ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TRANG
TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH HỒ QUÝ LY VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA NÓ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội – 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TRANG
TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH HỒ QUÝ LY VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA NÓ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bình Yên
Hà Nội – 2015
2
trung đại, mở đầu cho bước phát triển mới của Nhà nước trung ương tập quyền và
sau đó được hoàn thiện dưới triều Lê Thánh Tông.
Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ
XV, đúng vào lúc lịch sử nước ta đứng trước ba đòi hỏi lớn: Một là phải loại bỏ
vai trò của quý tộc Trần đã suy thoái trên vũ đài chính trị và tư tưởng; hai là, mở
đường cho đất nước tiến lên theo một hướng mới hơn, tiến bộ hơn; ba là, xây dựng
lực lượng chống lại âm mưu xâm lược của nhà Minh.
Tư tưởng và công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly đã tấn công mạnh mẽ vào
toàn bộ cở sở chính trị, kinh tế, xã hội đang trong khủng hoảng của nhà Trần.
Song, chừng ấy là chưa đủ đáp ứng yêu cầu của lịch sử, cải cách thất bại. Nguyên
nhân là ở chỗ: Tư tưởng, cách thức tiến hành cải cách của Hồ Quý Ly có những
điểm chưa hợp lý; công cuộc cải cách mới diễn ra trong một khoảng thời gian
ngắn thì đất nước phải chịu cuộc chiến tranh xâm lược do nhà Minh phát động nên
chưa có được những thành tựu cần thiết minh chứng cho sự tiến bộ của mình;
những hạn chế của cải cách là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc triều Hồ
đã không thể tập hợp, huy động được sức mạnh, trí tuệ của toàn dân vào sự nghiệp
chống giặc Minh xâm lược.
Mặc dù tư tưởng cải cách của ông có những hạn chế, sai lầm, công cuộc cải
cách do ông lãnh đạo không thành công nhưng chúng có vai trò đặc biệt, mở đầu
cho một giai đoạn mới trong đó dân tộc ta không ngừng tìm tòi đổi mới để phát
triển. Nhiều tư tưởng cải cách do Hồ Quý Ly nêu ra nhưng chưa được thực hiện
trong thời đại của mình thì đã được nhà Lê sơ cơ bản hoàn thành trong thời gian
sau đó không lâu. Những bài học lịch sử quý báu đúc kết từ chính sự thành bại
trong cải cách của Hồ Quý Ly ít nhiều còn giúp cho các thế hệ người Việt Nam
hiện nay có thêm những điều kiện để nhận thức, đẩy nhanh công cuộc đổi mới đất
nước đồng thời tránh được những vấp váp, sai lầm mà tiền nhân mắc phải. Do vậy,
4
đó sao khỏi quá trớn, không sát với tình trạng xã hội” [12, tr.135].
Trong cuốn “Việt Nam sử lược”, Quyển 1, Bộ Giáo dục xuất bản, Sài Gòn,
1971, ở chương XI: Nhà Hồ, tác giả Trần Trọng Kim cho rằng: “Công việc của Hồ
Quý Ly làm thì không phải một người tầm thường, nhưng tiếc thay một người có
tài kinh tế như thế, mà giả sử cứ giúp cho nhà Trần cho có thủy có chung thì dẫu
giặc Minh có thế mạnh đến đâu đi nữa, cũng chưa hầu dễ cướp được nước Nam,
mà mình lại được tiếng thơm đề lại nghìn thu. Nhưng vì cái lòng tham xui khiến
hễ đã có thế lực là sinh ra bụng muốn tranh quyền cướp nước. Bởi thế làm sự
thoán đoạt và nhà Minh mới có cớ sang đánh lấy nước An Nam, cái tội làm mất
nước ai gánh vác cho Quý Ly” [14, tr.197].
Nhìn chung, các công trình trên do hạn chế lịch sử và lập trường giai cấp
nên cách nhìn nhận, đánh giá Hồ Quý Ly còn phiến diện, không thấy được hoặc
không đánh giá được một cách đầy đủ giá trị tư tưởng cải cách cũng như vai trò
tích cực của ông đối với đất nước trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Khác với các công trình đã nêu trên, tác giả Quốc Ấn (1974) trong cuốn
“Hồ Quý Ly, nhân vật lỗi lạc nhất thời đại từ Đông sang Tây, tác giả xuất bản, in
tại Tân Sanh ấn quán, Sài Gòn đã có cách tiếp cận khác: Tác giả đánh giá rất cao
những tư tưởng và nội dung cải cách của Hồ Quý Ly; xem ông là một nhà chính trị
có tư tưởng cải cách tiến bộ, táo bạo; đặc biệt tác giả đánh giá Hồ Quý Ly là nhân
vật lỗi lạc nhất thời đại.
Sang thập niên 90 của thế kỷ XX xuất hiện thêm một số sách chuyên khảo
về Hồ Quý Ly như: “Cải cách Hồ Quý Ly” của Phan Đăng Thanh, Trương Thị
Hoà (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996). Các tác giả đã chỉ ra vị trí nổi bật
của nhà Hồ trong dòng lịch sử văn học Việt Nam “Nhà Hồ chỉ tồn tại được có hơn
7 năm nhưng đã tích tụ và hình thành được bao nhiêu kinh nghiệm trị nước trọng
6
đại, cải cách Hồ Quý Ly đã mở ra một bước phát triển mới trong lịch sử chính trị
Việt Nam, có thề đó là tiền đề của công cuộc kháng chiến và cải cách thành công
“Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1858”, tập 1 (Trường Đại học sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh), trong chương III có đánh giá về Hồ Quý Ly và công cuộc cải
cách của ông: “Hồ Quý Ly là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử, với nhiều tài trí
và có khả năng làm những việc táo bạo. Một số chính sách cải cách cũng như thái
độ chống giặc đến cùng chứng tỏ Hồ Quý Ly có tinh thần thực tiễn và có ý thức
dân tộc. Tuy nhiên, trước sau Quý Ly vẫn là người của tầng lớp quý tộc và đã thực
hiện những chính sách mà mục tiêu của chúng trước hết vì quyền lợi của tầng lớp
này. Do đó nếu như một số chủ trương cải cách về văn hóa, giáo dục của Hồ Quý
Ly có những yếu tố tích cực, thì một số chính sách kinh tế lại chủ yếu quyết định
quyền lợi kinh tế của một tầng lớp này hay tầng lớp khác… Quý Ly chưa đáp ứng
được yêu cầu xã hội lúc bấy giờ. Dẫu có nhiều mưu trí và mạnh bạo trong cải
cách, kiên quyết chống giặc ngoại xâm, Hồ Quý Ly vẫn bị cô lập trước nhân dân,
cuối cùng thất bại thảm hại trong cuộc kháng chiến chống quân Minh” [25,
tr.152].
Hồ Quý Ly và tư tưởng cải cách của ông cũng đã được một số học giả
nước ngoài quan tâm nghiên cứu: John K.Whitmore (1985) với “Viet Nam, Ho
Quy Ly and the Ming (1371–1421)”, (Yale Southeast Asia Studies) đã đề cập đến
tư tưởng cải cách của ông. Nhà sử học Nga A, B. Pôliacốp với “Sự phục hưng của
nước Đại Việt thế kỷ X đến thế kỷ XIV”, đã nhận xét rằng: “Mặc dù về nguyên
tắc, sự phát triển của tư hữu ruộng đất mà Hồ Quý Ly đã chống lại là một biểu
hiện tiến bộ, kích thích các quan hệ hàng hóa, tiền tệ mở rộng, nhưng ở giai đoạn
đầu điều đó có thể dẫn đến tình trạng cát cứ phong kiến trên lãnh thổ quốc gia nhỏ
bé này. Trong điều kiện phải tồn tại bên cạnh một đế quốc hùng mạnh ở phía Bắc
8
và các quốc gia láng giềng hiếu chiến (Chămpa, Ăngkor…), tình trạnh cát cứ
phong kiến có thể là nguyên nhân đưa đất nước này vào ách nô dịch mới, trong
một thời gian dài” [3, tr.279]. Tuy cách tiếp cận khác nhau, nhưng cả 3 tác giả trên
đều muốn vạch ra mối quan hệ giữa cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối triều
Trần lâm vào khủng hoảng cả về kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng một cách sâu
sắc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên bình diện triết học, luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng cải cách
của Hồ Quý Ly trong 30 năm tham chính của ông, bắt đầu từ năm 1370 -1400.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về nghiên
cứu lịch sử, tư tưởng, văn hóa đồng thời kế thừa những kết quả đã đạt được của
các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; vận dụng tổng hợp các nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn, khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể…
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nhận thức như: lịch sử và
logic, phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh…
10
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung, giá trị và hạn chế trong tư tưởng
cải cách của Hồ Quý Ly, ý nghĩa lịch sử của các tư tưởng đó.
- Luận văn góp phần làm phong phú thêm những tư liệu có ích phục vụ cho
công tác nghiên cứu về tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly, đồng thời trên cơ sở rút
ra những bài học kinh nghiệm cần thiết.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Trên bình diện triết học, luận văn góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ nội
dung, giá trị lịch sử của tư tưởng cải cách Hồ Quý Ly, rút ra những bài học kinh
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa – tư tưởng cho sự xuất hiện tư tưởng
cải cách của Hồ Quý Ly
Về kinh tế
Sau kháng chiến chống Nguyên, quý tộc địa chủ triều Trần đã chiếm lại
ruộng đất, đẩy nông dân gia nô vào chỗ phụ thuộc và bị bóc lột nặng nề. Dân
nghèo phải bán ruộng, bán con làm nô tỳ. Nạn cướp ruộng đất phát triển. Kiện
tụng về ruộng đất ngày càng nhiều. Số địa chủ tăng lên trong lúc nông dân nghèo
đói lang thang khắp nơi. Đời sống sa đọa của giai cấp thống trị mà đại biểu là tập
đoàn quý tộc Trần làm cho tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội cuối thế kỷ XIV
thêm sâu sắc.
Trong các làng xã, số địa chủ tư hữu ngày càng tăng do việc mua, cướp
ruộng của dân, trở thành một lực lượng có thế lực kinh tế trong xã hội. Ruộng đất
tập trung vào tay quý tộc, địa chủ làm cho sản xuất của nông dân tự do bị đe dọa,
một số lớn nông dân bị nô lệ hóa, một số khác bị đẩy ra khỏi quê hương, sống
cuộc đời lưu vong.
Do bị áp bức bóc lột, sản xuất nông nghiệp bị đình đốn lại bị hạn hán nên
nạn mất mùa đói kém gần như xảy ra thường xuyên trong suốt thế kỷ XIV, nhất là
những năm 1290, 1321, 1344, 1357, 1392.
Vào thời điểm này ngoại thương cũng phát triển một bước: thông qua
đường biển, thương nhân nước ngoài vào nước ta mua chủ yếu sản vật là ngọc trai.
Điều này càng bộc lộ rõ mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu phát triển của kinh tế
13
hàng hóa đang diễn ra theo quy luật của nó với một bên phong kiến nhà Trần quan
liêu, trì trệ, ăn chơi sa đọa.
Kinh tế luôn là nền móng cho sự tồn tại, phát triển của xã hội vì vậy khi nền
kinh tế bị khủng hoảng, khi mâu thuẫn trong kinh tế gay gắt thì tất yếu dẫn đến
những khủng hoảng, mâu thuẫn trong đời sống chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng.
Cơ cấu kinh tế - xã hội phong kiến Việt Nam được xây dựng và củng cố từ
Thập đạo tướng quân, cho tăng thống Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt Đại Sư,
cho Trương Ma Ni làm Tăng lục Đạo sĩ, Đặng Quyền Quang làm Sùng chân uy
nghi” [9, tr.155]. Song, sang cuối thế kỷ XIII, kết cấu nội bộ giai cấp thống trị đã
có sự phân chia rõ ràng. Tầng lớp quý tộc tôn thất nắm giữ chức vụ cao nhất trong
triều đình, có ruộng, có điền trang, có số nô tỳ lên tới hàng nghìn người. Trong khi
đó tầng lớp địa chủ quan liêu đóng vai trò thừa hành trong bộ máy quản lý Nhà
nước, tầng lớp này bao gồm các nho sĩ và quan lại không thuộc dòng họ nhà Trần,
họ không được phong cấp đất đai, không có nô tỳ. Do vậy, trong xã hội lúc này
xuất hiện những mâu thuẫn cơ bản:
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần có đặc quyền
đặc lợi, chủ nhân của các đại điền trang và tầng lớp địa chủ quan liêu nắm công
việc quản lý hành chính Nhà nước, nhưng không có điền trang, nô tỳ.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa giai cấp quý tộc địa chủ với giai cấp nông dân, nô
tỳ.
Trong hai mâu thuẫn trên, thì mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn chủ yếu. Vào
nửa cuối đời nhà Trần, mâu thuẫn này càng trở nên gay gắt hơn khi bọn vương
hầu, quý tộc tìm đủ mánh khóe để áp bức, bóc lột nhân dân. Trong nội bộ triều
15
đình nhà Trần lúc bấy giờ, các vua Trần bắt đầu chỉ lo sống xa hoa, hưởng lạc mà
ít quan tâm đến công tác đê điều, chống thiên tai, địch họa.
Đến đời Trần Dụ Tông, tính chất xa hoa, trụy lạc của giai cấp thống trị nhà
Trần đã đạt tới mức cao độ. Bọn quý tộc ăn chơi phóng đãng, ngày đêm yến tiệc,
ca xướng. Trong triều, bọn gian thần hoành hành. Chu Văn An, một nhà Nho
cương trực đã dâng sớ xin chém bảy tên gian thần mà đương thời gọi là thất trảm
sớ. Đề nghị của ông không được chấp thuận, ông liền từ quan về quê dạy học.
Bên cạnh đó tình trạng mất mùa, đói kém xảy ra liên miên do lụt lớn, vỡ đê,
hạn hán càng làm cho sản xuất bị đình trệ. Lại thêm ruộng đất ngày càng tập trung
triều Trần và truyền thống chính trị của nó. Mô hình Nhà nước quân chủ quý tộc với hệ thống chính trị tương đối lỏng lẻo mà quyền lực thuộc về các thân vuơng
quý tộc, tôn thất dựa trên cơ sở kinh tế đại điền trang không còn phù hợp nữa, trái
lại đang là vật cản của sự phát triển xã hội.
Như vậy có thể thấy rằng, từ kinh tế cho đến chế độ chính trị, xã hội nhà
Trần lúc này đã lâm vào khủng hoảng hết sức gay gắt; lịch sử đòi hỏi phải nhận
thức và giải quyết thực trạng đó để đất nước có thể tiếp tục phát triển nhưng lịch
sử đồng thời cũng đã tạo ra những điều kiện khách quan để tầng lớp sỹ phu, quan
lại triều Trần, trong đó tiêu biểu là Hồ Quý Ly, có thể nhận thức, đưa ra đường
hướng cải biến, khắc phục tình trạng khủng hoảng nói trên.
Về văn hóa – tư tưởng
Bên cạnh những điều kiện về kinh tế - xã hội, tư tưởng cải cách của Hồ
Quý Ly còn chịu những ảnh hưởng nhất định từ hệ tư tưởng phong kiến và truyền
thống văn hóa vốn có của dân tộc. Tư tưởng phong kiến Việt Nam là kết quả của
17
sự kết hợp giữa tư tưởng truyền thống bản địa của người Việt với các hệ tư tưởng,
tôn giáo lớn từ bên ngoài vào mà chủ yếu là Nho, Phật, Lão [44, tr.34].
Phật giáo du nhập vào phía nam nước ta chủ yếu là đi theo các thương buôn
người Ấn Độ và du nhập vào phía bắc chủ yếu theo đội quân xâm lược, thống trị
phương Bắc. Trải qua hơn chục thế kỷ, Phật giáo đã có những đóng góp lớn vào
việc thống nhất nhân tâm, tạo điều kiện cho Nhà nước quân chủ phát triển, có ảnh
hưởng sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống dân tộc. Nhưng giáo lý Phật
giáo là duy tâm chủ quan, thần bí, không hướng con người vào việc nhận thức, đấu
tranh giải quyết những mâu thuẫn của cuộc sống hiện thực mà chủ yếu hướng con
người vào cuộc sống ở thế giới bên kia theo luân hồi, quả báo. Đến giữa thế kỷ
XIV trở đi Phật giáo càng trở nên kém hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề
chính trị, xã hội cuối thời Trần. Từ đây đạo Phật sa sút để nhường địa vị thống trị
ý thức hệ cho Nho giáo.
cho đạo Phật, đến các chùa quán mà lễ tạ, như thế không phải là ủy lạo kẻ có công,
cổ lệ khí quân lính” [9, tr.262] .
Trương Hán Siêu, một học giả uyên thâm Nho giáo đời nhà Trần đã phê
phán gay gắt Phật giáo ngay cả khi viết văn bia cho chùa Khai Nghiêm ở Bắc
Giang như sau: “Chùa bỏ rồi lại dựng, đã chẳng phải ý muốn của ta. Dựng bia rồi
khắc chữ, ta biết nói gì? Hiện nay thánh triều muốn truyền phong hóa nhà vua, để
chữa phong tục đồi bại, dị đoan đáng truất bỏ, thánh đạo nên phục hưng. Làm kẻ sĩ
đại phu, không phải đạo Nghiêu Thuấn không bày tỏ, không phải đạo Khổng
Mạnh không trước thuật, thế mà cứ bo bo lải nhải chuyện Phật, ta định lừa ai?” [9,
tr.156].
19
Bên cạnh Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, nho thần Lê Quát đã lên tiếng
công kích gay gắt: “Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người, sao mà được
người tin theo sâu bền như thế! Trên từ Vương công, dưới đến dân thường, hễ bố
thí vào việc nhà Phật, dù đến hết tiền của cũng không xẻn tiếc. Ví ngày nay gửi
gắm vào tháp chùa thì trong lòng sung sướng như nắm được khoán ước để lấy sự
báo ứng ngày sau. Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn
cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không phải bắt thề mà giữ đúng.
Chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật, bỏ đi rồi lại dựng lên, nát đi rồi sửa lại, lâu
đài chuông trống chiếm đến nửa phần so với dân cư. Đạo Phật thịnh rất dễ mà
được rất mực tôn sùng” [9, tr.178].
Sự bài bác, phê phán Phật giáo của các Nho thần không chỉ đơn thuần trên
phương diện tôn giáo mà sâu xa hơn là bác bỏ hệ tư tưởng và thể chế tổ chức xã
hội của tập đoàn quý tộc nhà Trần. Mục đích của phê phán này là đánh vào chỗ
dựa tư tưởng của tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần. Nhà Trần cũng đã phản ứng
quyết liệt trước sự lấn lướt của Nho giáo cùng đội ngũ nho sỹ lúc bấy giờ. Vua
Nghệ Tông từng nói: “Triều trước dựng nước có luật pháp, chế độ riêng, không
Hồ Quý Ly (1336-1407) là cháu đời thứ 16 của Hồ Hưng Dật. Ông tổ bốn
đời của Hồ Quý Ly là Hồ Liêm. Hồ Liêm là con nuôi của Lê Huấn, Tuyên phủ sứ
Thanh Hoá nên đổi họ thành Lê Liêm; từ đó con cháu của ông đều mang họ Lê.
Sau này, khi đã thành đạt, hướng về tổ tông, Lê Quý Ly lấy lại họ Hồ là Hồ Quý
Ly.
Thế phổ nhà Trần cho thấy địa vị thích thuộc của Hồ Quý Ly với các vua
Trần hết sức gần gũi và đó là điều kiện hết sức thuận lợi để để ông phát huy tài
năng trên “quan trường hoạn lộ”. Quý Ly có hai bà cô đều được vua Trần Minh
21
Tông tuyển vào cung. Một người (bà Hoàng phi Minh Từ), lấy vua Trần Minh
Tông sinh ra vua Trần Nghệ Tông và một bà nữa (Hoàng phi Đôn Từ), cũng lấy
vua Trần Minh Tông, sinh ra vua Trần Duệ Tông [6, tr.155]. Nhờ có tài năng và
họ ngoại thân tín, Quý Ly được vua Nghệ Tông gả em gái là công chúa Huy Ninh
và cho giữ chức Tể tướng. Về sau, con gái trưởng của Quý Ly trở thành vợ vua
Trần Thuận Tông.
Khi người cô của Quý Ly (bà Minh Từ) sinh ra vua Nghệ Tông, cũng là mẹ
sinh của vua Hiến Tông [9, tr.117] thì quan hệ giữa vua và Quý Ly lúc này chưa
thân thiết lắm, Quý Ly cũng chưa nắm chức vụ của triều đình. Đến năm 1371,
cuộc đời, sự nghiệp của Quý Ly có sự thay đổi lớn: Đang giữ chức Khu mật viện
đại sứ trong triều ông được vua Nghệ Tông gả em gái là Huy Ninh công chúa cho.
Huy Ninh vốn là vợ của tôn thất Trần Nhân Vinh, lúc đó đang góa chồng. Quý Ly
từ vị trí người em bà con cô cậu của vua đã trở thành em rể của vua Nghệ Tông.
Sau đó, khi người em gái họ, con người chú của Quý Ly, trở thành vợ của
vua Duệ Tông, tức Gia Từ Hoàng Hậu thì Quý Ly vừa là em cô cậu, vừa là em rể
của vua Duệ Tông, vừa là anh họ của vợ vua Duệ Tông, tức là cậu họ của vua Phế
Đế sau đó (vua Phế Đế là con của vua Duệ Tông và Gia Từ Hoàng Hậu).
Đối với Thượng hoàng Trần Nghệ Tông, Quý Ly là em cô cậu, là em rể và
sau là sui gia. Sau khi vua Trần Phế Đế bị truất rồi, con của Thượng hoàng Nghệ
vua Duệ Tông cử kiêm chức tham mưu quân sự. Với vai trò này, Quý Ly có toàn
quyền định đoạt việc quân, sắp xếp các thứ vị võ quan và chỉ huy từ các tôn thất
trở xuống.
Bốn năm sau, tháng 2 năm Kỷ Mùi (1379), vào đời Đế Hiện – con vua Duệ
Tông (tức Trần Phế Đế), Quý Ly được thăng chức Tiểu tư không kiêm hành Khu
23
mật đại sứ. Trong trận chiến chống quân Chiêm do Chế Bồng Nga cầm đầu tấn
công vào Thanh Hóa, Lê Quý Ly được giao chỉ huy quân thủy. Nhờ Quý Ly quyết
giữ nghiêm quân kỷ chiến đấu, Chiêm vương Chế Bồng Nga phải thua chạy. Từ
trận này, Quý Ly được giao lãnh chức Nguyên Nhung hành Hải Tây đô thống chế.
Hải Tây là vùng đất chạy suốt từ Thanh Hóa trở vào đến Thuận Hóa.
Trong thực tế, suốt các đời vua Duệ Tông, Phế Đế đến đời vua Thuận Tông,
Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông vẫn nắm triều chính trong tay. Nhân vật Lê
Quý Ly được liên tục thăng quan tiến chức một cách nhanh chóng và bắt đầu nổi
bật như một ngôi sao trên chính trường nhà Trần kể từ khi ông được Thượng
hoàng Nghệ Tông ban cho chức Đồng bình chương sự, chức đại thần xếp vào hàng
tể tướng (tướng quốc) của triều đình (tháng 3 năm Đinh Mão - 1387). Cùng với
việc cho thăng chức Đồng bình chương sự, Thượng hoàng còn ban cho Quý Ly
một thanh gươm và một lá cờ đề 8 chữ “Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức” (văn
võ song toàn, vua tôi một dạ).
Trong lúc Quý Ly ngày càng được Thượng hoàng Nghệ Tông tin dùng, mọi
việc chính sự lại nằm trong tay của Thượng hoàng mà thực sự là theo sự sắp xếp,
bày vẽ của Lê Quý Ly, nên vua Đế Hiện bất mãn. Vua bàn cùng Thái úy Trang
Định vương Ngạc (con của Thượng hoàng Nghệ Tông) để tìm cách loại trừ Quý
Ly: “Thượng hoàng tin yêu ngoại thích là Hồ Quý Ly, cho hắn mặc sức làm gì thì
làm, nếu không lo trước đi sau sẽ rất khó chế ngự” [9, tr.173]. Biết được mưu của
Đế Hiện, Quý Ly bèn bàn kế với những người tâm phúc là Nguyễn Đa Phương và
Phạm Cự Luận, tâu với Nghệ Tông rằng: “Chưa có ai bán con để nuôi cháu, chỉ
nhất định có ý dòm ngôi báu” [9, tr.183], Thượng hoàng lại đưa thư ấy cho Quý
Ly xem… Để củng cố vị trí, tăng cường vây cánh cho mình, Quý Ly tìm cách đưa
25