Tư tưởng kết hợp đức trị với pháp trị trong đường lối trị nước của triều đại lê sơ
và ý nghĩa lịch sử của nó
Trên cơ sở làm rõ một số tiền đề cơ bản của đường lối trị nước kết hợp giữa “đức trị” và “pháp
trị” dưới thời Lê sơ, bài viết đã làm rõ nội dung chủ yếu của đường lối trị nước đó cũng như sự kết
hợp giữa yếu tố đức trị và pháp trị. Đồng thời, tác giả cũng làm rõ ý nghĩa lịch sử của đường lối trị
nước kết hợp giữa đức trị và pháp trị của triều đại Lê sơ đối với các triều đại phong kiến Việt Nam
sau đó.
Tư tưởng về đường lối trị nước là sự phản ánh ý chí, chủ trương của các triều đại phong kiến
trong lịch sử, đồng thời quyết định sự tồn vong của mỗi triều đại. Trong lịch sử Việt Nam, tư tưởng
về đường lối trị nước được hình thành và phát triển cùng với sự hoàn thiện của bộ máy nhà nước
phong kiến. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng, sự kết hợp giữa tư tưởng “đức trị” với “pháp trị”
trong đường lối trị nước không phải chỉ có ở thời Lê sơ, mà đã có ngay từ khi đất nước giành
được độc lập, gắn với các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần.
Nhà Trần đã để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc về lĩnh vực đấu tranh bảo vệ đất nước,
làm nên hào khí “Đông A” vẻ vang. Hào khí ấy thấm đậm tinh thần Nho giáo được khởi nguồn từ “ý
trời, lòng dân” trong Chiếu dời đô và “chủ quyền quốc gia” trong Nam quốc sơn hà thời Lý, lại
được tiếp sức bởi đường lối đoàn kết toàn dân, xây dựng đội quân cha con hùng mạnh, tư tưởng
tôn trọng những giá trị thiêng liêng của con người và đặt ra những vấn đề vinh nhục trong cuộc
sống của nó dưới thời Trần. Tất thảy những điều đó, có thể nói, là tiền đề quan trọng để nhà Trần
duy trì sự thống trị của mình trong một thời gian dài - 175 năm. Sự thịnh trị và suy vong của các
triều đại phong kiến trong lịch sử không chỉ phản ánh sự kết hợp mạnh hay yếu, hợp lý hay bất
hợp lý giữa hai yếu tố “đức trị” và “pháp trị” trên bình diện lý luận, mà còn thể hiện việc thực hiện
chủ trương đó như thế nào trong đời sống hiện thực của xã hội. Bài viết này muốn làm rõ sự kết
hợp đó trong suốt 100 năm trị vì của triều đại Lê sơ thông qua việc nghiên cứu, so sánh những
tiền đề hình thành đường lối trị nước của triều đại này cũng như hệ quả mà nó để lại trong các giai
đoạn lịch sử phong kiến sau đó.(*)
1. Những tiền đề cơ bản cho sự kết hợp tư tưởng “đức trị” với “pháp trị” dưới thời Lê sơ
Trước hết, tiền đề lý luận và thực tiễn quan trọng là chủ trương “đức chủ, pháp bổ” của nhà Trần,
một triều đại từng bước nâng cao địa vị của Nho giáo trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội.
Đường lối trị nước ở thời Trần so với thời Lý là một bước phát triển mạnh mẽ. Đó không còn đơn
thuần là đường lối “đức trị” với tinh thần “từ bi bác ái” của nhà Phật như thời Lý, mà là đường lối
sách giữ dân”(3).
Ở Việt Nam thời Trần, giai cấp thống trị trên bước đường xây dựng triều đại của mình đã đề cao
đường lối “đức trị” và coi nó là cơ sở để trị nước yên dân. Nhưng đường lối “đức trị” của nhà Trần
có điểm khác với đường lối “đức trị” của phong kiến Trung Quốc. Sự khác nhau đó thể hiện ở chỗ,
đường lối “đức trị” của nhà Trần được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa truyền thống nhân văn
của dân tộc với tinh thần từ bi, bác ái của Phật giáo và tư tưởng tiến bộ của Nho giáo nhằm mục
đích cuối cùng là đoàn kết toàn dân để xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Sự khác biệt này đã được chính
vua Trần Dụ Tông thể hiện trong bài thơ của ông: “Sáng nghiệp Việt Đường hai Thái Tông; Đường
là Trinh Quán, Việt Nguyên Phong; Kiến Thành bị giết, Yên Sinh sống; Miếu hiệu như nhau đức
chẳng đồng”(4).
Ở thời Trần, giai cấp thống trị mặc dù giương cao ngọn cờ và kiên trì nguyên tắc “đức trị”, coi “đức
trị” là đường lối chủ đạo trong cách trị dân trị nước, nhưng đó không phải là đường lối đức trị
thuần túy mà đã có sự kết hợp nhất định với “pháp trị” theo tinh thần “đức chủ, pháp bổ”. Chỉ mấy
năm sau khi lên ngôi, năm 1230 Lê Thái Tông đã lập tức cho “khảo xét các luật lệ của triều trước
soạn thành Quốc triều thông chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20 quyển”(5). Đến đời Trần Dụ
Tông, vua lại sai Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên định bộ Hình thư. Đồng thời với
việc biên soạn luật pháp, nhà Trần còn quan tâm đến việc hoàn chỉnh các cơ quan chuyên trách về
tư pháp và thể lệ xét xử. So với thời Lý thì thời Trần có bước phát triển hơn cả về việc biên soạn
luật lẫn việc kiện toàn bộ máy pháp luật. Ở trung ương, nhà Trần có cơ quan chuyên xét việc kiện
tụng gọi là viện Thẩm hình, ngoài ra còn có viện Đăng văn Kiểm pháp làm nhiệm vụ xét hỏi của
các cơ quan xét xử. Cùng với việc làm đó là sự tuyển chọn và bổ nhiệm những quan lại thanh liêm
vào các cơ quan pháp luật. Những người được lựa chọn vào làm việc ở các cơ quan luật pháp
phải thông qua thi cử, trong đó có thi về hình luật (thi thủ phân, hỏi về phép đối án).
Đánh giá về đường lối pháp trị của nhà Trần, sử gia Phan Huy Chú viết: “Hình pháp nhà Trần rất
tàn khốc, kẻ ăn trộm và kẻ trốn tránh thì bị chặt ngón chân, giao cho người sự chủ được thoả chí
xử trị hoặc cho voi giày chết. Có lẽ ngoài luật thường ra, còn dùng những hình phạt nghiêm khắc
này để cấm cho hết tội chăng”(6). Chúng tôi cho rằng, sự tàn khốc ấy, suy cho cùng, cũng chỉ
nhằm mục đích răn đe để bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội, qua đó củng cố đường lối trị nước “nội
Nho ngoại Pháp” chứ không phải là chủ trương “dĩ hình khử hình”, “phạt nặng các tội nhẹ” như tư
tưởng pháp trị của Thương Ưởng dưới thời nhà Tần của Trung Hoa.
vô cớ tụ họp uống rượu thì xử phạt 100 trượng; người chứa chấp thì tội kém một bậc”(9).
Mặt khác, dù rất coi trọng pháp luật trong việc trị nước, nhưng nhà Lê sơ không để các yếu tố
pháp trị chiếm ưu thế triệt để. Ngay từ đầu, triều Lê sơ đã đề ra chủ trương “ấn định luật lệ, chế
tác lễ nhạc… xây dựng quan chức thành lập phủ huyện”(10). Bên cạnh và cùng với tư tưởng pháp
trị, Lê Thái Tổ đặc biệt chú ý đến yếu tố đức trị trong đường lối cai trị của mình. Tư tưởng đức
trị của nhà Lê sơ tập trung vào những nội dung chính là tu thân sửa đức của người đứng đầu và
chăm lo đến đời sống dân chúng. Đường lối này được sử dụng nhất quán dưới triều Lê sơ. Đến
thời vua Lê Thánh Tông, đường lối trị nước dựa trên sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị đã có
được bước phát triển mạnh mẽ và nhờ đó, triều đại này đã trở thành triều đại phong kiến trung
ương tập quyền nổi tiếng nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.
Đường lối trị nước của Lê Thánh Tông chính là sự kế thừa và phát triển đến đỉnh cao những quan
điểm chính trị của các nhà vua triều Lê sơ trước ông. Đó là việc “ấn định luật lệ, chế tác lễ nhạc”
của Lê Thái Tổ, tinh thần “bên trong chế ngự quần thần, bên ngoài đánh dẹp di địch, trọng đạo
sùng Nho, mở khoa thi chọn kẻ sĩ” của Lê Thái Tông, quan niệm “thương người làm ruộng, yêu
nuôi muôn dân” của Lê Nhân Tông.
Đường lối trị nước của Lê Thánh Tông là đường lối đức trị kết hợp với pháp trị một cách nhất
quán trong suốt thời gian ông ở ngôi. Điểm khác biệt giữa ông với các nhà vua khác là ở chỗ, ông
đã khẳng định được vai trò cá nhân của mình về ý chí kiên định và hành động quyết đoán trực tiếp
trong việc điều hành bộ máy nhà nước toàn trị, cực quyền, sẵn sàng can thiệp vào mọi mặt công
việc của triều đình và hàng ngũ quan liêu. Trong quá trình trị nước, dấu ấn cá nhân của ông có lúc
biểu hiện thái quá.
Cùng với tinh thần đề cao pháp luật, Lê Thánh Tông đã từng nhấn mạnh đến hai chức năng cơ
bản của nhà nước là “lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân, nông tang để có đủ cơm áo. Hai điều đó là việc
làm cần kíp của chính sự, là chức trách của các quan nuôi giữ dân”(11). Điều này thể hiện quan
điểm Nho giáo của ông về an dân, chăm lo đến đời sống thiết thực của người dân. Ông đã từng
tuyên bố: “Người ta sở dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ làm khuôn phép giữ gìn”(12). Để tăng
cường quyền lực của mình và cụ thể hoá nó trong thực tế, Lê Thánh Tông đã dùng lễ để quy
phạm hóa các phương diện đời sống xã hội. Chủ trương này thể hiện tính nhất quán của triều đại
Lê sơ về độc tôn Nho giáo, xem “sùng Nho trọng đạo là việc hàng đầu”, nhưng ở đó có sự kết hợp
một cách hợp lý với tư tưởng pháp trị của Pháp gia như ông đã từng tuyên bố với các quần thần
học thuyết chính trị - đạo đức của Nho giáo với sự kết hợp một cách hợp lý các yếu tố pháp trị,
thời bấy giờ không có học thuyết nào khác tỏ ra hiệu quả hơn. Nó đóng vai trò quan trọng trong
việc quản lý điều hành đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng đạo đức
gia đình và mối quan hệ ràng buộc, lệ thuộc chặt chẽ là thân – nhà – làng – nước.
Như vậy, nhà nước phong kiến trung ương tập quyền thời Lê sơ dưới sự ảnh hưởng của tư tưởng
Nho giáo với những quy tắc cơ bản về cương, thường của nó đã được tầng lớp cai trị vận dụng
thành những điều huấn, thậm chí nó còn được nâng lên ở tầm quy phạm pháp luật trong bộ luật
nổi tiếng dưới thời Lê Thánh Tông - Bộ luật Hồng Đức. Đó cũng là nét đặc sắc trong đường lối cai
trị của nhà Lê sơ nói riêng và là bước phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung.
Đường lối trị nước kết hợp giữa đức trị với pháp trị dưới thời Lê sơ được các triều đại sau kế
thừa. Nhà Mạc đã kế thừa gần như trọn vẹn các chủ trương, đường lối của thời Lê Thánh Tông về
tổ chức bộ máy nhà nước quan liêu cũng như hệ thống giáo dục khoa cử của nó. (15)
Nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam ngay từ khi nắm quyền cai trị
đất nước, đã thực hiện sự độc tôn Nho giáo lần thứ hai. Việc độc tôn này, một lần nữa thể hiện sự
tiếp tục phát triển đường lối trị nước của nhà Lê sơ, bởi khi đó nhà Nguyễn, đứng đầu là Nguyễn
Ánh dù được người Pháp giúp đỡ lật đổ nhà Tây Sơn, nhưng không vì thế mà học tập và xây
dựng mô hình nhà nước phương Tây. Việc Nguyễn Ánh ra lệnh cho các quần thần biên soạn bộ
Hoàng triều luật lệ (Luật Gia Long) trên cơ sở kế thừa Luật Hồng Đức và tham khảo luật lệ nhà
Thanh cho thấy ảnh hưởng của đường lối trị nước thời Lê sơ đối với triều Nguyễn đến mức nào.
Những thay đổi ở một số điều khoản của Luật Gia Long so với Luật Hồng Đức cũng là điều dễ
hiểu, bởi ý chí và chủ trương về đường lối trị nước của bất kỳ triều đại nào cũng đều bị qui định
bởi sự tồn tại của xã hội và của chính triều đại đó.
Tư tưởng về đường lối trị nước thời Lê sơ là kết quả thực nghiệm của năm thế kỷ trước đó bởi
các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ. Mặt khác, triều đại Lê sơ là triều đại khai quốc, có
công lớn trong việc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng nhà nước phong kiến trung ương
tập quyền. Sự thịnh trị của triều đại này dưới thời Lê Thánh Tông đã chứng minh tính hợp lý của
đường lối trị nước kết hợp giữa đức trị và pháp trị, đáp ứng được đòi hỏi của thời đại, đồng thời
tạo ra ảnh hưởng lớn đến đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Việt Nam sau này.