Tư tưởng trị nước thời Lê Sơ và ý nghĩa lịch sử của nó - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng về đường lối trị nước, hay còn gọi là tư tưởng trị nước là một hình
thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Mặt
khác, nó đóng vai trò chỉ đạo thực hiện các chủ trương quản lý xã hội, quản lý nhà
nước về mọi mặt đời sống xã hội của một thể chế chính trị nhất định. Nghiên cứu tư
tưởng trị nước, theo chúng tôi, xuất phát từ hai yêu cầu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, yêu cầu về mặt lý luận, coi tư tưởng trị nước là sự phản ánh ý chí,
chủ trương của các triều đại phong kiến trong lịch sử, đồng thời quyết định sự tồn
vong của mỗi triều đại. Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng trị nước được
hình thành và phát triển cùng với sự thiết lập và hoàn thiện của bộ máy nhà nước
phong kiến. Ngoài sự phái sinh từ tồn tại xã hội, sự phản tư triết học với tư cách ý
thức xã hội bao giờ cũng có tính độc lập tương đối, tính vượt trước, nhờ đó mà thể
chế chính trị xác định đường lối phát triển đất nước trong các thời đoạn tiếp theo.
Mặt khác, tư tưởng trị nước cũng có thể được kế thừa biện chứng từ các học thuyết
chính trị - xã hội vốn có từ trước trong lịch sử, từng là công cụ hệ tư tưởng của
nhiều triều đại phong kiến. Chính vì vậy nghiên cứu tư tưởng trị nước trong một
giai đoạn cụ thể không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giai đoạn lịch sử hào hùng
đó của dân tộc mà còn thấy được ở đó tư tưởng của các giai đoạn trước đó.
Nhờ có sự kế thừa những hạt nhân hợp lý, đồng thời tích hợp các hạt nhân
đó từ một số học thuyết mà nhà Lê Sơ đã hình thành nên đường lối trị nước khá phù
hợp với hoàn cảnh cụ thể của một đất nước vừa mới được giải phóng khỏi sự chiếm
đóng của nhà Minh suốt hơn 20 năm, với những nhiệm vụ vô cùng cấp bách trong
việc xây dựng vương triều cũng như khôi phục và phát triển đất nước. Những thành
tựu mà nhà Lê Sơ đã đạt được về các mặt chính trị, văn hóa, giáo dục và kinh tế là
nhờ đường lối trị nước dựa trên sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị. Đường lối trị
nước đó chính là kho tàng lý luận vô cùng quý báu của dân tộc ta, nhưng cho đến nay
nó vẫn chưa được khai thác triệt để. Mặt khác những kết quả nghiên cứu sẽ là luận cứ
khoa học đóng góp vào lĩnh vực khoa học xã hội nói chung và lĩnh vực lịch sử tư
tưởng nói riêng.
1

2
buông lỏng kiểm tra đánh giá là điều bức xúc nhất hiện nay và đang hạn
chế việc phát huy những thắng lợi mà chúng ta đã đạt được [31, tr. 72].
Có thể nói, đó là những vấn đề muôn thuở của chính trị học mà việc giải
quyết nó không thể thiếu kinh nghiệm lịch sử mà thời Lê Sơ đã để lại cho chúng ta
ngày nay. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa
chọn đề tài "Tư tưởng trị nước thời Lê Sơ và ý nghĩa lịch sử của nó" với hy vọng
góp phần nhỏ bé của mình vào lĩnh vực nghiên cứu cơ bản về lịch sử tư tưởng triết
học Việt Nam cũng như sự nghiệp đổi mới về mọi mặt đời sống chính trị - xã hội của
đất nước ta hiện nay do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
* Mục đích:
Luận án trình bày những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành và nội dung cơ
bản của tư tưởng trị nước thời Lê Sơ, trên cơ sở đó chỉ ra những giá trị và bài học lịch
sử của tư tưởng đó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nói trên, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
Một là, trình bày một cách khái quát và có hệ thống các điều kiện, tiền đề
cho sự hình thành và thực hiện tư tưởng trị nước của thời Lê Sơ.
Hai là, làm rõ nội dung và thực chất của tư tưởng trị nước thời Lê Sơ, sự cụ
thể hóa tư tưởng đó trong đời sống hiện thực của xã hội, từ đó đánh giá những mặt
tích cực và hạn chế của nó.
Ba là, làm rõ vai trò và rút ra những bài học lịch sử của tư tưởng trị nước
thời Lê Sơ đối với việc lãnh đạo và quản lý đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
* Cơ sở lý luận:
Để xác định đúng những giá trị và hạn chế của tư tưởng trị nước trong các
triều đại phong kiến, đồng thời khẳng định những giá trị có thể kế thừa vận dụng

hiện thực của thế kỷ XV - XVI, trên cơ sở có sự kế thừa những học thuyết, quan
điểm trị nước của Trung Hoa và các triều đại phong kiến Việt Nam trước đó.
- Luận án hệ thống hóa và phân tích những quan điểm trị nước cũng như
cách thức trị nước của triều đại Lê Sơ để khẳng định tính qui định của tồn tại xã hội
4
đối với ý thức xã hội, cụ thể là tính tất yếu của đường lối cai trị dựa trên sự kết hợp
đức trị với pháp trị đương thời.
- Luận án chỉ ra những giá trị tích cực và hạn chế trong tư tưởng trị nước
của triều đại Lê Sơ, đồng thời rút ra những bài học lịch sử về chính sách an dân bằng
đề cao nhân nghĩa, trọng dân; trị nước bằng sự kết hợp đức trị với pháp trị nhưng
không kém phần nhân bản, nhân văn; bài học về xây dựng đội ngũ cán bộ v.v đối
với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
* Về mặt lý luận:
Luận án là công trình có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa các quan điểm trị
nước của các học thuyết trong lịch sử phong kiến Trung Hoa và Việt Nam; làm rõ
sự phát triển của tư tưởng trị nước trong chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và
của triều đại Lê Sơ nói riêng; bước đầu đánh giá những mặt hạn chế và tích cực của
tư tưởng trị nước trong giai đoạn này. Kết quả nghiên cứu của luận án là sự đóng
góp cho kiến thức lý luận về lịch sử, lịch sử tư tưởng, tư tưởng chính trị và quản lý
xã hội, góp thêm luận cứ khoa học cho thực tiễn quản lý xã hội ở nước ta hiện nay
cũng như cho sự phát triển của khoa học lịch sử tư tưởng ở Việt Nam.
* Về mặt thực tiễn:
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy và
học tập chuyên ngành Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam cũng như cho
các đối tượng làm công tác quản lý xã hội muốn tìm hiểu kinh nghiệm trị nước
trong lịch sử.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

bằng sự kết hợp "võ công với văn trị" như một tất yếu lịch sử dưới thời Lê Sơ, ông
nhận xét: "Trong nước bấy giờ có nhiều người du đãng cứ rượu chè cờ bạc, không
6
chịu làm ăn tử tế, vậy nên đặt ra phép nghiêm để trừng trị (…) sự nghiêm phạt như
thế, thì có thái quá thật, nhưng mà cũng có công hiệu, khiến cho trong nước bớt có
thứ người cả đời không chịu làm gì, chỉ đi đánh lừa người mà kiếm ăn" [51, tr. 253].
Trần Trọng Kim cũng đánh giá cao những đóng góp của các vị vua đầu
triều đại này, đặc biệt là Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông về các phương diện kinh tế,
văn hóa, giáo dục và tình hình lập pháp. Đó là việc "Vua Thái Tổ định ra phép quân
điền, để lấy công điền, công thổ mà chia cho mọi người, từ quan đại thần cho đến
những người già yếu cô quả, ai cũng có một phần ruộng khiến cho sự giàu nghèo
trong nước khỏi chênh lệch lắm" [51, tr. 253]; vua Lê Thánh Tông "nối nghiệp lớn
không ngừng mở mang bờ cõi (…) mở nhà tế bần để nuôi dưỡng người đau yếu, sai
quan đem thuốc đi chữa bệnh cho người đau yếu… Ngài lại đặt ra 24 điều, sức
giảng cho dân xã để giữ lấy thói tốt" [51, tr. 260].
Tuy nhiên, công trình Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chủ yếu tập
trung vào hai vị vua tiêu biểu của thời Lê Sơ là Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông mà
chưa phản ánh được tư tưởng trị nước của cả triều đại này với tư cách là một hệ
thống, nghĩa là chưa làm rõ cơ sở hình thành cũng như nguyên nhân sâu xa của sự
suy vong của triều đại này từ Lê Uy Mục về sau, cho nên những hạn chế trong tư
tưởng trị nước thời kỳ này không được tác giả đề cập đến một cách cụ thể.
Trong cuốn Việt Nam lịch sử giáo trình của tác giả Đào Duy Anh, xuất bản
năm 1951 cũng đề cập đến triều đại Lê Sơ nhưng không đi sâu vào phân tích về mặt
tư tưởng trị nước mà chỉ đưa ra những nhận xét khá chung về cả triều đại này, cho
rằng "thời Lê Sơ là đỉnh cao nhất của chế độ phong kiến Việt Nam" [1, tr. 42].
Một công trình khác của Đào Duy Anh là cuốn Lịch sử Việt Nam từ nguồn
gốc đến thế kỷ XIX, xuất bản lần đầu năm 1956, đã dành một dung lượng lớn để đánh
giá bước phát triển của nhà nước phong kiến tập quyền thời Lê Sơ. Nhận xét về
những điều kiện thành công của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, tác
giả viết:

năm 1975, khi đề cập đến thời Lê Sơ các học giả cũng đưa ra những nhận xét ít
nhiều liên quan đến tư tưởng trị nước hoặc các lĩnh vực nhất định của thời kỳ này.
Chẳng hạn, trong lời tựa của bản dịch Hồng Đức thiện chính thư, do Trường Luật
khoa Sài Gòn dịch và xuất bản năm 1959, tác giả Vũ Văn Mẫu viết:
Song song với những chiến công oanh liệt (…), các vua nhà Lê,
nhất là trong thế kỷ XV còn hướng mọi sự cố gắng vào việc trị nước an
8
dân, ban hành một nền pháp chế có một tinh thần đặc sắc Việt Nam, vừa
phù hợp với nhu cầu của quốc gia, vừa thỏa mãn các nguyện vọng chân
chính của quốc dân [116, tr. 29].
Tác giả Phan Huy Lê trong cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam, xuất bản năm
1959, thì đưa ra nhận xét:
Các vua thời Lê Sơ, đặc biệt là Lê Lợi có chăm lo đến đời sống
nhân dân và đề ra được một số chính sách biện pháp cứu tế xã hội ít nhiều
có tác dụng thực tế <…> các đời vua sau cũng có tiếp tục chính sách
"khinh hình bạc liễm" <…> Trong một xã hội phong kiến tất nhiên
những chính sách tốt đẹp ấy không thể thực hiện được đầy đủ nhưng ít
nhất cũng phản ánh một thái độ quan tâm của nhà nước đối với đời sống
nhân dân [55, tr. 38].
Cuốn Lịch sử Việt Nam, (tập 1) do Ủy ban Khoa học xã hội xuất bản năm
1971, nhận xét về thời Lê Sơ cũng có đánh giá về tính tích cực trong đường lối cai
trị của triều đại này đối với nhân dân như sau: "Trong thế kỷ XV, khi nền sản xuất
đang phát triển, chính quyền còn chăm lo đến kinh tế thì đời sống của nông dân và
nhân dân lao động nói chung còn tương đối ổn định" [118, tr. 274].
Trong bài viết Thử căn cứ vào Bộ luật Hồng Đức để tìm hiểu xã hội Việt
Nam thời Lê Sơ của tác giả Văn Tân, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 46 -
1963, tác giả đã xuất phát từ những điều luật trong Quốc triều hình luật để phân
tích xã hội thời Lê Sơ trên các phương diện như chế độ sở hữu ruộng đất, sự phát
triển của giai cấp địa chủ, hạn chế sự bành trướng của Phật giáo và trọng Nho,
chống tham ô, nhũng nhiễu dân của quan lại, trách nhiệm của quan lại đối với dân,

về khía cạnh thay đổi của bộ máy hành chính và bộ luật hình ra đời trong thời Lê Sơ
mà hầu như không đề cập đến các khía cạnh khác của xã hội thời Lê Sơ. Ở loại hình
này có thể kể đến các công trình như:
Bài viết Suy nghĩ về cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông, của tác
giả Trương Hữu Quýnh cho Hội thảo Lê Thánh Tông (1442 - 1497) con người và sự
nghiệp đã lý giải nguyên nhân dẫn đến cuộc cải cách bộ máy hành chính của vua Lê
Thánh Tông. Theo tác giả, nguyên nhân cải cách của Lê Thánh Tông vừa là yêu cầu
của thực tiễn, vừa thể hiện ý chí chủ quan của vị vua này. Lê Thánh Tông đã tiến
hành cải cách bộ máy hành chính trên năm nội dung: Một là, bỏ hết các quan chức
và cơ quan trung gian giữa vua và bộ phận thừa hành; hai là, tách sáu bộ Lại, Lễ,
10
Binh, Hình, Hộ, Công khỏi Thượng thư sảnh theo mô hình như nhà Minh đã làm;
ba là, Lê Thánh Tông đề cao công tác thanh tra, giám sát bằng cách đặt sáu khoa
chuyên theo dõi, giám sát hành động của các cơ quan sáu bộ; bốn là, đặt sáu tự để
phụ trách các công việc phụ; năm là, bỏ chế độ bổ dụng các vương hầu, quý tộc vào
các trọng chức của triều đình, lấy những người đỗ đạt qua khoa cử không phân biệt
thành phần xuất thân. Tuy nhiên, cuộc cải cách này cũng chứa đựng nhiều những
hạn chế của nó và ít nhiều không phù hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ [xem: 21].
Bài viết của Trương Hữu Quýnh, đúng như tên gọi của bài viết này, chỉ
dừng lại ở việc tìm hiểu cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông mà không đề
cập đến các lĩnh vực khác như: kinh tế, văn hóa cũng như luật pháp của thời Lê Sơ vì
vậy công trình này chưa thể thể hiện được toàn bộ nội dung tư tưởng trị nước của
thời Lê Sơ.
Bài viết Cải cách quan lại địa phương dưới thời Lê Thánh Tông của tác giả
Nguyễn Hoàng Anh trong hội thảo khoa học Lê Thánh Tông (1442-1497) con
người và sự nghiệp, tác giả Nguyễn Hoàng Anh đã tập trung phân tích công cuộc
cải cách quan lại của Lê Thánh Tông, chủ yếu trên phương diện tuyển dụng, quản
lý, sử dụng quan lại địa phương và phân định chức năng, quyền hạn và chế độ đãi
ngộ đối với quan lại của triều đại Lê Thánh Tông.
Về vấn đề tuyển dụng quan lại địa phương, tác giả nhận xét rằng, thời Lê

Đại học Sư Phạm Hà Nội ấn hành năm 2006. Trong cuốn sách này Văn Tạo xếp cải
cách hành chính của Lê Thánh Tông vào mười cuộc cải cách lớn của lịch sử Việt
Nam, bên cạnh các cuộc cải cách của họ Khúc, của Hồ Quý Ly, của Minh Mệnh…
Theo tác giả, thời Lê Sơ giai đoạn trước Lê Thánh Tông triều đình rơi vào khủng
hoảng sau sự kiện Lê Nghi Dân cướp ngôi và sự lộng hành của triều thần. Sau khi
lên ngôi, Lê Thánh Tông thực hiện việc cải cách gồm năm khâu: đẩy mạnh pháp trị
Khổng giáo; đặt ra Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng; xóa bỏ cơ chế hành chính nhiều tầng
nhiều cấp với các lộ, trấn, phủ, châu;… thống nhất chia đất nước thành 13 xứ thừa
tuyên; cải cách chế độ quan lại, tuyển dụng quan nha qua khoa cử và tiến cử; phát
triển văn hóa, xã hội, phát huy tác dụng của Quốc Tử Giám, lập hội Tao Đàn, sử dụng
chữ Nôm, phát triển thơ văn yêu nước [103, tr. 116-145]. Theo tác giả cải cách hành
chính của Lê Thánh Tông là cuộc cải cách thành công sau cải cách hành chính của
họ Khúc, đưa xã hội Đại Việt thịnh trị vào bậc nhất trong lịch sử chế độ phong kiến.
Vấn đề pháp luật thời Lê Sơ, cũng có khá nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm.
12
Những công trình nghiên cứu về pháp luật giai đoạn này chủ yếu tập trung vào bộ
Quốc triều hình luật của nhà Lê theo những khía cạnh khác nhau trong vấn đề lập
pháp, sử dụng pháp luật và giá trị của bộ luật này. Trong số đó đáng chú ý là các cuốn
sách "Quốc triều hình luật: lịch sử hình thành, nội dung và giá trị" do tác giả Lê Thị
Sơn làm chủ biên; Quốc triều hình luật những giá trị lịch sử và đương đại góp phần
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
kết hợp với trường Đại học Hồng Đức biên soạn. Trong các công trình này, nhiều tác giả
đã cố gắng lý giải, làm rõ thêm vấn đề về sự hình thành nhà nước, cách cai trị, kinh tế -
xã hội, v.v Trong đó đáng chú ý đến những bài viết đề cập đến tư tưởng trị nước
như:
"Nước Đại Việt thời Lê Sơ - một vài đặc điểm căn bản của nền tảng chính
trị, kinh tế, văn hóa - xã hội" của tác giả Nguyễn Hải Kế. Khi nghiên cứu về thời Lê
Sơ, Nguyễn Hải Kế đã đi tìm hiểu triều đại này từ bối cảnh chung đến những đặc
điểm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội. Tác giả đã chia triều đại Lê Sơ thành ba
giai đoạn cơ bản: giai đoạn thứ nhất từ năm 1428 đến 1459, tức là từ khi Lê Thái Tổ

kiện xứ ta" [125, tr. 71-73].
Bài viết của tác giả Uông Chu Lưu: Kết hợp giữa pháp trị và đức trị trong
đạo trị quốc an dân của Lê Thánh Tông trong cuốn Quốc triều hình luật - những
giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam,
sau phần giới thiệu về vua Lê Thánh Tông, khi bàn về tư tưởng trị nước tác giả viết:
Những gì Lê Thánh Tông để lại qua lịch sử cho thấy, trong rất
nhiều cách trị quốc, ông đã lựa chọn những phương cách phù hợp với
thời đại mà các thế hệ trước để lại, phát triển lên ở mức cao hơn và làm
thành cách riêng của mình, tạo nên một sự đặc sắc trong giai đoạn lịch sử
của vương triều Lê Sơ. Sử dụng hài hòa mối quan hệ giữa pháp trị và đức
trị là vấn đề nổi lên trong phép cai trị của ông [125, tr. 44].
Từ việc khẳng định phương cách trị nước của Lê Thánh Tông là pháp trị kết
hợp với đức trị, tác giả đã chỉ ra nét đặc sắc trong phương cách trị nước của vị vua
này trên bốn phương diện: xây dựng chế độ chuyên chế tập quyền mạnh lấy pháp
luật làm trọng; chủ trương kính thiên ái dân; coi lễ là biện pháp chủ yếu để cai trị
giáo hóa dân chúng thông qua quy tắc, chuẩn mực hóa; Quốc triều hình luật giải
quyết vấn đề "phép vua" thua "lệ làng" [125, tr. 47-51]. Tuy nhiên, do giới hạn
nghiên cứu của tác giả chỉ là Quốc triều hình luật mà bộ luật này ra đời dưới thời
14
Lê Thánh Tông nên những tư tưởng và vấn đề khác của thời Lê Sơ trước đó không
được tác giả đề cập đến.
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục và đào tạo:
Thời Lê Sơ được coi là giai đoạn phát triển rực rỡ của giáo dục, đào tạo
theo mô hình Nho giáo trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Chính vì vậy,
nghiên cứu về giáo dục và đào tạo được khá nhiều nhà nghiên cứu tiến hành, đáng
chú ý về lĩnh vực này là luận án tiến sĩ sử học của tác giả Đặng Kim Ngọc với đề tài
"Chế độ đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Lê Sơ (1428 - 1527)" bảo vệ năm
1997. Trong luận án này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về nền giáo dục, đào tạo
và tuyển dụng quan chức cho bộ máy chính quyền của nhà Lê Sơ trên các khía cạnh
như hình thức, nội dung đào tạo và thi cử; tiêu chuẩn cách thức tuyển dụng quan

vậy, đây cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi. Những số liệu, đánh giá
được tác giả rút ra là tài liệu hữu ích để chúng tôi tham khảo, kế thừa khi tìm hiểu
về nền giáo dục và quá trình tuyển dụng quan chức giai đoạn này để rút ra những
bài học cho việc phát triển nền giáo duc, quản lý đội ngũ cán bộ giai đoạn hiện nay.
Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế:
Ở loại hình này, nhiều nhà nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu về chế độ sở
hữu ruộng đất, chính sách phân chia ruộng đất của nhà nước cho nhân dân, các
chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của nhà nước Lê Sơ. Đáng chú ý là công
trình nghiên cứu của tác giả Phan Huy Lê về Chế độ ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp thời Lê Sơ. Trong công trình này tác giả đã làm rõ một số phương diện của
kinh tế nông nghiệp như chế độ chiếm hữu ruộng đất của nhà nước và tư nhân; quá
trình bóc lột địa tô của nhà nước và những người có đất đối với nông dân; sự phát
triển của sức sản xuất trong thời Lê Sơ và từ đó tác giả đi đến những kết luận về đặc
điểm của chế độ phong kiến Việt Nam nói chung và thời Lê Sơ nói riêng. Theo tác
giả, nhà Lê Sơ chú trọng đến phát triển nông nghiệp nhưng lại hạn chế sự phát triển
của kinh tế hàng hóa, đặc biệt là kinh tế ngoại thương vì lý do an ninh, từ đó dẫn đến
việc thực hiện chính sách "bế quan tỏa cảng". Điều đáng chú ý là nhận xét của tác giả
cho rằng: "Về mặt chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp, đó là thời kỳ kết thúc sự
phát triển của kinh tế đại điền trang với chế độ nông nô, nô tì, mở đầu thời kỳ thống
trị của kinh tế địa chủ" [59, tr. 179].
Bài viết của tác giả Đỗ Đức Hùng Tư tưởng kinh tế thời Lê Thánh Tông, đăng
trong kỷ yếu hội thảo Lê Thánh Tông (1442 -1497) con người và sự nghiệp. Trong
16
bài viết này, tác giả khẳng định Lê Thánh Tông đã tiếp tục tư tưởng trọng nông của các
vị vua trước ông và không ngừng tăng cường vai trò, chức năng kinh tế của nhà
nước. "Các vua Lê nhiều lần ban hành chiếu khuyến nông nhằm khôi phục đồng
ruộng bị bỏ hoang sau chiến tranh, khôi phục lễ cầy tịch điền, mở rộng và củng cố hệ
thống đê ngăn lũ và đắp đê ngăn mặn mở rộng diện tích đất trồng ở vùng ven biển…
chính sách lập đồn điền, thực hiện chính sách ngụ binh ư nông" [43, tr. 212]. Không
chỉ bàn về lĩnh vực kinh tế, Đỗ Đức Hùng còn đề cập đến tư tưởng trị nước của Lê

nhiều, tuy nhiên do giới hạn nghiên cứu của tác giả mà những công trình đó mới chỉ
đề cập đến một số mặt khác nhau của giai đoạn này mà chưa có công trình nào
nghiên cứu trực tiếp về tư tưởng trị nước.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TƯ TƯỞNG VÀ Ý NGHĨA
CỦA TƯ TƯỞNG TRỊ NƯỚC THỜI LÊ SƠ
Mặc dù chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam đã được
tiến hành mấy chục năm nay, nhưng mảng vấn đề về tư tưởng trị nước trong lịch sử Việt
Nam còn ít được quan tâm nghiên cứu. Hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ tập trung
vào một vài cá nhân trong lịch sử Việt Nam mà chưa nghiên cứu một cách có hệ thống
và chưa có những kiến giải thực sự sâu sắc. Những công trình nghiên cứu về lịch sử tư
tưởng và tư tưởng trị nước của thời Lê Sơ được xuất bản có thể kể đến dưới đây:
Cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I, do Nguyễn Tài Thư làm chủ biên,
xuất bản năm 1993. Trong công trình này, các tác giả đã dành riêng chương XIV để
bàn về thế giới quan và tư tưởng chính trị xã hội của Lê Thánh Tông, khẳng định:
Thời Lê Thánh Tông là lúc triều đại nhà Lê đã trưởng thành, lúc
ấy chế độ phong kiến trung ương tập quyền đã được củng cố. Lê Thánh
Tông mở rộng đất đai khai hoang, lập đồn điền, khuyến khích nông
nghiệp. Việc làm của Lê Thánh Tông và của triều đình nhà Lê lúc bấy
giờ đã đưa chế độ nhà Lê đến chỗ cực thịnh. Trong nước luôn được mùa,
nhân dân no đủ, không có trộm cướp, không có chiến tranh. Bên ngoài
thì được các nước láng giềng kính nể [110, tr. 300].
Khi nhận xét về tư tưởng trị nước của Lê Thánh Tông, các tác giả cho rằng:
Đóng góp quan trọng của Lê Thánh Tông là xây dựng được một
đường lối trị nước có thể đáp ứng được sự phát triển xã hội lúc bấy giờ.
Đó là đường lối trị nước kiểu "văn trị" hay nói cách khác là "lễ trị" hay
18
"đức trị" <…> Ở Lê Thánh Tông chủ trương giáo dục con người theo
những nguyên tắc của Nho giáo, chủ trương dùng lễ nghĩa để ràng buộc
con người vào triều đình, vào chế độ, coi trọng và sử dụng những người
xuất thân từ Nho gia <…>, song ở ông lễ nghĩa đó phải được xây dựng

những tội lỗi xấu xa. Pháp luật là vũ khí của giới cầm quyền để đổi trắng
thay đen, yếu thua mạnh được. Người ta nói nhiều đến đức trị và nhân
danh đạo đức để can thiệp vào pháp luật và để xử lý mọi việc theo sự tùy
tiện của giới nho sĩ cầm quyền [48, tr. 33].
Mặc dù có đề cập đến vấn đề cai trị của thời Lê Sơ, nhưng công trình của
Vũ Khiêu dường như không đề cập đến cơ sở xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến
đức trị và pháp trị, cho nên ở đó tác giả mới chỉ tập trung vào làm rõ biểu hiện của
tư tưởng đức trị và pháp trị trong đường lối cai trị của các triều đại phong kiến Việt
Nam. Vì vậy, theo chúng tôi, cần có cách tiếp cận lịch sử triết học để làm rõ thêm
tồn tại xã hội Đại Việt đương thời và nhu cầu về sự kết hợp hai yếu tố cơ bản của
đường lối trị nước là đức trị và pháp trị, đặc biệt là sự kết hợp này trong thời Lê Sơ.
- Bài viết Hệ tư tưởng Lê của tác giả Nguyễn Duy Hinh, đây là một trong số
những bài viết nằm trong chuỗi các công trình nghiên cứu liền mạch về hệ tư tưởng
các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6
năm 1986. Trong bài Hệ tư tưởng Lê, tác giả không tách riêng nghiên cứu về thời
Lê Sơ mà đặt nó trong tiến trình của cả thời Lê bao gồm cả giai đoạn Lê Sơ và giai
đoạn Lê trung hưng, ông chia triều đại này thành giai đoạn hợp - phân (trong đó giai
đoạn Lê Sơ tác giả gọi nó là giai đoạn hợp). Tác giả viết:
Đặc trưng của giai đoạn hợp là sự thống nhất của chính quyền
tương đối ổn định với hai nhà vua nổi bật - Lê Thái Tổ và Lê Thánh
Tông. Hai vị vua này ở ngôi trong thời điểm đã trưởng thành, trên tuổi
thành niên, có đủ trí lực và thể lực cần thiết để điều hành và tổ chức
chính quyền một cách chững chạc. Chính nền tảng nhà Lê Sơ nói riêng
và nhà Lê nói chung do hai nhà vua này quyết định [42, tr. 42].
Đánh giá chung về tư tưởng của thời Lê, tác giả khẳng định: "Đặc điểm
quán xuyến về hệ tư tưởng trong thời Lê là sự thống trị của tư tưởng cá nhân vượt
lên trên sự thống trị của tông tộc" [42, tr. 44].
Khi phân tích về hệ tư tưởng của thời Lê, tác giả Nguyễn Duy Hinh đi vào
20
phân tích quá trình nhà Lê sử dụng Nho giáo, hạn chế Phật giáo và đem đối chiếu

21
giải chủ trương cai trị, biện pháp cai trị cũng như làm rõ được cơ sở của việc lựa chọn
đường lối trị nước của Lê Thánh Tông. Đó là đường lối kết hợp giữa pháp trị với lễ
trị, nhưng do triều đại này tôn sùng Nho giáo nên đường lối trị nước đó vẫn là đường
lối nằm trong khuôn khổ lễ trị chứ không hẳn nghiêng về pháp trị [xem: 45, tr. 77].
Có thể nói, đây là bài viết mang tính nghiên cứu chuyên sâu về đường lối cai trị của
vua Lê Thánh Tông, vạch ra những nét cơ bản trong đường lối cai trị của vị vua này
nhưng lại chưa đi vào phân tích các mặt cụ thể của đường lối đó.
Bài viết Lê Thánh Tông và Nho học - Nho giáo của Phan Đại Doãn đã nêu
ảnh hưởng của Nho giáo tới các lĩnh vực đời sống xã hội thời Lê Thánh Tông. Theo
tác giả, vào những năm 30-40 của thế kỷ XV, sự ảnh hưởng của Nho giáo trong
tầng lớp cầm quyền ở triều đình Thăng Long chưa thật sự sâu sắc, chỉ đến Lê Thánh
Tông, Nho giáo mới thực sự được đề cao. Tác giả khẳng định, "vua quan thời Lê
Thánh Tông đã sử dụng Nho học trên tinh thần thiết thực, có học tập kinh sử nhưng
không hoàn toàn gò bó theo một khuôn mẫu cứng nhắc" [16, tr. 304]. Phan Đại
Doãn còn cho rằng, Lê Thánh Tông tiếp nhận Nho giáo chủ yếu ở phương diện lễ
trị, điều này được thể hiện trong 24 điều giáo huấn mà Lê Thánh Tông ban ra vào
năm 1470, đồng thời khẳng định đường lối cai trị của ông vua này là sự kết hợp lễ
trị với pháp trị, nhờ đó mà hiệu quả cho việc cai trị của Lê Thánh Tông khá cao.
Đây là bài viết mang tính chất nghiên cứu về mặt hệ tư tưởng thời vua Lê
Thánh Tông khá sâu của tác giả Phan Đại Doãn. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu những ảnh hưởng của Nho giáo mà chưa đề cập đến các khía cạnh
khác trong đường lối cai trị của thời Lê Sơ nói chung và Lê Thánh Tông nói riêng.
Cũng trong hội thảo khoa học Lê Thánh Tông (1442 - 1497) con người và
sự nghiệp này, tác giả Phan Huy Lê trong bài viết Lê Thánh Tông, cũng đưa ra nhận
định về đường lối trị nước mà Lê Thánh Tông xây dựng, cho rằng:
Lê Thánh Tông xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền cao
độ nhằm tập trung quyền lực vào tay hoàng đế, hạn chế sự tham chính
của tầng lớp quý tộc và hoàng tộc, loại trừ khả năng lộng quyền của các
triều thần ở trung ương và tệ nạn tập trung quyền hành của các quan lại

được đưa vào khuôn mẫu giáo điều của Nho giáo, trật tự xã hội được vận hành và
tồn tại theo nguyên lý của đạo Nho. Kết cấu xã hội được nhìn nhận theo quan điểm
của Nho giáo" [102, tr. 63]. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu và khá công
phu về chính sách xã hội của nhà nước Lê Sơ. Tuy nhiên, chính sách xã hội chỉ là
23
một mặt, một khía cạnh trong nội dung trị nước của thời Lê Sơ, và để hiểu rõ hơn
thời đại Lê Sơ, theo chúng tôi, cần phải tiếp tục nghiên cứu các mặt khác của giai
đoạn lịch sử này. Mặc dù vậy, công trình nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Tạo cũng
là một tài liệu bổ ích để chúng tôi tham khảo về nhà nước và chính sách đối nội của
giai đoạn này. Trong quá trình làm luận án, chúng tôi cũng kế thừa những kiến thức
về lịch sử từ công trình nghiên cứu của tác giả, đặc biệt là những chính sách xã hội
đã được tác giả khảo cứu và quan niệm về sự phân chia giai tầng để tìm hiểu về giai
tầng xã hội Lê Sơ và đưa ra những đánh giá về mối quan hệ giữa các tầng lớp nhân
dân dưới thời này. Từ đó chúng tôi rút ra những bài học về chính sách an dân đối
với sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân giai đoạn hiện nay.
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Nguyễn Hoài Văn với đề tài "Tìm hiểu
tư tưởng chính trị nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh", bảo vệ
năm 2001. Trong luận án này, tác giả không đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ tư tưởng
chính trị của thời Lê Sơ mà chỉ tập trung vào nghiên cứu tư tưởng chính trị Nho
giáo của Lê Thánh Tông trên các khía cạnh như bối cảnh lịch sử và cơ sở kinh tế -
xã hội của tư tưởng chính trị Nho giáo thời Lê Thánh Tông và những biểu hiện về
chính trị theo tinh thần Nho giáo của vị vua này.
Nhận xét tổng thể về đường lối cai trị của Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoài
Văn cho rằng:
Thể chế chính trị thời Lê Thánh Tông được xác lập với sự thống
trị tuyệt đối của hệ tư tưởng Nho giáo trong đời sống xã hội; ở sự tôn
vinh giáo dục khoa cử Nho học, thông qua đó mà tuyển chọn và đào tạo
đội ngũ quan lại các cấp, thực hiện chuyển giao quyền lực từ quý tộc
sang quan liêu nho sĩ; ở sự tăng cường và hữu hiệu hóa quyền lực của bộ
máy nhà nước; ở hệ thống pháp luật được ban bố,…ở việc "nho giáo

những cái hay, cái đúng của tư tưởng pháp trị, <trong đó> … giáo dục phải đi trước,
chỉ khi không thể giáo dục được nữa mới dùng đến hình phạt nặng" [47, tr. 59].
Trong luận án của Phan Quốc Khánh, mặc dù có đề cập đến tư tưởng trị
nước của Lê Thánh Tông, nhưng tác giả cũng không đi sâu vào nghiên cứu những nội
dung của việc kết hợp đức trị với pháp trị của Lê Thánh Tông. Do vậy, luận án mới
chỉ dừng lại ở việc liệt kê những người có sử dụng và chịu ảnh hưởng của tư tưởng
đức trị, pháp trị. Mặt khác, ngoài hai nhà tư tưởng Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông,
các cá nhân khác trong giai đoạn này không được tác giả đề cập đến. Vì vậy, luận án
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status