GV: TS. Bùi Xuân Thanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI
NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ NHÂN SINH
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
GIẢNG VIÊN: TS. Bùi Xuân Thanh
SINH VIÊN:
MSSV:
LỚP: TPHCM
Tháng 12 - 2012
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 1
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY 4
1.1. Sự ra đời của Phật giáo 4
1.2. Những tư tưởng cơ bản trong triết lý nhân sinh của Phật giáo nguyên thủy 9
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO NGUYÊN
THỦY 15
3.1. Lời tuyên ngôn chống lại sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội 16
3.2. Giáo dục con người giác ngộ chân lý và đạt được hạnh phúc (giải thoát) 17
3.3. Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người và xây dựng tính nhân bản sâu sắc 18
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 2
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
LỜI MỞ ĐẦU
Albert Einstein (1879 - 1955), nhà bác học nổi danh của thế kỷ thứ 20 đã từng phát
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời Phật giáo ở Ấn Độ
Về điều kiện thiên nhiên, Ấn Độ cổ đại là một vùng đất có điều kiện tự nhiên đa dạng.
Đất nước này vừa có dãy núi Hymalaya hùng vĩ án ngữ kéo dài trên hai ngàn km ở
phía Bắc, vừa có biển Ấn Độ Dương rộng mênh mông; vừa có sông Ấn chảy về phía
Nam, lại có sông Hằng chảy về phía Tây. Vì thế, đất nước Ấn Độ bao gồm nhiều miền
khí hậu khác biệt, từ những vùng đồng bằng trù phú màu mỡ cho đến những vùng
nóng ẩm mưa nhiều, vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, hay lại có những vùng sa
mạc khô cằn, nóng bức. Yếu tố địa lý đa dạng và khắc nghiệt này chính là cơ sở để
hình thành sớm những tư tưởng tôn giáo và triết học của người Ấn Độ cổ đại.
Về kinh tế – xã hội, từ thế kỷ VI – I TCN, nền kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ Ấn Độ
đã phát triển, thổ dân trên bán đảo Nam Á là người Dravidian và Sumerian đã có nền
văn minh khá cao. Đầu thế kỷ II TCN, một nhánh người Aryan thâm nhập vào bán đảo
Ấn Độ, dần dần chuyển sang định cư và sống bằng nghề nông. Đặc điểm nổi bật của
nền kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài của
kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “công xã nông thôn”. Mô hình này có đặc trưng
là ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước của các đế vương, gắn liền với nó là sự bần
cùng hoá của người dân trong công xã, và quan hệ giữa gia đình thân tộc được coi là
quan hệ cơ bản, cùng với xã hội được phân chia thành các đẳng cấp. Xã hội thời kỳ
này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và tiện nô
(hay nô lệ). Ngoài sự phân biệt đẳng cấp, xã hội Ấn Độ cổ đại còn có sự phân biệt về
chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo. Chính sự phân chia đẳng cấp đó làm cho
xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa các
đẳng cấp trong xã hội. Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học
đã ra đời, trong đó có Phật giáo.
Về văn hóa – khoa học, Ấn Độ cổ đại có một nền triết học phát triển từ rất sớm. Văn
hoá Ấn Độ cổ – trung đại được chia làm ba giai đoạn. Khoảng thế kỷ XXV-XV TCN
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 4
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
gọi là nền văn minh sông Ấn, từ thế kỷ XV – VII TCN gọi là nền văn minh Vêđa, đã
cho ra đời bộ thánh kinh Vêđa và từ thế kỷ VI – I TCN là thời kỳ hình thành các
năm 563 TCN, theo truyền thống Phật lịch là ngày 15/04 (rằm tháng tư) còn gọi là
ngày Phật Đản.
Mặc dù ông được sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi đế vương, lại có vợ
đẹp con ngoan nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất
lực của con người trước khó khăn của cuộc đời. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ con
đường vương giả xuất gia tu đạo. Sau 6 năm tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác
ngộ tìm ra chân lí “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải
thoát nỗi khổ cho chúng sinh. Từ đó ông đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình.
Về sau, ông được suy tôn với nhiều danh hiệu khác nhau: Đức Phật, Đức Thế Tôn,
Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích Ca… trong dân gian thường gọi là Phật hay Bụt.
Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lý Phật giáo khắp Ấn Độ. Ông qua đời
ở tuổi 80 và để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý báu.
Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức
độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông
đảo quần chúng lao động. Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạo
đức truyền thống của các dân tộc Châu Á. Kinh điển của phật giáo rất đồ sộ gồm 5000
quyển, chia thành Tam tạng kinh (Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận).Tam tạng lại
chia làm hai loại là Đại thừa và Tiểu thừa. Tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo
nguyên thủy được trình bày trong tạng Kinh, chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh
quan của Phật Thích Ca.
1.1.3. Phật giáo nguyên thủy và các tông phái Phật giáo
Đạo Phật có một lịch sử phát triển thăng trầm trong suốt hơn 2500 năm và nó lan toả từ
Ấn Độ ra khắp nơi. Do đó, việc hình thành các bộ phái khác nhau có phương pháp tu
học và cách giải thích khác nhau về giáo lý cho thích hợp với tình hình của mỗi xã hội
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 6
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
ở mỗi thời điểm là chuyện tất yếu. Tuy vậy, bản thân giáo lý Phật giáo không hề thay
đổi theo sự phân chia tông phái này.
Sự phân chia thành bộ phái rõ nét đã bắt đầu xảy ra vào thời kỳ kết tập kinh điển lần
thứ II (khoảng 100 năm sau khi Thích Ca Mâu Ni mất). Lần phân chia đầu tiên là do sự
tắc ràng buộc của Theravada. Đến thế kỷ III, khái niệm Mahayana mới được
xác định rõ ràng qua bồ tát Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay Trung
Quán Luận), chứng minh tính không của vạn vật. Các ý này đã được Long Thọ
khai triển dựa trên khái niệm “Vô ngã” và “Duyên sinh” đã có từ trong các kinh
điển Pali.
• Vajrayana: Varayjana còn có tên gọi là Tantra, Mật tông hay Kim cương thừa.
Tông phái này xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI. Phái này chia sẻ chung nhiều tư
tưởng với Đại thừa nhưng có nhấn mạnh trong việc thực hành. Các truyền giảng
được tập trung vào nhiều phương pháp tu học thực nghiệm mãnh liệt để đẩy
nhanh việc thăng tiến và có thể ngay trong cuộc sống hiện tại sẽ đạt đuợc giác
ngộ các thực nghiệm này thường được gọi là phương tiện. Nếu như Đại thừa có
nhiều tính chất thiên về triết lý, tư duy thì Mật tông đi xa hơn về mặt thực
nghiệm và cũng thể hiện sự thích ứng linh hoạt của Phật giáo.
• Tịnh Độ tông: Tịnh Độ Tông xuất hiện vào giữa thế kỷ IV từ sự truyền bá của
sư Huệ Viễn. Tư tưởng về Tịnh Độ thì có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tới
khi sang Trung Quốc thì nó phát triển thành một tông phái. Tịnh Độ tông cũng
đuợc xem là một nhánh của Đại thừa song tông này không có sự truyền thừa
như các tông phái khác mà chỉ do sự đóng góp công sức để phát huy giáo lý
Tịnh Độ. Nguyên lý của tông phái dựa vào nguyện lực (tha lực) của Phật A Di
Đà và sự nhất tâm niệm danh hiệu Phật.
• Thiền tông: Thiền tông (Dhyana) còn có các tên khác là ZEN, ch’an, tên cũ là
Thiền na. Thiền là một phương tiện căn bản đã được đạo Phật sử dụng ngay từ
khởi thủy. Nhưng cho đến khi thiền sư sơ tổ của môn phái thiền Trung Hoa là
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) du hành sang Trung Quốc (năm 520) và truyền
lại thì Thiền tông bắt đầu trở thành một tông phái riêng biệt. Đến đời thứ 6, sư
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 8
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
Huệ Năng (Hui-neng) đã đưa Thiền tông phát triển và nó đã thịnh hành hơn tất
cả các tông phái Phật giáo khác ở Trung Quốc. Huệ Năng cũng là người đã hủy
bỏ thông tục truyền thừa, nghĩa là không có sư tổ đời thứ 7 của Thiền Tông,
(Kinh Pháp Hoa). Chân lí về sự khổ trên thế gian, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang
tính chất khổ não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ. Phật xác nhận
chân tướng của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ.
Nỗi khổ thế gian là khôn cùng, tuy nhiên có thể chia làm 8 nỗi khổ (bát khổ) trầm
luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái
biệt ly khổ (yêu thương mà phải chia ly, xa cách), sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không
đạt được), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống với nhau), ngũ uẩn khổ (năm yếu
tố vô thường nung nấu làm khổ – sắc, thụ, tưởng, hành, thức).
Như vậy, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn
cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất. Khổ đế là một chân lý khách quan
hiện thực. Khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng loạt nhân duyên được tạo tác từ
tâm thức. Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình thái
khổ đau của con người. Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con người
không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải đi vào soi
sáng cái bản chất nội tại của nó.
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối. Do đó, con người
ở đâu, làm gì cũng khổ. Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác. Ngay cả cái
chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới. Phật ví sự khổ của con
người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước biển”.
• Nhân đế (hay Tập đế):
Lý luận về sự phát sinh, những nguyên nhân gây ra nỗi khổ nơi cuộc sống con người.
“Tập” là tụ hợp, kết tập lại. Phật giáo cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ
khi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi. Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra. Sở dĩ có
nghiệp là do lòng ham muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…), do
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 10
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do Tam độc (tham, sân, si) gây ra. Nguyên nhân
của khổ là sự ham muốn, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả
mãn được hoại diệt… Các loại ham muốn này là gốc của luân hồi. Ngoài ra, nhân đế
được diễn giải một cách lôgic và cụ thể trong thuyết Thập nhị nhân duyên (12
này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau. Cũng có lời giải thích là 12 yếu
tố tích luỹ đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà yếu tố căn đế là ái và thủ, nghĩa là tham
lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp. Mười hai nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra
cái vòng lẩn quẩn của nổi khổ đau nhân loại.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản
chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và
chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Chúng ta có
thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình. Hay nói cách khác,
tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không
bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong
tâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc.
• Diệt đế:
là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian để đạt tới niết bàn.
Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết
bàn”. Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt. muốn
diệt khổ phải đi ngược lại 12 nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh. Dưới góc độ
nhận thức, vô minh có nghĩa là “ngu tối”, “không sáng suốt”, “thiếu giác ngộ chân lý”.
Vì vậy, mỗi chúng sinh phải tu dưỡng thân tâm, đoạn trừ vô minh, để cho Phật tính
bừng sáng, nó sẽ là ngọn đèn pha dẫn bước chúng sinh đến cõi Niết bàn. Muốn diệ trừ
vô minh phải có trí tuệ vì: “Có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò
xét, không để lầm lỗi có thể có được, trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc chắn nhất
vượt bể sinh, lão, bệnh, tử. Là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh … là búa
sắt chặt cây phiền não”. Khi vô minh được khắc phục thì tam độc sẽ biến mất, luân hồi
sẽ chấm dứt… tâm sẽ thanh thản, thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất hiện. Theo chữ
Phạn, niết bàn gồm hai phần, “Nir” và “Vâna”. “Nir” là hình thức phủ định, nghĩa là
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 12
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
không, “Vâna” có nghĩa là ái dục. Cho nên, “đã diệt trừ lòng tham, đã diệt trừ nóng
giận, oán thù, đã diệt trừ si mê, đó là niết bàn” (Kinh Tạp A Hàm) hay trong một đoạn
kinh khác, Phật lại nói “Dứt được lòng vị kỷ thì chứng được cảnh giới niết bàn”…Diệt
chính đạo là suy nghĩ, nói năng, hành động đúng đắn…; nhưng về thực chất, thực hành
bát chính đạo là khắc phục tam độc bằng cách thực hiện tam học (giới, định, tuệ).
Trong đó, tham được khắc phục bằng giới (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); sân
được khắc phục bằng định (chính tinh tấn, chính niệm, chính định); si được khắc phục
bằng tuệ (chính kiến, chính tư duy). Đây là con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá
nhân. Khổ được giải thích là xuất phát Thập nhị nhân duyên, và một khi dứt được
những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi vòng sinh tử. Chấm dứt luân hồi, vòng
sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ niết bàn. Có 8 con đường chân chính để đạt sự
diệt khổ dẫn đến niết bàn gọi là “Bát chính đạo”. Bát chính đạo bao gồm:
1.Chính kiến: hiểu biết đúng đắn và gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và
giáo lí vô ngã.
2.Chính tư duy: suy nghĩ luôn có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn
chân lí một cách không sai lầm.
3.Chính ngữ: nói năng phải đúng đắn, không nói dối hay nói phù phiếm.
4.Chính nghiệp: giữ nghiệp đúng đắn, tránh phạm giới luật, không làm việc xấu, nên
làm việc thiện.
5.Chính mệnh: giữ ngăn dục vọng đúng đắn, tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát
sinh.
6.Chính tinh tiến: cố gắng nổ lực đúng hướng không biết mệt mỏi để phát triển nghiệp
tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7.Chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát, luôn tỉnh giác trên
ba phương diện Thân, Khẩu, Ý.
8.Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu đế, vô ngã, vô
thường, tâm ý đạt bốn định xuất thế gian .
Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ vô minh, đạt tới sự
giải thoát, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh
tử luân hồi.
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 14
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
Ngoài ra Phật giáo còn đưa ra 5 đều nhằm răn đe đem lại lợi ích cho con người và xã
đất nước mà trong đó, đời sống con người phải chịu nhiều bất công trong chế độ phân
chia giai cấp lâu đời của xã hội Ấn thời bấy giờ. Giai cấp Bà La Môn tập trung số
người tu của 62 đạo phái khác nhau, chủ trương công việc lễ nghi, tế tự; giai cấp này
chiếm vị trí tối cao. Kế đến là giai cấp Sát Ðế Lợi, tập trung dòng dõi vua chúa, là giai
cấp nắm quyền điều hành xã hội. Giai cấp thứ ba là Tỳ Xá, bao gồm những người bình
dân. Ða phần còn lại thuộc giai cấp Thủ Ðà La, họ làm những nghề hạ tiện, cũng gọi là
dân nô lệ. Hai giai cấp Bà La Môn và Sát Ðế Lợi thuộc giai cấp thống trị, Thủ Ðà La
và Tỳ Xá thuộc giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối.
Vì vậy, người dân nô lệ thì cứ đời đời làm nô lệ, tạo thành một xã hội bất công.
Ngay trong buổi hoàng hôn tăm tối của một thực trạng như vậy, một hiền nhân thuộc
dòng dõi vua chúa đã dũng mãnh gióng tiếng chuông tiên phong phá tan bóng đêm của
xích xiềng nô lệ và bức tường phi lý của phân chia giai cấp bằng một châm ngôn vĩ
đại: "Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn". Lời
tuyên bố hùng hồn ấy của Ðức Phật là nền tảng để hình thành một hệ thống giáo lý, mà
trong đó tính bình đẳng được thể hiện trọn vẹn cả về phương diện lý thuyết lẫn thực
tiễn.
Theo Phật giáo, mọi sai biệt trên thế giới này đều tùy thuộc vào các nhân duyên mà
sinh khởi; cũng vậy, sự khác nhau về địa vị, hoàn cảnh giàu sang hay nghèo khổ, ngu
dốt hoặc thông minh tất cả đều hoàn toàn do hành vi tạo tác của mỗi con người chứ
không phải do tự nhiên hay được sắp đặt theo bất kỳ một thông lệ hoặc quy định nào.
Trên tinh thần này, sự phân chia giai cấp trở thành phi lý và vô nghĩa. Việc Thái tử Sĩ
Ðạt Ta từ bỏ ngôi vị đế vương, quay lưng với tất cả vinh hoa phú quý, khước từ mọi
đặc ân cao tột dành cho giai cấp vua chúa, một thân độc hành với chiếc áo thô sơ, đầu
trần chân đất, vân du đây đó đã thể hiện tinh thần bình đẳng tuyệt vời của Ngài. Và
cũng chính Ðức Phật, con người với đời sống giản dị khiêm tốn ấy, đã thể hiện lòng
bình đẳng trong suốt cuộc đời giáo hóa chúng sinh. Ngài rải tình thương vô biên xuống
tất cả muôn loài một cách công bằng vô phân biệt. Từ hạng người cùng đinh như gã
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 16
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
gánh phân, thợ cạo tóc cho đến những người giàu sang phú quý, từ những hạng người
sinh mọi điều tốt lành. Mục đích cuối cùng của Phật Giáo là giúp con người thoát khổ
và đạt được hạnh phúc, Phật Giáo đã chỉ ra những nguyên nhân của cái khổ, diệt trừ và
phương pháp diệt trừ khổ để có được hạnh phúc thực tại, tất là giải thoát con người
khỏi khổ đau và đạt được hạnh phúc.
3.3. Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người và xây dựng tính nhân bản sâu
sắc
3.3.1. Giáo dục đạo đức, hướng thiện cho con người
Phật giáo chủ trương thuyết nghiệp báo và tái sinh, Do Vạn vật bị chi phối bởi luật
nhân quả nên mỗi chúng ta mất đi ở nơi này , thời gian này sẽ được sinh ra ở nơi khác
thời gian khác, nghiệp cũng bị chi phối bởi luật nhân quả, Chúng ta chịu sự chi phối
của nghiệp kiếp này và nghiệp kiếp trước, nếu làm việc thiện, nói lời chân chính, suy
nghĩ đứng đắn sẽ tạo ra điều tốt cho đời sau tái sinh, ngược lại sẽ có nghiệp xấu. Bản
thân mỗi người phải chịu hoàn toàn những suy nghĩ, hành động và lời nói của mình
( Nghiệp), Từ đó khuyến khích con người sống lương thiện hơn, Ngũ giới của Phật
Giáo giúp mọi người biết thương yêu, không sát sanh ( Nhân), Không trộm cắp ( Nghĩa
), Không tà dâm ( Lễ ), Không uống rượu ( Trí ), Không Nói dối ( Tín ), là những
nguyên tắc đạo đức để những tín đồ Phật giáo rèn luyện tu dưỡng, điều chỉnh hành vi
đạo đức của mình, hình thành những đức tính tốt đẹp cho người tín đồ Phật giáo trong
đời sống hiện tại như sống đức độ, trung thực, hướng thiện
3.3.2. Xây dựng tính nhân bản
Ðiểm căn bản nhất mà chúng ta nhận thấy được ở Phật giáo, vị giáo chủ không phải là
một thần linh, không phải là một Thượng đế đầy quyền uy thưởng phạt, mà là một con
người thật sự như bao người khác. Tên Ngài Tất Ðạt Ða, tiếng Phạn là Siddhàrtha.
Ngài thuộc giai cấp Sát Ðế Lợi, dòng dõi vua chúa, con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng
hậu Ma Da. Ngài sinh ra, lớn lên, đi học; vợ Ngài là Công chúa Da Du Ðà La, con
Ngài là La Hầu La. Thấu rõ những nỗi thống khổ sinh, già, bệnh, chết , chứng kiến
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 18
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
những lầm than cơ cực của dân chúng trước những bất công của xã hội Ấn thời bấy
giờ, Ngài đã từ bỏ gia đình, vợ con, một mình ra đi tìm phương giải quyết. Sau những
Phật giáo luôn luôn đề cao nỗ lực và ý chí của con người. Tinh tấn là một trong những
đức tính quyết định việc thành tựu đạo quả Bồ đề, bến bờ giác ngộ chẳng bao giờ có
dấu chân của biếng lười và bạc nhược. Với những tâm hồn khát khao tự do tuyệt đối,
dốc hết sức bình sinh cùng với sự hiểu biết chánh pháp một cách chân chính, mỗi
chúng ta chắc chắn sẽ đạt được kết quả tốt đẹp trên bước đường tu tập. Bằng ngược lại,
cho dù ngàn vị Phật dang tay tế độ cũng không làm sao đưa ta thoát khỏi biển trần lao
đầy thống khổ này.
Ðiều đáng nói nhất về khả năng của con người mà Phật giáo luôn nhấn mạnh chính là
trí tuệ. Ðó là khả năng tối cao của nhân loại, là di sản vô cùng quý báu mà bất kỳ ai
nếu biết vận dụng và phát huy đúng đắn đều có thể tận diệt mọi khổ đau, đạt đến bến
bờ hạnh phúc. Ðức Phật đã tuyên bố: "Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật".
Tóm lại, đối với Phật giáo, con người vốn là một chúng sanh ưu việt, có rất nhiều tiềm
năng phi thường; nếu chúng ta khéo triển khai thì không gì không thực hiện được trên
cõi đời này. Như vậy, ta có thể nói rằng Phật giáo là Phật giáo của con người, xuất phát
từ Ðức Phật Thích Ca, Ngài là đấng Giác Ngộ nhưng Ngài là một con người; Ngài đã
cất tiếng nói và có một đời sống rất người, và vì con người mà khai thị chân lý, hướng
dẫn con người đến đời sống thực sự an vui.
KẾT LUẬN:
Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, có yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng
của thế giới nhưng triết lý nhân sinh vẫn còn mang nặng tính chất bi quan không tưởng
và duy tâm về xã hội.
Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập từ Ấn Độ và Trung
Quốc vào Việt Nam. Phật giáo được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu công nguyên
theo con đường Hồ Tiêu (đường thủy) và con đường Đồng Cỏ (đường bộ). Với những
SV: Nguyễn Ngọc Quốc Việt 20
GV: TS. Bùi Xuân Thanh
giá trị tốt đẹp của Phật giáo, nhân dân ta nhanh chóng tiếp nhận và hình thành nên Phật
giáo Việt Nam. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam trải qua các thời kỳ
gắn liền với các triều đại phong kiến. Thời kỳ du nhập và hình thành (thế kỷ II – V),
tiếp theo là thời kỳ phát triển (thế kỷ VI – IX). Phật giáo Việt Nam cực thịnh và trở