viện hàn lâm
khoa học x hội Việt Nam
học viện khoa học xã hội
ngô văn hởng T tởng trị nớc thời Lê Sơ
và ý nghĩa lịch sử của nó
luận án tiến sĩ triết học Hà nội - 2014
Hà nội - 2014
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong luận án là trung thực. Những kết luận
khoa học của luận án cha từng đợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án Ngô Văn Hởng
Môc lôc
Trang
MỞ ĐẦU 1
2.1. Lý luận chung về tư tưởng trị nước và tư tưởng trị nước thời Lê Sơ 28
2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị cho sự hình thành tư tưởng
trị nước của thời Lê Sơ
32
2.3. Tiền đề văn hóa - tư tưởng và cách thức trị nước của các triều đại
trước cho sự hình thành tư tưởng trị nước thời Lê Sơ
46
Chương 3: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRỊ
NƯỚC CỦA THỜI LÊ SƠ
70
3.1. Chính sách đối đãi với các tầng lớp nhân dân và chủ trương đối
ngoại để thiết lập sự ổn định xã hội và bảo vệ nền độc lập dân tộc
của nhà nước Lê Sơ
70
3.2. Một số biện pháp cụ thể nhằm thực hiện chính sách an dân trong
chủ trương cai trị của thời Lê Sơ
88
3.3. Xây dựng bộ máy quan chức trong thời Lê Sơ 94
3.4. Thực chất tư tưởng trị nước của thời Lê Sơ 102
Chương 4: Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC THỜI LÊ SƠ ĐỐI
VỚI CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM VỀ SAU
VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA NÓ CHO SỰ NGHIỆP XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC TA HIỆN NAY
117
4.1. Ý nghĩa của tư tưởng trị nước thời Lê Sơ đối với các triều đại
phong kiến Việt Nam về sau
117
4.2. Bài học lịch sử từ chính sách an dân của thời Lê Sơ đối với việc xây
dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn hiện nay
121
chế chính trị xác định đường lối phát triển đất nước trong các thời đoạn tiếp theo.
Mặt khác, tư tưởng trị nước cũng có thể được kế thừa biện chứng từ các học thuyết
chính trị - xã hội vốn có từ trước trong lịch sử, từng là công cụ hệ tư tưởng của
nhiều triều đại phong kiến. Chính vì vậy nghiên cứu tư tưởng trị nước trong một
giai đoạn cụ thể không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giai đoạn lịch sử hào hùng
đó của dân tộc mà còn thấy được ở đó tư tưởng của các giai đoạn trước đó.
Nhờ có sự kế thừa những hạt nhân hợp lý, đồng thời tích hợp các hạt nhân
đó từ một số học thuyết mà nhà Lê Sơ đã hình thành nên đường lối trị nước khá phù
hợp với hoàn cảnh cụ thể của một đất nước vừa mới được giải phóng khỏi sự chiếm
đóng của nhà Minh suốt hơn 20 năm, với những nhiệm vụ vô cùng cấp bách trong
việc xây dựng vương triều cũng như khôi phục và phát triển đất nước. Những thành
tựu mà nhà Lê Sơ đã đạt được về các mặt chính trị, văn hóa, giáo dục và kinh tế là
nhờ đường lối trị nước dựa trên sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị. Đường lối trị
nước đó chính là kho tàng lý luận vô cùng quý báu của dân tộc ta, nhưng cho đến nay
nó vẫn chưa được khai thác triệt để. Mặt khác những kết quả nghiên cứu sẽ là luận cứ
khoa học đóng góp vào lĩnh vực khoa học xã hội nói chung và lĩnh vực lịch sử tư
tưởng nói riêng.
2
Thứ hai, yêu cầu về mặt thực tiễn từ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước ta hiện nay. Đó là làm thế nào để xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã
hội dân chủ, công bằng và văn minh". Nghiên cứu tư tưởng về đường lối trị nước
trong lịch sử theo tinh thần "ôn cố nhi tri tân" để rút ra những bài học cụ thể cho sự
nghiệp to lớn đó của đất nước, tức là làm rõ không chỉ những giá trị mang tính
trường tồn và phổ biến từ các học thuyết chính trị - xã hội, mà cả những hạn chế cần
phải khắc phục, theo chúng tôi, rõ ràng là có ý nghĩa cấp thiết.
Chúng ta đang xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa vốn chưa có tiền lệ trong lịch sử, thì việc đánh giá lại những kinh nghiệm trị
học Việt Nam cũng như sự nghiệp đổi mới về mọi mặt đời sống chính trị - xã hội của
đất nước ta hiện nay do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
* Mục đích:
Luận án trình bày những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành và nội dung cơ
bản của tư tưởng trị nước thời Lê Sơ, trên cơ sở đó chỉ ra những giá trị và bài học lịch
sử của tư tưởng đó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nói trên, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
Một là, trình bày một cách khái quát và có hệ thống các điều kiện, tiền đề
cho sự hình thành và thực hiện tư tưởng trị nước của thời Lê Sơ.
Hai là, làm rõ nội dung và thực chất của tư tưởng trị nước thời Lê Sơ, sự cụ
thể hóa tư tưởng đó trong đời sống hiện thực của xã hội, từ đó đánh giá những mặt
tích cực và hạn chế của nó.
Ba là, làm rõ vai trò và rút ra những bài học lịch sử của tư tưởng trị nước
thời Lê Sơ đối với việc lãnh đạo và quản lý đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
* Cơ sở lý luận:
Để xác định đúng những giá trị và hạn chế của tư tưởng trị nước trong các
triều đại phong kiến, đồng thời khẳng định những giá trị có thể kế thừa vận dụng
vào quản lý xã hội hiện đại, trong việc nghiên cứu tư tưởng trị nước thời Lê Sơ,
luận án xuất phát từ quan niệm duy vật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
4
hội và ý thức xã hội, về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội biểu hiện qua sự
tác động tích cực của nó đối với tồn tại xã hội và sự tương tác giữa các hình thái ý
thức xã hội làm cơ sở lý luận chủ yếu. Ngoài ra, chúng tôi có dựa trên tư tưởng Hồ
đối với ý thức xã hội, cụ thể là tính tất yếu của đường lối cai trị dựa trên sự kết hợp
đức trị với pháp trị đương thời.
- Luận án chỉ ra những giá trị tích cực và hạn chế trong tư tưởng trị nước
của triều đại Lê Sơ, đồng thời rút ra những bài học lịch sử về chính sách an dân bằng
đề cao nhân nghĩa, trọng dân; trị nước bằng sự kết hợp đức trị với pháp trị nhưng
không kém phần nhân bản, nhân văn; bài học về xây dựng đội ngũ cán bộ v.v đối
với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
* Về mặt lý luận:
Luận án là công trình có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa các quan điểm trị
nước của các học thuyết trong lịch sử phong kiến Trung Hoa và Việt Nam; làm rõ
sự phát triển của tư tưởng trị nước trong chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và
của triều đại Lê Sơ nói riêng; bước đầu đánh giá những mặt hạn chế và tích cực của
tư tưởng trị nước trong giai đoạn này. Kết quả nghiên cứu của luận án là sự đóng
góp cho kiến thức lý luận về lịch sử, lịch sử tư tưởng, tư tưởng chính trị và quản lý
xã hội, góp thêm luận cứ khoa học cho thực tiễn quản lý xã hội ở nước ta hiện nay
cũng như cho sự phát triển của khoa học lịch sử tư tưởng ở Việt Nam.
* Về mặt thực tiễn:
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy và
học tập chuyên ngành Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam cũng như cho
các đối tượng làm công tác quản lý xã hội muốn tìm hiểu kinh nghiệm trị nước
trong lịch sử.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận án gồm 4 chương, 13 tiết.
Thánh Tông thì ngài thật là một đấng anh quân. Những sự văn trị và sự võ công ở nước
Nam ta không có đời nào thịnh hơn đời Hồng Đức" [51, tr. 267]. Về cách thức cai trị
bằng sự kết hợp "võ công với văn trị" như một tất yếu lịch sử dưới thời Lê Sơ, ông
nhận xét: "Trong nước bấy giờ có nhiều người du đãng cứ rượu chè cờ bạc, không
7
chịu làm ăn tử tế, vậy nên đặt ra phép nghiêm để trừng trị (…) sự nghiêm phạt như
thế, thì có thái quá thật, nhưng mà cũng có công hiệu, khiến cho trong nước bớt có
thứ người cả đời không chịu làm gì, chỉ đi đánh lừa người mà kiếm ăn" [51, tr. 253].
Trần Trọng Kim cũng đánh giá cao những đóng góp của các vị vua đầu
triều đại này, đặc biệt là Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông về các phương diện kinh tế,
văn hóa, giáo dục và tình hình lập pháp. Đó là việc "Vua Thái Tổ định ra phép quân
điền, để lấy công điền, công thổ mà chia cho mọi người, từ quan đại thần cho đến
những người già yếu cô quả, ai cũng có một phần ruộng khiến cho sự giàu nghèo
trong nước khỏi chênh lệch lắm" [51, tr. 253]; vua Lê Thánh Tông "nối nghiệp lớn
không ngừng mở mang bờ cõi (…) mở nhà tế bần để nuôi dưỡng người đau yếu, sai
quan đem thuốc đi chữa bệnh cho người đau yếu… Ngài lại đặt ra 24 điều, sức
giảng cho dân xã để giữ lấy thói tốt" [51, tr. 260].
Tuy nhiên, công trình Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chủ yếu tập
trung vào hai vị vua tiêu biểu của thời Lê Sơ là Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông mà
chưa phản ánh được tư tưởng trị nước của cả triều đại này với tư cách là một hệ
thống, nghĩa là chưa làm rõ cơ sở hình thành cũng như nguyên nhân sâu xa của sự
suy vong của triều đại này từ Lê Uy Mục về sau, cho nên những hạn chế trong tư
tưởng trị nước thời kỳ này không được tác giả đề cập đến một cách cụ thể.
Trong cuốn Việt Nam lịch sử giáo trình của tác giả Đào Duy Anh, xuất bản
năm 1951 cũng đề cập đến triều đại Lê Sơ nhưng không đi sâu vào phân tích về mặt
tư tưởng trị nước mà chỉ đưa ra những nhận xét khá chung về cả triều đại này, cho
rằng "thời Lê Sơ là đỉnh cao nhất của chế độ phong kiến Việt Nam" [1, tr. 42].
Một công trình khác của Đào Duy Anh là cuốn Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc
luật pháp phải giới hạn quyền lợi cá nhân và điều hòa quyền lợi cá nhân với quyền
lợi công cộng" [99, tr. 554]. Từ đó tác giả khẳng định vai trò của Quốc triều hình
luật là nhằm đề phòng sự nhũng nhiễu dân chúng của quan lại cũng như giới hạn hành
vi của dân chúng.
Trong một số công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam xuất bản trước
năm 1975, khi đề cập đến thời Lê Sơ các học giả cũng đưa ra những nhận xét ít
nhiều liên quan đến tư tưởng trị nước hoặc các lĩnh vực nhất định của thời kỳ này.
Chẳng hạn, trong lời tựa của bản dịch Hồng Đức thiện chính thư, do Trường Luật
khoa Sài Gòn dịch và xuất bản năm 1959, tác giả Vũ Văn Mẫu viết:
Song song với những chiến công oanh liệt (…), các vua nhà Lê,
nhất là trong thế kỷ XV còn hướng mọi sự cố gắng vào việc trị nước an
dân, ban hành một nền pháp chế có một tinh thần đặc sắc Việt Nam, vừa
9
phù hợp với nhu cầu của quốc gia, vừa thỏa mãn các nguyện vọng chân
chính của quốc dân [116, tr. 29].
Tác giả Phan Huy Lê trong cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam, xuất bản năm
1959, thì đưa ra nhận xét:
Các vua thời Lê Sơ, đặc biệt là Lê Lợi có chăm lo đến đời sống
nhân dân và đề ra được một số chính sách biện pháp cứu tế xã hội ít nhiều
có tác dụng thực tế <…> các đời vua sau cũng có tiếp tục chính sách
"khinh hình bạc liễm" <…> Trong một xã hội phong kiến tất nhiên
những chính sách tốt đẹp ấy không thể thực hiện được đầy đủ nhưng ít
nhất cũng phản ánh một thái độ quan tâm của nhà nước đối với đời sống
nhân dân [55, tr. 38].
Cuốn Lịch sử Việt Nam, (tập 1) do Ủy ban Khoa học xã hội xuất bản năm
1971, nhận xét về thời Lê Sơ cũng có đánh giá về tính tích cực trong đường lối cai
trị của triều đại này đối với nhân dân như sau: "Trong thế kỷ XV, khi nền sản xuất
đang phát triển, chính quyền còn chăm lo đến kinh tế thì đời sống của nông dân và
yếu không tránh được sự phiến diện.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu lịch sử khi đề cập đến thời Lê Sơ dù
ít nhiều có đưa ra những nhận xét về tư tưởng trị nước của triều đại này, nhưng
những nhận xét đó thường gắn với một số vị vua tiêu biểu và còn mang tính rời rạc,
chủ quan, chưa thành hệ thống cũng như chưa chỉ ra được cơ sở cho việc hình thành
đường lối cai trị của triều đại này.
Những công trình nghiên cứu về nhà nước, luật pháp và bộ máy cai trị
thời Lê Sơ:
Đặc điểm của loại hình này là các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu
về khía cạnh thay đổi của bộ máy hành chính và bộ luật hình ra đời trong thời Lê Sơ
mà hầu như không đề cập đến các khía cạnh khác của xã hội thời Lê Sơ. Ở loại hình
này có thể kể đến các công trình như:
Bài viết Suy nghĩ về cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông, của tác
giả Trương Hữu Quýnh cho Hội thảo Lê Thánh Tông (1442 - 1497) con người và sự
nghiệp đã lý giải nguyên nhân dẫn đến cuộc cải cách bộ máy hành chính của vua Lê
Thánh Tông. Theo tác giả, nguyên nhân cải cách của Lê Thánh Tông vừa là yêu cầu
của thực tiễn, vừa thể hiện ý chí chủ quan của vị vua này. Lê Thánh Tông đã tiến
hành cải cách bộ máy hành chính trên năm nội dung: Một là, bỏ hết các quan chức
và cơ quan trung gian giữa vua và bộ phận thừa hành; hai là, tách sáu bộ Lại, Lễ,
Binh, Hình, Hộ, Công khỏi Thượng thư sảnh theo mô hình như nhà Minh đã làm;
11
ba là, Lê Thánh Tông đề cao công tác thanh tra, giám sát bằng cách đặt sáu khoa
chuyên theo dõi, giám sát hành động của các cơ quan sáu bộ; bốn là, đặt sáu tự để
phụ trách các công việc phụ; năm là, bỏ chế độ bổ dụng các vương hầu, quý tộc vào
các trọng chức của triều đình, lấy những người đỗ đạt qua khoa cử không phân biệt
thành phần xuất thân. Tuy nhiên, cuộc cải cách này cũng chứa đựng nhiều những
hạn chế của nó và ít nhiều không phù hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ [xem: 21].
Bài viết của Trương Hữu Quýnh, đúng như tên gọi của bài viết này, chỉ
và sự cụ thể hóa nó dựa trên những điều khoản luật pháp mà nhà Lê sử dụng để
trừng trị quan lại khi vi phạm chưa được làm rõ.
Bài viết "Vài nét về sự thay đổi hành chính và tổ chức chính quyền địa
phương dưới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497)" của tác giả Nguyễn Đức Nhuệ in
trong cuốn Lê Thánh Tông (1442-1497) con người và sự nghiệp. Trong bài viết này,
tác giả đã nghiên cứu cách thức chia cắt địa phận hành chính trên phạm vi cả nước
dưới thời Lê Thánh Tông. Nguyên do chủ yếu của việc làm này theo tác giả là vì thời
đó lãnh thổ luôn được mở mang thêm, buộc triều đình phải phân định lại địa giới
hành chính. Theo đó, chia đất nước thành 13 đạo thừa tuyên, so với thời Lê Thái Tổ
chỉ có 5 đạo. Tuy nhiên, bài viết này chủ yếu mô tả về cách chia định địa giới hành
chính mà không bàn về những biến đổi về cách thức cai trị tương ứng của nhà Lê.
Nghiên cứu về cải cách hành chính của nhà Lê Sơ, còn có cuốn "Mười cuộc
cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam" của tác giả Văn Tạo, Nhà xuất bản
Đại học Sư Phạm Hà Nội ấn hành năm 2006. Trong cuốn sách này Văn Tạo xếp cải
cách hành chính của Lê Thánh Tông vào mười cuộc cải cách lớn của lịch sử Việt
Nam, bên cạnh các cuộc cải cách của họ Khúc, của Hồ Quý Ly, của Minh Mệnh…
Theo tác giả, thời Lê Sơ giai đoạn trước Lê Thánh Tông triều đình rơi vào khủng
hoảng sau sự kiện Lê Nghi Dân cướp ngôi và sự lộng hành của triều thần. Sau khi
lên ngôi, Lê Thánh Tông thực hiện việc cải cách gồm năm khâu: đẩy mạnh pháp trị
Khổng giáo; đặt ra Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng; xóa bỏ cơ chế hành chính nhiều tầng
nhiều cấp với các lộ, trấn, phủ, châu;… thống nhất chia đất nước thành 13 xứ thừa
tuyên; cải cách chế độ quan lại, tuyển dụng quan nha qua khoa cử và tiến cử; phát
triển văn hóa, xã hội, phát huy tác dụng của Quốc Tử Giám, lập hội Tao Đàn, sử dụng
chữ Nôm, phát triển thơ văn yêu nước [103, tr. 116-145]. Theo tác giả cải cách hành
chính của Lê Thánh Tông là cuộc cải cách thành công sau cải cách hành chính của
họ Khúc, đưa xã hội Đại Việt thịnh trị vào bậc nhất trong lịch sử chế độ phong kiến.
Vấn đề pháp luật thời Lê Sơ, cũng có khá nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm.
Những công trình nghiên cứu về pháp luật giai đoạn này chủ yếu tập trung vào bộ
13
chúng và trừng phạt nặng các hành vi xâm hại lễ nghi; đề ra những biện pháp trừng
phạt nặng để uốn nắn quan lại và dân chúng tuân thủ pháp luật [xem: 79].
14
Bài viết cải cách bộ máy nhà nước dưới triều Lê Thánh Tông và những giá
trị đương đại của tác giả Bùi Xuân Đức trong cuốn Quốc triều hình luật những giá
trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
Trong bài viết này tác giả đi vào tìm hiểu: bối cảnh cải cách bộ máy nhà nước;
những cải cách bộ máy nhà nước; từ đó rút ra những bài học và giá trị đương đại về
những cải cách bộ máy nhà nước của Lê Thánh Tông trên các phương diện: tư
tưởng cải cách đổi mới, tổ chức hợp lý bộ máy nhà nước, kiểm soát bộ máy quan
lại, chống tham nhũng. Tác giả đã đi đến kết luận: "Lê Thánh Tông đã có những cải
cách táo bạo, sửa lại những phép cũ của tổ tiên để phù hợp với điều kiện mới…hy
vọng lớp con cháu chúng ta sẽ noi gương nhà vua Lê Thánh Tông kiên quyết và
khôn khéo để đẩy mạnh công cuộc cải cách bộ máy nhà nước cho phù hợp với điều
kiện xứ ta" [125, tr. 71-73].
Bài viết của tác giả Uông Chu Lưu: Kết hợp giữa pháp trị và đức trị trong
đạo trị quốc an dân của Lê Thánh Tông trong cuốn Quốc triều hình luật - những giá
trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, sau
phần giới thiệu về vua Lê Thánh Tông, khi bàn về tư tưởng trị nước tác giả viết:
Những gì Lê Thánh Tông để lại qua lịch sử cho thấy, trong rất
nhiều cách trị quốc, ông đã lựa chọn những phương cách phù hợp với
thời đại mà các thế hệ trước để lại, phát triển lên ở mức cao hơn và làm
thành cách riêng của mình, tạo nên một sự đặc sắc trong giai đoạn lịch sử
của vương triều Lê Sơ. Sử dụng hài hòa mối quan hệ giữa pháp trị và đức
trị là vấn đề nổi lên trong phép cai trị của ông [125, tr. 44].
Từ việc khẳng định phương cách trị nước của Lê Thánh Tông là pháp trị kết
hợp với đức trị, tác giả đã chỉ ra nét đặc sắc trong phương cách trị nước của vị vua
này trên bốn phương diện: xây dựng chế độ chuyên chế tập quyền mạnh lấy pháp
bày quá trình nhà Lê Sơ tuyển dụng và bổ nhiệm quan chức cho bộ máy chính quyền.
Theo đó, từ chỗ nhà Lê Sơ sử dụng quan lại chủ yếu thông qua công lao chiến trận
của các cá nhân trong cuộc kháng chiến chống Minh, đến chỗ tuyển dụng và bổ nhiệm
chủ yếu thông qua con đường khoa cử Nho học. Thứ tư, tác giả phân tích những hạn
chế trong nền giáo dục và cách thức tuyển dụng quan chức của nhà Lê Sơ, cho rằng:
Chế độ đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Lê Sơ đã đẻ ra
tầng lớp trí thức Nho giáo, hình thành đội ngũ quan chức quan liêu. Lấy
khoa cử làm hình thức đào tạo và tuyển dụng quan chức chủ yếu của nhà
nước. Đó là một chủ trương, chính sách hết sức đúng đắn của các vị vua
thời Lê Sơ. Tuy nhiên khoa cử không phải là sản phẩm của thời Lê Sơ
16
mà nó là sự kế thừa lịch sử phát triển có tính truyền thống của dân tộc ta
ở các thời đại trước [83, tr. 163].
Nhìn chung, luận án của tác giả Đặng Kim Ngọc là công trình nghiên cứu
công phu về nền giáo dục và cách tuyển dụng quan chức của thời Lê Sơ. Tuy nhiên,
do đây là công trình chuyên khảo về lịch sử, nên tác giả chỉ tập trung vào vấn đề
giáo dục và tuyển dụng quan chức mà không bàn đến vấn đề về chủ trương cai trị
cũng như chính sách thúc đẩy phát triển xã hội và nền giáo dục khoa cử đó. Mặc dù
vậy, đây cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi. Những số liệu, đánh giá
được tác giả rút ra là tài liệu hữu ích để chúng tôi tham khảo, kế thừa khi tìm hiểu
về nền giáo dục và quá trình tuyển dụng quan chức giai đoạn này để rút ra những
bài học cho việc phát triển nền giáo duc, quản lý đội ngũ cán bộ giai đoạn hiện nay.
Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế:
Ở loại hình này, nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu về chế độ sở
hữu ruộng đất, chính sách phân chia ruộng đất của nhà nước cho nhân dân, các
chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của nhà nước Lê Sơ. Đáng chú ý là công
trình nghiên cứu của tác giả Phan Huy Lê về Chế độ ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp thời Lê Sơ. Trong công trình này tác giả đã làm rõ một số phương diện của
sự, quốc phòng. Tác giả đã tìm hiểu và phân tích chính sách quân sự của các triều đại
từ thời Lý đến thời Lê Sơ trên các phương diện như: nội dung chính sách ngụ binh ư
nông; điều kiện, cơ sở của chính sách ngụ binh ư nông và tác dụng của chính sách
này đối với Việt Nam từ thời Lý - Trần đến thời Lê Sơ. Theo tác giả, chính sách ngụ
binh ư nông mà nhà Lê Sơ sử dụng trong kháng chiến và thời bình là sự kế thừa từ các
triều đại trước đó. Chính sách này được xây dựng trên cơ sở là do chúng ta luôn phải
chống lại các thế lực xâm lược hùng mạnh với quân số đông hơn nhiều so với chúng ta
và do nhu cầu về sản xuất nông nghiệp cần nhiều sức lao động cũng như do chính sách
đảm bảo lương thực cho binh lính. Tuy nhiên, tác giả hầu như không làm rõ vai trò
của chính sách đó với tư cách là bộ phận cấu thành tư tưởng trị nước của thời Lê Sơ.
Bài viết của tác giả Nguyễn Đình Sĩ, Những cải cách trên lĩnh vực quân sự
đăng trong cuốn Lê Thánh Tông (1442 - 1497) con người và sự nghiệp đã tập trung
làm rõ những điều chỉnh về mặt quân sự của vua Lê Thánh Tông cũng như việc ban
hành những quy định và luật pháp về quân sự của Lê Thánh Tông. Theo tác giả,
"để xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, biện pháp quan trọng nhất mà Lê Thánh
Tông đã thực hiện là cải cách toàn diện nền binh bị nhà nước, làm cho quân đội gọn
nhẹ nhưng tinh nhuệ, có quân thường trực tại ngũ mạnh và có lực lượng dự bị đông
đảo khi cần thiết" [100, tr. 244].
18
Tóm lại, thời Lê Sơ là một giai đoạn thịnh trị của chế độ phong kiến Việt
Nam. Vì vậy các công trình nghiên cứu về nhiều mặt của xã hội thời Lê Sơ khá
nhiều, tuy nhiên do giới hạn nghiên cứu của tác giả mà những công trình đó mới chỉ
đề cập đến một số mặt khác nhau của giai đoạn này mà chưa có công trình nào
nghiên cứu trực tiếp về tư tưởng trị nước.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƯ TƯỞNG VÀ Ý NGHĨA
CỦA TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC THỜI LÊ SƠ
Mặc dù chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam đã được
tiến hành mấy chục năm nay, nhưng mảng vấn đề về tư tưởng trị nước trong lịch sử Việt