Triết học chính trị jean jacques rousseau và ý nghĩa lịch sử của nó - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
^]

DƯƠNG THỊ NGỌC DUNG

TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ
JEAN JACQUES ROUSSEAU
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
^]

DƯƠNG THỊ NGỌC DUNG

TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ
JEAN JACQUES ROUSSEAU
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

Chuyên ngành : LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số : 62.22.80.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học :


Chương 2
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ J.J.ROUSSEAU
2.1. Phê phán bất bình đẳng và tha hóa con người – điểm khởi đầu
của triết học chính trị J.J.Rousseau ................................................................ 55
2.1.1. Phê phán bất bình đẳng và tha hóa con người trong “Luận về
khoa học và nghệ thuật” ................................................................................... 55


2

2.1.2. Phê phán bất bình đẳng và tha hóa con người trong “Luận về nguồn
gốc và bản chất của sự bất bình đẳng giữa người với người” và phương án
khắc phục bất bình đẳng trong“Kinh tế chính trị” .......................................... 61
2.2. Triết học chính trị J.J.Rousseau trong “Bàn về khế ước xã hội”
và “Emile, hay vấn đề giáo dục” .................................................................... 72
2.2.1. Quan niệm thống nhất quyền lực nhà nước và những ý tưởng về
nhà nước của dân, do dân, vì dân trong “Bàn về khế ước xã hội” ................... 72
2.2.2. Triết lý kiến tạo mẫu người công dân tự do cho xã hội dân
chủ lý tưởng trong “Emile, hay vấn đề giáo dục” ............................................ 93
Kết luận chương 2 ...................................................................................... 106

Chương 3
Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ J.J.ROUSSEAU
3.1. Giá trị và ảnh hưởng của triết học chính trị J.J.Rousseau tới sự
vận động của cách mạng thế giới .................................................................. 111
3.1.1. Triết học chính trị J.J.Rousseau – một trong những ngọn cờ
lý luận của Đại cách mạng Pháp 1789 ............................................................ 111
3.1.2. Triết học chính trị J.J.Rousseau với bước chuyển tư tưởng chính

học chính trị của các bậc tiền bối trên cơ sở thực tiễn nước Pháp thế kỷ XVIII,
đưa ra những quan điểm độc đáo về tự do, bình đẳng; về nguồn gốc, bản chất
nhà nước, pháp luật và thiết chế chính trị … góp phần làm nên thắng lợi của
Đại Cách mạng Pháp năm 1789. Không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch
sử giai đoạn mình, triết học chính trị của J.J.Rousseau, hay nói như Engels,
những phác thảo có tính biện chứng về sự vận động của xã hội, đặc biệt là cách
lý giải của ông về chủ quyền nhân dân, về bản chất của quyền lực nhân dân và
những ý tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân, cũng như những suy nghĩ
về mối quan hệ giữa quá trình phát triển đời sống vật chất với việc bảo vệ các
giá trị đạo đức truyền thống, triết lý giáo dục nhằm tạo ra con người tự chủ, tự
tin, yêu hòa bình, biết tôn trọng bản thân và tôn trọng người khác … còn tiếp
tục ảnh hưởng tới quá trình vận động, phát triển tiếp theo của tư tưởng xây
dựng nhà nước pháp quyền nói riêng, triết học chính trị của nhân loại nói chung
và đến nay nó vẫn còn chứa đựng nhiều giá trị hiện thực.
Ra đi tìm đường cứu nước từ lý của Đại cách mạng Pháp 1789, trải qua
quá trình bôn ba tại sào huyệt của chủ nghĩa thực dân, Nguyễn Ái Quốc – Hồ
Chí Minh tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc trong lý tưởng của Cách
mạng Tháng Mười Nga 1917. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân
Việt Nam bắt đầu xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, xây dựng nhà


5

nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dù không trực tiếp khẳng định
bằng khái niệm, song tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân và vì dân đã được Hồ Chí Minh khẳng định nhiều lần bằng
nhiều cách diễn đạt khác nhau trong suốt quá trình Người trực tiếp lãnh đạo xây
dựng nhà nước Việt Nam mới.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VII khẳng định : “tiếp tục cải cách bộ

cãi.
Để thành công trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, cùng với việc quán triệt những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước xã hội chủ nghĩa, phải hiểu rõ
lý luận về nhà nước pháp quyền đi đôi với việc làm cho những giá trị ấy trở
thành hiện thực trong đời sống con người. Do đó, ngoài việc chủ động phát huy
nội lực, Đảng và Nhà nước đã chủ trương hội nhập sinh hoạt quốc tế, học tập
kinh nghiệm và lý luận xây dựng nhà nước pháp quyền của các các dân tộc đi
trước. Việc nghiên cứu triết học chính trị J.J.Rousseau cũng nằm trong yêu cầu
này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng của J.J.Rousseau cũng như của nhiều nhà Khai sáng Pháp khác
đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau
như triết học, chính trị học, sử học, luật học, văn học, giáo dục học …
Tại Liên Xô trước đây, các tác phẩm chọn lọc của J.J.Rousseau cũng như
những sách giáo khoa, sách chuyên khảo có sự phân tích sâu sắc những tư
tưởng của J.J.Rousseau của nhiều tác giả tên tuổi đã được xuất bản và tái bản
nhiều lần. Chẳng hạn, trong tác phẩm “Sự phát triển tư tưởng xã hội tại Pháp
thế kỷ XVIII” (1977), V.P.Volgin đưa J.J.Rousseau vào nhóm các nhà dân chủ
và bình quân, nghĩa là chủ trương một xã hội mà quyền lực thuộc về nhân dân,
tôn trọng quyền sở hữu cá nhân dưới sự điều tiết của nhà nước, chống sự giàu
có thái quá và sự bần cùng, phân phối lại sản phẩm, hạn chế tiêu dung, nhằm
ngăn chặn bất bình đẳng xã hội ; I.N.Kupsov trong tác phẩm “J.J.Rousseau –


7

nhà tư tưởng của cách mạng Pháp” (1979) đã phân tích vị trí của J.J.Rousseau
trong phong trào Khai sáng Pháp, chỉ ra mối liên hệ giữa tư tưởng dân chủ của
J.J.Rousseau với Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp,

triết học xã hội. Trong tất cả những tác phẩm này, những nội dung cơ bản của
triết học chính trị J.J.Rousseau đã được phân tích và đánh giá trân trọng bên
cạnh tên tuổi một số triết gia tiêu biểu khác.
Ở Sài Gòn trước giải phóng cũng như ở Việt Nam hiện nay, những tác
phẩm tiêu biểu của J.J.Rousseau như “Emile, hay vấn đề giáo dục” và “Bàn về
khế ước xã hội” khi dịch sang tiếng Việt cũng gây được sự chú ý trong dư luận.
Trước khi “Bàn về khế ước xã hội” được đông đảo độc giả Việt Nam biết đến,
dịch giả Hoàng Thanh Đạm cũng đã giới thiệu đến bạn đọc tóm tắt nội dung cơ
bản của tác phẩm này qua bài báo “Tìm hiểu “Bàn về khế ước xã hội”, được
đăng trong tạp chí “Lịch sử quân sự” vào tháng 6/1989 và sau này được đính


8

kèm trong tác phẩm trên. Trong tác phẩm “Lý luận giáo dục châu Âu”, tác giả
Nguyễn Mạnh Tường cũng đã dành hơn một trăm trang để nói về tư tưởng của
J.J.Rousseau, trong đó tư tưởng triết học chính trị của J.J.Rousseau trải đều
trong các trang viết. Trong tác phẩm “Những danh tác chính trị”, tác giả Jean
Jacques Chevallier (được dịch giả Lê Thanh Hoàng Dân dịch và được nhà xuất
bản Trẻ phát hành năm 1971 tại Sài Gòn) cũng đã dành sáu mươi trang phân
tích sự kế thừa sáng tạo của tư tưởng chính trị của J.J.Rousseau trong “Bàn về
khế ước xã hội” cũng như ý nghĩa và ảnh hưởng của tác phẩm này đối với lịch
sử. Tác phẩm “J.J.Rousseau” của tác giả Phùng Văn Tửu được thể hiện dưới
dạng văn học cũng đã ra mắt độc giả Việt Nam năm 1996. Trong “Lịch sử các
tư tưởng chính trị”, xuất bản tại Hà Nội năm 1995 (thuộc chương trình KH-CN:
KX-05. Đề tài KX- 02), bên cạnh việc phân tích những tư tưởng chính trị cơ
bản của một số triết gia phương Tây tiêu biểu từ cổ đại đến cận đại qua chủ đề :
“chủ nghĩa không tưởng triết học : Platon”, “chủ nghĩa chuyên chế cá nhân –
Grotius Hugo và Thomas Hobbes”, “chủ nghĩa tự do quý tộc : Montesquieu”…,
tác giả Marcel Prelct đã phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị của

Ngoài ra, những nội dung cơ bản trong triết học chính trị của J.J.Rousseau
đã được nhiều tác giả trình bày trong nhiều chuyên khảo nghiên cứu tư tưởng
chính trị - xã hội dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình về lịch sử tư tưởng chính
trị, lịch sử triết học, lịch sử văn học, hay trong các tạp chí như tạp chí Triết học,
tạp chí Cộng sản, tạp chí Khoa học xã hội … Với sự phát triển của công nghệ
thông tin, giờ đây chúng ta có thể truy cập những bài viết, bài bình luận liên
quan đến triết học chính trị của J.J.Rousseau của nhiều tác giả với nhiều nội
dung và khía cạnh khác nhau.
Bên cạnh những tác phẩm, những bài viết về nội dung tư tưởng chính trị
của J.J.Rousseau, những tác phẩm, những bài viết liên quan đến tư tưởng về
nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng
được chúng tôi tìm kiếm, tìm hiểu và tất cả trở thành những tư liệu bổ ích giúp
chúng tôi thực hiện luận án này.


10

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
a. Mục đích
Cùng với việc trình bày một cách hệ thống nguồn gốc, tiền đề và những
nội dung cơ bản của triết học chính trị J.J.Rousseau qua một số tác phẩm tiêu
biểu của ông, luận án mong muốn chỉ ra những giá trị và ảnh hưởng mà những
tư tưởng này đã tạo ra trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung
cũng như những bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút ra được từ những tư
tưởng đó trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân vì dân tại Việt Nam hiện nay.
b. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án nêu ra và giải quyết các nhiệm vụ sau :
1) Trình bày nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của triết học
chính trị J.J.Rousseau nói riêng và tư tưởng của J.J.Rousseau nói chung.

nội dung của hai tác phẩm trên, nhất là trong “Bàn về khế ước xã hội”.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử được thể hiện trong việc phân tích tiến trình lịch sử xã hội, mà
cụ thể là phân tích triết học chính trị của J.J.Rousseau.
Cùng với những phương pháp toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển, gắn lý
luận với thực tiễn … được rút ra từ phép biện chứng duy vật, những phương
pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, quy nạp, diễn dịch, đối
chiếu, loại suy, logic … và sự kết hợp giữa những phương pháp đó cũng được
sử dụng trong quá trình thực hiện luận án này.
6. Cái mới của luận án
- Từ di sản tư tưởng của J.J.Rousseau, luận án tổng hợp, chọn lọc và phân
tích một cách hệ thống những nội dung cơ bản của triết học chính trị
J.J.Rousseau qua các thời kỳ khác nhau.


12

- Rút ra ý nghĩa lịch sử và ảnh hưởng của triết học chính trị J.J.Rousseau
đối với thời đại; chỉ ra mối liên hệ thời sự giữa tư tưởng chính trị của
J.J.Rousseau với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân hiện nay ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức về lịch sử triết học chính
trị phương Tây nói chung và triết học chính trị J.J.Rousseau nói riêng.
- Chỉ ra ý nghĩa và một số bài học lịch sử từ triết học chính trị
J.J.Rousseau đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam.
- Dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho quá trình nghiên cứu và giảng
dạy các môn lịch sử triết học, triết học chính trị, lý luận về nhà nước và pháp

Điều này giải thích vì sao giữa lằn ranh của hai thời đại đã xuất hiện hàng loạt
các phương án cải cách xã hội, từ chủ nghĩa nhân văn Kito giáo đến phương án
thế tục hóa của Machiavelli, từ chủ nghĩa cộng sản không tưởng của Th.More
đến những phác thảo về nhà nước pháp quyền của Grotius và Bodin. Nói khác
đi, những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội – chính trị - văn
hóa thời kỳ Phục hưng là cơ sở thực tiễn sâu xa của phong trào Khai sáng Pháp.


14

Bước vào thế kỷ XVIII, trong khi Anh và Hà Lan đang vững bước trên
con đường phát triển tư bản chủ nghĩa với tư tưởng của giai cấp tư sản đã trở
thành tư tưởng thống trị thì nước Pháp vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu
dưới sự cai trị của các triều đại quân chủ chuyên chế.
Về chính quyền, kể từ khi vua Louis XI áp dụng những biện pháp để tập
trung quyền lực, thống nhất quốc gia, nước Pháp phải chịu tất cả những quyền
hành độc đoán, chuyên chế. Nếu như trong thế kỷ XIV, XV và XVI, ở Pháp tồn
tại một loại nghị viện gọi là Estates General, bao gồm các đại biểu của giới
tăng lữ, quý tộc và thường dân (tuy thời gian nhóm họp cách quãng và không
đều), thì từ sau năm 1614, nhà vua là người duy nhất được ký thác nắm quyền
quốc gia. Theo đó, nhà vua có thể giải quyết mọi vấn đề theo ý độc đoán của
mình, không sợ bị buộc tội hoặc hạn chế lập pháp theo một hình thức bất kỳ.
Việc cai trị của nhà vua không bị kiếm soát, quốc hội cũng chỉ là một viện
chuyên ghi chép lại những hành vi của nhà vua. Nhà vua tống giam người vào
ngục mà không cần xét xử bằng sắc lệnh của hoàng gia. Nhà vua ngăn chặn sự
phê bình chính sách bằng cách áp đặt chế độ kiểm duyệt gắt gao đối với báo chí
hoặc hạn chế tự do ngôn luận… Bên cạnh đó, sự chồng chéo trong cơ cấu tổ
chức của nhà nước dẫn tới tính không hiệu quả của chính quyền ở mọi cấp, mọi
nơi. Mâu thuẫn quyền thực thi pháp lý giữa các ban ngành kình địch nhau
thường gây chậm trễ trong việc giải quyết nhiều vấn đề trong các lĩnh vực tài

những vẫn giữ phương thức bóc lột nông dân như cũ, mà cùng với sự phát triển
của mậu dịch và sự tăng lên của nhu cầu nông phẩm, chúng còn vơ vét tận cùng
số địa tô có thể vơ vét được. Nông dân sau những vụ làm lụng vất vả vẫn có thể
trở thành trắng tay sau khi phải nộp cho đủ số thuế nghĩa vụ. Trong nông dân
bắt đầu nảy sinh quá trình phân hóa xã hội, nghĩa là xuất hiện phú nông và bần
nông. Tuy nhiên, toàn thể giai cấp nông dân đều căm thù địa chủ, mong muốn
xóa bỏ áp bức phong kiến.
Chế độ phong kiến chuyên chế cũng là trở ngại nghiêm trọng nhất trên con
đường phát triển công nghiệp ở Pháp. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã xen vào một
số những lĩnh vực sản xuất quan trọng, đã xuất hiện những tổ chức sản xuất với


16

quy mô từ năm trăm đến bốn ngàn công nhân, song nhìn chung, tại Pháp lúc
bấy giờ tiểu thủ công nghiệp vẫn chiếm ưu thế, máy móc vẫn chưa được sử
dụng nhiều, các cơ sở sản xuất tập trung còn tương đối ít. Tuy vậy, do được
thừa hưởng những thành quả của khoa học kỹ thuật cộng với khí thế của cuộc
cách mạng công nghiệp Anh, giai cấp tư sản Pháp đã tích lũy được một số vốn
lớn từ nguồn lãi thu được khi đưa máy móc vào sản xuất. Và sự giàu có ngày
càng tăng của giai cấp tư sản đã làm tăng cảm nhận về địa vị chính trị thấp kém
của họ. Giai cấp tư sản cũng mong muốn phá vỡ tình trạng cát cứ phong kiến
để phát triển sản xuất thương mại, thủ tiêu những đặc quyền đặc lợi của bọn
tăng lữ - quý tộc, đòi quyền bình đẳng trong địa vị xã hội những như bình đẳng
cơ hội trong kinh doanh.
Việc tự do buôn bán lương thực cũng bị nghiêm cấm, chính phủ chỉ bán
quyền mua bán lương thực cho một số thương nhân độc quyền. Thêm vào đó,
việc chia cắt các vùng bằng những đồn ải quan thuế đã kìm hãm sự phát triển
của buôn bán, mậu dịch … Chính phủ đã can thiệp vào hoạt động kinh tế của
giai cấp tư sản ở khắp mọi nơi, ngăn cản sự làm giàu của giai cấp tư sản bên

nhìn thấy ở Nhà Thờ một sức mạnh to lớn để củng cố quyền lực, thì ngược lại,
các nhà tư tưởng Khai sáng đã xem nó như một nền chuyên chính tinh thần.
Chẳng hạn, Holbach trong quyển “Cơ đốc giáo bị kết án” đã viết : “Tôn giáo đó
là nghệ thuật làm đần độn con người với mục đích đánh lạc hướng suy nghĩ của
họ khỏi tội ác mà những kẻ cầm quyền gây ra cho họ”… Xung đột giữa hai
đẳng cấp trên và “đẳng cấp thứ ba” ngày càng trở nên gay gắt. Do điều kiện đặc
thù lịch sử của đất nước, giai cấp tư sản Pháp đã liên minh với nông dân, công
nhân, thợ thủ công cũng nhưng những nhân dân lao động khác trong cuộc đấu
tranh chống lại nền quân chủ, quý tộc và giáo hội phong kiến.
Thế kỷ XVIII, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là vật lý
học. Những nguyên tắc vật lý của Newton, những định luật toán học của
D’Alembert, những công trình nghiên cứu vật vật học của Buffon, cũng như
việc người ta đem áp dụng những thành tựu đó vào trong sản xuất và trong đời


18

sống thu được những thành tựu khả quan đã làm thay đổi những quan niệm
đương thời. Người ta đã nhìn nhận thấy rằng, sự sáng tạo bắt nguồn từ kinh
nghiệm và lý trí của con người chứ không xuất phát từ Chúa Trời. Người ta còn
tin rằng, rồi đây khoa học sẽ tước đọat quyền của tạo hóa. Khoa học đã trở
thành một cái “mốt”. Những vấn đề khoa học ngày càng được công chúng yêu
thích nghiên cứu. Những đề tài khoa học đã trở thành những chủ đề trung tâm
của những cuộc nói chuyện trong các phòng khách, những cuộc tranh luận
trong các trường đại học. Nhu cầu khái quát hoá những thành tựu của khoa học
tự nhiên đã đưa đến cuộc tranh luận gay gắt về phương pháp nhận thức và
những phương pháp nhận thức khoa học đã có tác dụng tích cực trong quá trình
phân tích thực trạng và triển vọng sự vận động xã hội.
Như vậy, hệ thống chính trị bảo thủ và phản động đã làm gay gắt thêm
mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đang phát triển và những rào cản trong quan

Đầu tiên, phải khẳng định rằng, triết học chính trị J.J.Rousseau nói riêng
và phong trào Khai sáng Pháp nói chung là một khâu trong chuỗi các “vòng
xoáy ốc” năng động, kế tiếp nhau và ngày càng được mở rộng trong lịch sử tư
tưởng nhân loại mà điểm xuất phát là triết học chính trị ở Hy Lạp – La Mã cổ
đại. Nói khác đi, Hy Lạp, theo đánh giá của các nhà nhân văn Phục hưng (thế
kỷ XV-XVI), là nơi đã tạo nên truyền thống cổ điển của văn hóa châu Âu,
trong đó có cả tư tưởng triết học chính trị, hay nói đúng hơn là lý tưởng chính
trị, nghĩa là xem xét chính trị từ góc độ văn hóa. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các
nhà Khai sáng Pháp, trong quá trình hình thành tư tưởng của mình đều thực
hiện sự khảo sát lịch sử từ tư tưởng cổ đại phương Tây. Trong sự hình thành
triết học chính trị của J.J.Rousseau, giai đoạn đầu, chúng ta cũng nhận thấy mối
liên hệ giữa ông với Socrates (469-399 tr.CN), Platon (427-347 tr.CN) và
Aristotle (384-322 tr.CN) trong quan điểm về bất bình đẳng và công bằng xã
hội.
Vào thế kỷ thứ V trước công nguyên, trong khuôn khổ của chế độ chiếm
hữu nô lệ, hình thức cai trị có tên “dân chủ” là một minh chứng cho thấy nỗ lực


20

không ngừng của con người vươn đến sự hoàn thiện của đời sống cộng đồng.
Bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, phiên âm ra tiếng La-tinh, “dân chủ” là democratia,
trong đó “demos” là nhân dân và “kratie” là quyền lực, kết hợp lại là “quyền
lực của nhân dân”, gọi tắt là “dân chủ”. Nếu xét như hình thức tổ chức xã hội,
điều hành công việc quốc gia, “dân chủ” hàm chứa cả hai nghĩa : quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân và chính nhân dân thực hiện quyền lực của mình trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể nói, nền dân chủ là một phát minh
thực sự trong lịch sử nhân loại. Với nền dân chủ Athens, lần đầu tiên trong lịch
sử nhân loại, người ta được biết đến khái niệm “Hội nghị nhân dân”, “quyền
của công dân” cũng như sự tham gia của những tầng lớp nhân dân vào công

ông còn được thể hiện trong “Nền chính trị” và Gorgias. Trong “Nhà nước”,
Platon đã chỉ ra sự sa đọa của nền dân chủ chủ nô ở bốn điểm cơ bản như : (1)
Nền dân chủ không giải quyết được một cách triệt để mâu thuẫn giữa giàu và
nghèo. Do đó, vẫn nảy sinh ra hiện tượng hai nhà nước trong một nhà nước –
nhà nước của những kẻ giàu và nhà nước của những kẻ nghèo. (2) Nhà nước
dân chủ là nhà nước man rợ hóa, bởi lẽ nó là sự tập hợp vô nguyên tắc tất cả
mọi người trong bộ máy quyền lực ; những cánh tay giơ lên, của những nhà
thông thái và đến những kẻ vô lại, đều có giá trị ngang nhau. (3) Nhà nước dân
chủ luôn thể hiện tính thiếu quyết đoán, nghĩa là những quyết sách của chính
quyền là kết quả của sự biểu quyết trên nguyên tắc đa số thắng thiểu số, mà
nhiều khi sự chênh lệch chỉ là một cánh tay. Do đó, nó không thể không gây ra
sự phản ứng từ một bộ phận đông đảo trong dân chúng, khiến cho các quyết
sách đó không được thực thi trọn vẹn. (4) Nhà nước dân chủ luôn tồn tại tính
cực đoan, - nghĩa là khát vọng dân chủ bị biến thành lạm dụng dân chủ, đảo lộn
các giá trị hiện tồn, phá vỡ trật tự tự nhiên của sự vật, - dân không sợ chính
quyền, trò không sợ thầy, con không sợ cha … hậu quả thật khó lường. Phê
phán nền dân chủ chủ nô là nét chung của các nhà tư tưởng Hy Lạp theo phái
Socrates. Cả Socrates và Platon đều phê phán nền dân chủ trên lập trường của
phái chủ nô quý tộc. Tuy nhiên, nếu Socrates thiên về xu hướng đạo đức hóa
nhà nước, thì Platon nhấn mạnh đến tính hợp lý của sự tổ chức đời sống chính


22

trị - xã hội. Muốn thay thế nền dân chủ bằng mô hình “nhà nước lý tưởng” với
mục tiêu cao nhất là công bằng cho toàn xã hội, để đảm bảo trật tự tự nhiên của
sự vật, Platon đã đưa ra quan điểm xóa bỏ tư hữu và thực hiện bình quân chủ
nghĩa trong một tầng lớp xã hội nhất định. Nói khác đi, theo Platon, người lãnh
đạo thông thái là vua – triết gia (philosopher king), là người ưu tú nhất của xã
hội về tư tưởng, và những người trong giai cấp lãnh đạo cũng phải là những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status