn về dinh dưỡng
+ Người nhà phải luôn ở bên cạnh động viên, hỗ trợ BN tập luyện tạo tâm lý
thoải mái, lạc quan cho người bệnh vì thông thường hiện tượng trầm cảm ở BN
TBMMN là tạm thời, không kéo dài trên một năm do tổn thương não gây nên,
ngoài ra sự cách biệt khỏi môi trường kéo dài cũng gây những thay đổi về trí tuej
và hoạt động tư duy. BN dễ xúc động, dễ khúc, khú kiểm soát những biểu hiện cảm
xúc
á
- Tình trạng chung: dấu hiệu sinh tồn, các biểu hiện bệnh lý kèm theo
dụng các cơ đối kháng).
3.5.3. Các bài tập vận động trị liệu chức năng
- Tập trên đệm
+ Thay đổi tư thế từ nằm sấp qua nằm ngửa và tư thế nằm ngửa tới ngồi.
+ Tập thăng bằng khi ngồi, di chuyển.
+ Tập mạnh các cơ lưng, bụng, tập kộo gión chủ động và bị động.
+ Tập điều hợp và sự khéo léo.
+ Tập với bóng để chuẩn bị cho các động tác tập luyện sau này.
- Tập trong thanh song song (với nẹp hoặc không nẹp)
+ Tập tăng sức chịu đựng khi đứng và sức nặng cơ thể.
+ Tập thăng bằng.
+ Tập mạnh chi trên.
+ Tập kiểm soát khung chậu.
+ Tập sử dụng chân giả.
+ Tập dáng đi cơ bản.
- Tập thăng bằng với nạng (có hay không có nẹp)
+ Tập thăng bằng bên, trước, sau.
+ Tập kiểm soát khung chậu, cơ lưng.
+ Tập đặt nạng theo các hướng.
+ Tập sử dụng nẹp, chân giả.
18
+ Tập leo.
+ Tập ngã để chuẩn bị cho các động tác tập tiếp theo.
- Tập di chuyển
+ Tập dáng đi, dáng đi cơ bản.
+ Tập các kỹ thuật di chuyển khi bệnh nhân sử dụng xe lăn, nạng, nẹp.
+ Tập đi nhanh, chậm, dáng đi bốn điểm, hai điểm, các mặt nền khác nhau, các
chướng ngại vật khác nhau trong và ngoài nhà.
+ Tập leo trèo thang gác.
- Véo: Dựng ngón tay cái, ngón tay trỏ, hoặc những đốt thứ hai của ngón cái
với đốt thứ ba của ngón trỏ, kẹp da, kéo da lên và đẩy da liên tiếp làm cho da của
BN luôn bị cuộn giữa các ngón tay của thầy thuốc. Hay dùng ở lưng, trán.
- Phát: Bàn tay hơi khum, giữa lòng bàn tay hơi lõm, phát từ nhẹ đến nặng vào
chỗ bị bệnh. Khi phát, do áp lực trong không khí trong bàn tay thay đổi, da bị đỏ
dần lên.
3.6.2.2. Các thủ thuật tác động lên cơ là chính
- Day: Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, mô ngón tay cái hoặc ngón tay cái, ấn
xuống da thịt của BN và di động theo đường tròn. Làm ở diện rộng hay hẹp, sức
dùng mạnh hay yếu tùy tình hình bệnh.
- Đấm và chặt:
+ Đấm: Nắm hờ tay, dựng mụ ngún ỳt đấm vào chỗ bị bệnh.
+ Chặt: Dựng mụ bàn tay và mụ ngún ỳt chặt liên tiếp vào chỗ bị bệnh.
Thường dùng ở nơi nhiều thịt.
- Lăn: Dùng khớp ngón tay, bàn tay của cỏc ngún ỳy, ngún nhẫn, ngón giữa với
một sức ép nhất định vận động khớp cổ tay để làm ba khớp ngón tay, bàn tay lần
lượt lăn trên bộ phận cần xoa bóp (nhất là ở chỗ đau).
- Bóp: Dựng ngón tay cái và các ngón tay kia bóp vào da thịt nơi bị bệnh. Có thể
bóp bằng hai ngón tay, ba ngón tay, bốn ngón tay hoặc năm ngón tay. Lúc đó vừa
bóp vừ hơi kéo thịt lên, không được để thịt hoặc gân trượt dưới tay vì sẽ gây đau.
- Vờn: Hai bàn tay hơi cong bao lấy vị trí xoa bóp rồi chuyển động ngược chiều
kéo theo cả da thịt BN chỗ đó chuyển động theo. Dùng sức phải nhẹ nhàng vờn từ
trên xuống, từ dưới lên.
3.6.2.3. Các thủ thuật tác động lên huyệt là chính
- Ấn: Dùng ngón tay cái ấn vào huyệt. Nếu ở chỗ khác rộng hơn có thể dùng gốc
bàn tay mô ngón tay út và mô ngón tay cái để ấn.
20
- Day: Dùng ngón tay cái hoặc ngón giữa ấn lên huyệt rồi day tròn. Tay của thầy
thuốc và da của BN dính với nhau, da của BN di động theo tay của thầy thuốc.
21
3.7.3.1. Các bài tập theo tầm vận động khớp ở tư thế nằm ngửa[8, tr. 50-55]
- Tập vận động khớp vai
+ Gấp và duỗi
Người điều trị đứng sát mép giường tay trái cố giữ cổ tay, tay phải đỡ khớp
khuỷu và giữ tay BN ở tư thế trung gian (ngón cái chỉ lên trên). Sau đó từ từ, nhẹ
nhàng đưa tay BN thẳng lờn quỏ đầu (Chú ý không đưa tay BN ra phía ngoài). Nếu
đầu giường hoặc tấm ván giường làm cản trở vận động thì bạn hãy gập khuỷu tay
BN lại, đưa cẳng tay sỏt lờn phớa đầu. Sau đó đưa ngược tay trở lại vị trí ban đầu
cạnh thân như đã nói ở trên.
+ Tập vận động dạng và khép khớp vai
Tư thế BN và người điều trị như đã nói ở trên, người điều trị để tay sát với
thân mình, dùng khuỷu tay phải đỡ tay BN, để tay BN nằm nghỉ trên cẳng tay
mình. Tay trái người điều trị giữ khớp vai của BN để không cho khớp vai di chuyển
lờn phớa tai khi vận động. Tay phải giữ tay BN ngang phẳng với mặt giường và
vận động khớp vai từ sát thân mình đến vị trí dạng ngang 90º. Sau đó người điều trị
chuyển tay trái từ khớp vai để nắm vào khớp cổ tay BN và vận động tay BN phía
đầu như động tác gấp khớp vai. Nếu đầu giường làm cản trở vận động thì người
điều trị nhẹ nhàng gấp khuỷu tay BN lại và đưa cẳng tay xuống sát phía trên đầu.
Sau đó đưa tay BN trở về vị trí ban đầu như trước khi tập.
+ Tập xoay khớp vai vào trong và ra ngoài
Đầu tiên người điều trị vận động khớp vai dạng đến 90º so với thân mình và
gập khớp khuỷu đến 90º, giữ ngón tay cái của BN giữa ngón trỏ và ngón giữa tay
phải của mình và đặt ngón tay cái ở phía mu bàn tay BN. Nếu cần, bạn có thể đỡ
khớp khuỷu của BN bằng bàn tay trái của mình.
Sau đó vận động cẳng tay BN về phía mặt giường với lòng bàn tay ở phía
dưới tức là vận động khớp vai vào trong.
Tiếp tục vận động cẳng tay về phía đầu giường với lòng bàn tay ở phía trên,
mu bàn tay ở phía dưới tức là vận động xoay khớp vai ra ngoài. Trong khi tập xoay
khớp vai người điều trị cần lưu ý giữ khớp khuỷu gấp 90º và không để khớp vai bị
.
Tập với sợi dây: tay lành nắm một đầu dây, sợi dây vắt ngang qua vai bên tay lành
ra sau lưng, tay bên bệnh nắm lấy đầu kia của sợi dây. Tiến hành dùng tay lành kéo
sợi dây xuống làm cho tay bệnh di chuyển lên trên ở phía lưng giống như động tác
gãi lưng.
Tập vận động với thang gióng:
Tập động tác gấp: bàn tay BN ở tay có khớp vai đau nắm chặt vào một bậc
thang trên thang gióng, người quay về phía thang rồi làm động tác ngồi xuống và
giữ nguyên ớt phỳt rồi đứng lên. Lúc đầu khi ngồi xuống sẽ đau tăng ở khớp vai thì
có thể bám ở các bậc thang thấp, sau đó tập bám ở các bậc thang cao dần.
Tập động tác dạng: cũng làm như trên nhưng người quay ra bên.
Tập động tác xoay ngang: bám tay vào bậc thang, thân người quay về phía
thang rồi làm động tác xoay dần thân người quay ra bên và ra trước.
Tập động tác duỗi xoay ngoài: (bài tập chống đẩy) BN đứng quay lưng vào
thang, hai tay đưa ra sau nắm lấy một bậc thang, tiến hành ngồi xuống đến hết tầm
vận động thì giữ vài giây rồi đứng lên. Lúc đầu khi đứng lên có sự trợ giúp của
24
chân, sau chuyển dần lực chống đến tay để tăng sức cơ. Bài tập tương tự có thể
thực hiện với hai tay chống vào cạnh bàn ở phía sau.
Tập với ròng rọc: tập động tác gấp và dạng khớp vai.
Tập nhún vai với vật nặng: BN ở tư thế ngồi tựa lưng vào tường, tỳ hộp sọ và gáy
vào tường làm giảm độ ưỡn cong của cột sống cổ, hai tay duỗi thẳng sỏt thõn và
xách hai vật nặng, nhấc vai lên đến hết tầm, giữ nguyên một lúc rồi từ từ hạ xuống.
Bài tập được thực hiện thường xuyên liên tục với trọng lượng tăng dần. Bài tập tương
tự cũng có thể thực hiện ở tư thế đứng với vai nâng lên cao và hơi ra sau.