Phạm trù Chủ nghĩa cá nhân
của tư tưởng phương Tây
trong sự lý giải của Phan Khôi
Trên đây tôi nói kỹ về hai bài báo của Phan Khôi trong đó bàn rõ về nội dung
của phạm trù chủ nghĩa cá nhân của tư tưởng phương Tây, về sự liên quan chặt chẽ
giữa chủ nghĩa cá nhân ở con người công dân với tinh thần dân chủ trong các thiết
chế xã hội chính trị; và nhân bàn về việc đưa tinh thần dân trị vào xã hội Việt Nam,
Phan Khôi nhấn mạnh rằng một trong những điều kiện thiết yếu là phải phổ cập nội
dung chủ nghĩa cá nhân vào đơn vị con người của xã hội ta.
Cần phải nói rằng những luận điểm chính như vừa dẫn trong hai bài báo trên cũng
được Phan Khôi thể hiện thường xuyên trong nhiều bài viết khác, kể cả loại bài mang
tính chất hài đàm, nhàn đàm, tạp trở, dật sự,… Hơn thế, ở phương diện vận động phổ
biến các nội dung của chủ nghĩa cá nhân đó vào xã hội người Việt đương thời mình,
Phan Khôi đã tự chứng tỏ là một trong những nhà ngôn luận đi tiên phong, với việc biện
luận và đề xuất các nội dung của vấn đề nữ quyền
(13)
hoặc biện luận và đề xuất việc
chuyển từ mô hình đại gia đình sang mô hình gia đình hạt nhân trong xã hội người
Việt
(14)
. Nhìn lại cả quá trình vận động tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, hậu thế chúng
ta có đủ căn cứ để xem Phan Khôi như một trong những nhà lý luận sâu sắc về quyền
con người trong đời sống hiện đại. Cách mô tả nội hàm phạm trù chủ nghĩa cá nhân như
trên của Phan Khôi chắc chắn không phải là kết quả sự hiểu sai đọc lệch nào, càng
không phải do bị tuyên truyền huyễn hoặc, mặc dù ngày nay đọc lại, người nghiên cứu
1962), từng là Toàn quyền xứ Đông Dương thuộc Pháp (1912-1919).
Trong một buổi diễn thuyết ở Hà Nội vào khoảng đầu năm 1919, A. Sarraut cho
rằng một trong những lý tưởng, chính sách của nước Pháp ở Đông Dương là tác động để
gây ra “cái tư tưởng về nhân quyền (le droit de homme), về cái quyền của con người
ta”
(15)
. A. Sarraut nhận định về trạng thái của đơn vị con người ở xã hội người Việt cổ
truyền:
“Trước khi người Đại Pháp sang Đông Dương này thì dân An Nam tuy là
một dân tộc có văn hiến, đã có pháp luật khôn ngoan của vua hiền chúa giỏi
đặt ra, song cũng ví như một đám đông chưa thành hình (masse amorphe), còn
chìm đắm vào trong đoàn thể, người ta còn ngập vào trong đám đông, như cái
cây lẫn trong rừng lớn vậy. Cái giá trị của người ta (la valeur humaine), nghĩa là
những quyền lợi của mỗi người cùng là phép luật để giữ cho những quyền lợi
ấy, còn hầu như chưa có. Người ta đối với quốc gia chẳng qua là một chút mảy
may, cũng ví như một hột cát trong đống cát vậy. Cái đám người đông u u âm
âm ấy đã mấy mươi đời nay vẫn cứ chịu ép một bề mà theo cái quyền chuyên
chế của người trên, dù cái quyền ấy sai khiến thế nào mặc lòng, bắt sống phải
sống bắt chết phải chết, dẫu lạm dụng quá độ cũng không biết tố cáo vào đâu,
vì trên ông vua không còn có cái quyền nào cao hơn nữa. Người ta an toàn
được chỉ là nhờ ở cái bụng tốt, cái chí công, cái lòng nhân từ của ông vua cầm
quyền đó, cùng những người khâm mạng vua mà thi hành cái quyền đó. Gặp
được vua hiền quan giỏi thì cái nhân thân của mình được trọn vẹn, gặp phải vua
xấu quan xằng thì khó lòng mà giữ cho trọn được. Đối với cái quyền tối cao
tuyệt đối ấy thì không còn có pháp luật nào mà tố cáo được nữa”
(16)
.
Một trạng thái như vậy, theo Sarraut, vốn thuận lợi cho các nhà thực dân:
“Chắc rằng một cái tình trạng như vậy thì dễ việc cai trị cho quân quyền
nhiều lắm, vì dân chỉ là một cái lũ đã sẵn lòng phục tòng, không phải là những
ngày một phát đạt thêm lên, sau này được sung sướng hơn lên, và, hoặc giả
có bị xâm phạm đến những quyền lợi cùng tư cách ấy thì có chỗ mà kháng cáo
được. Ấy, cái mục đích cao thượng của công nghiệp nước Pháp là ở đó…”
(19)
.
Trên đây tôi đã trích dẫn giới thiệu quan điểm một nhà cầm quyền Pháp về công
việc được xem như “mục đích cao cả” của mình: phổ cập chủ nghĩa cá nhân vào xã hội
người Việt. Ngôn ngữ quan phương của ông quan lớn nhất, đứng đầu bộ máy cai trị xứ
thuộc địa, đã khiến những lời lẽ trên đây bị quá tải những thiện ý và tính chính nghĩa;
song le điều đó cũng không làm cho nó trở nên vô nghĩa hoàn toàn; ít ra trong đó cũng
vẫn còn một vài phần sự thực.
Điều tôi lưu ý ở ví dụ vừa trích dẫn từ viên cựu toàn quyền kia là những nội dung
căn bản của phạm trù chủ nghĩa cá nhân mà ông ta diễn đạt, lại có sự phù hợp trên nét
lớn với những nội dung mà ta thấy Phan Khôi đã diễn đạt.
Tôi sẽ loại bỏ ngay khả năng Phan Khôi là kẻ hâm mộ viên chức kia. Chính trong
năm 1919, Phan Khôi đã lên tiếng mỉa mai cái ngôn từ “xin chính quốc cho Đông
Dương được tự trị” của toàn quyền A. Sarraut
(20)
.
Bởi vậy, sự phù hợp này chẳng qua chỉ cho thấy có phần chắc là Phan Khôi
đã đọc đúng cái nội dung chủ nghĩa cá nhân của xã hội phương Tây đương thời ông; đọc
đúng ở đây có nghĩa là diễn đạt lại cho người đọc Việt Nam bằng tiếng Việt đúng cái
quan niệm về nhân quyền, về quyền và lợi ích của cá nhân mỗi con người, tức là về chủ
nghĩa cá nhân mà ở xã hội Tây phương đương thời ấy người ta đang chủ trương và đang
sống trong những nguyên tắc của nó.
4. Ngày nay, ở đầu thế kỷ XXI này, chúng ta biết rằng chủ nghĩa cá nhân và thể
chế dân chủ đã không còn là đặc sản của riêng các xã hội phương Tây.
Tuy vậy, trên quy mô toàn hành tinh tức là toàn nhân loại, những vấn nạn về
quyền con người, thậm chí, những thảm hoạ nhân đạo vẫn chưa hết tính nguy cơ thường
trực của chúng.