ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-***--
ĐINH VĂN CHIẾN
TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA LÊ THÁNH TÔNG
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--
***--
ĐINH VĂN CHIẾN
TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA LÊ THÁNH TÔNG
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự
hướng dẫn của PGS. TS. Trịnh Doãn Chính. Kết quả nghiên cứu trong luận án là
trung thực và chưa được ai công bố. Các tài liệu sử dụng trong luận án có nguồn gốc,
xuất xứ rõ ràng.
Ngƣời cam đoan
ĐINH VĂN CHIẾN
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH, PHÁT
TRIỂN TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA LÊ THÁNH TÔNG ......................... 21
1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XIV - XV VỚI VIỆC
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA LÊ THÁNH TÔNG .... 21
1.1.1. Yêu cầu xây dựng nền chính trị - xã hội Đại Việt thống nhất, độc lập, tự chủ
thế kỷ XIV - XV với việc hình thành tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông ........... 22
1.1.2. Nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền kinh tế của triều đại Lê sơ với việc
hình thành tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông .............................................. 37
1.1.3. Nhiệm vụ xây dựng một nền văn hóa dân tộc, độc lập, tự chủ của quốc gia Đại
Việt thế kỷ XIV - XV với việc hình thành tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông ....... 45
1.2. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA LÊ THÁNH TÔNG .............................................................................................. 50
1.2.1. Quan điểm chính trị - xã hội trong truyền thống của dân tộc Việt Nam với việc
hình thành tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông ...................................................... 51
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƢ
TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA LÊ THÁNH TÔNG ........................................... 144
3.1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU TRONG TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA LÊ
THÁNH TÔNG .................................................................................................. 144
3.1.1. Tính kế thừa và phát triển trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông ...........144
3.1.2. Tính thực tiễn sinh động trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông..............153
3.1.3. Tính dân tộc trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông ...................... 157
3.1.4. Tính nhân văn sâu sắc trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông......... 162
3.2. Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA LÊ
THÁNH TÔNG .............................................................................................. 167
3.2.1. Ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông ................... 167
3.2.2. Bài học lịch sử trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông đối với công
cuộc đổi mới đất nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. ......... 183
Kết luận chƣơng 3 ........................................................................................... 200
KẾT LUẬN CHUNG ..................................................................................... 202
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 206
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN ....................................................................................................... 213
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào cũng là một hệ thống có kết cấu ch t
ch giữa các yếu tố, các lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Một xã
hội phát triển bền vững là xã hội có sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố đó, trong đó
chính trị giữ một vai trò hết sức quan trọng. ởi là một trong những yếu tố quan
trọng của hình thái ý thức xã hội, sự ổn định và tiến bộ của chính trị, như thể chế
2
cố kết cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng tình nghĩa và là tinh thần “thà hy
sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” (Hồ
Chí Minh, 2011, tập 1, tr.534).
Kế thừa tinh thần trên, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước
ta luôn khẳng định vai trò và vị trí chính trị, đ c biệt là thể chế chính trị và hệ thống
chính trị. Điều đó đã được Đảng ta xác định rõ trong các nghị quyết của Đảng: “Nhà
nước ta là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân
dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996, tr.44). Trong hệ thống đó, Đảng Cộng sản
Việt Nam là hạt nhân và giữ vai trò lãnh đạo.
Trong sự nghiệp đổi mới cũng như trong quá trình hội nhập quốc tế do Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta khởi xướng, lãnh đạo và tiến hành c ng với nhiệm vụ phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013, tr.735), Đảng ta luôn quan tâm hàng
đầu đến nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, trong đó có nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Trong nhận thức, Đảng ta đã
kiên định mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính nhất nguyên chính
trị và chỉ do một Đảng Cộng sản lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên chính trị,
gây rối loạn xã hội. Tính nhất nguyên của hệ thống chính trị thể hiện ở chỗ, chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng chung của đường
lối và hệ thống chính trị của nước ta; và Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện cho lợi
ích chân chính của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Về quyền lực chính trị và cơ cấu
tổ chức trong hệ thống chính trị, Đảng ta đã khẳng định: “Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp nông dân và đội ngũ tri
thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013, tr.744). Chính vì thế, trong quá trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực.
Điều đó, không chỉ biểu hiện chúng ta đã “phát huy tính tốt hơn tính chủ động, sáng
và tự phê bình còn yếu. Đáng chú ý nhất là sự biểu hiện tình trạng một bộ phận
không nhỏ cán bộ đảng viên phai nhạt về lý tưởng cá nhân chủ nghĩa quan liêu, tham
ô, lãng phí làm tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm
xói mòn lòng tin của nhân dân, làm ảnh hưởng đến nền dân chủ nhân dân. Trong đó,
đáng lo ngại là:
“Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan
liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn ch n, đẩy lùi mà còn
tiếp tục diễn biến phức tạp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.173). “Tổ
chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ,
hệ thống tư pháp còn những điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả.
Chưa khắc phục được sự chồng ch o, vướng mắc về chức năng, nhiệm vụ
giữa các thiết chế, làm ảnh hưởng tới sự thống nhất quyền lực nhà nước và
hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều
nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, còn chồng
4
chéo; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 2016, tr.173).
Đ c biệt, trong thời đại ngày nay, tình hình thế giới và khu vực đang thay đổi
rất nhanh, phức tạp khó lường. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát
triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp chủ quyền biển,
đảo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, nạn khủng bố và cạnh tranh quyết liệt về lợi
ích kinh tế vẫn diễn ra gay gắt, “khu vực Đông Nam Á, là khu vực phát triển năng
động nhưng vẫn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2011, tr.28-29). Các yếu tố đe dọa an ninh, phi truyền thống tiếp tục gia tăng, vấn đề
tăng cường ổn định chính trị, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia để phát triển kinh
tế, văn hóa là những nhiệm vụ quan trọng và then chốt của Đảng, Nhà nước và nhân
của Lê Thánh Tông và ý nghĩa lịch sử của nó” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Với nội dung phong phú, đ c điểm và giá trị đ c sắc, tư tưởng chính trị của
Lê Thánh Tông đã và đang thu hút sự quan tâm đông đảo của các nhà khoa học
nghiên cứu ở nhiều m t, qua các chủ đề phong phú và sâu sắc khác nhau. Có thể
khái quát, các công trình nghiên cứu, đánh giá về giá trị tư tưởng chính trị của ông
được tập trung theo các hướng chính sau:
Hướng thứ nhất, đó là những công trình nghiên cứu về điều kiện lịch sử,
xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV và cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Lê Thánh
Tông ảnh hưởng đến quá trình hình thành tưởng chính trị của ông.
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng của Lê Thánh Tông nói chung và tư tưởng
chính trị của ông nói riêng, chính là sự bắt nguồn và phản ánh khá chân thực điều
kiện lịch sử - xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV cũng như cuộc đời và sự nghiệp của
Lê Thánh Tông. Vì thế, đã có nhiều công trình, tác phẩm quan tâm nghiên cứu về
thời đại, cuộc đời, sự nghiệp của ông. Trước hết, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu
này, đó là công trình Đại Việt sử ký toàn thư, (4 tập), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
1998, là một bộ sử có giá trị về nhiều m t, đ c biệt là giá trị về lịch sử và lịch sử tư
tưởng chính trị Việt Nam; một di sản quý báu của nền văn hoá dân tộc Đại Việt. Đây
là một công trình đồ sộ được biên soạn bởi nhiều nhà sử học từ Lê Văn Hưu đời
Trần (thế kỷ XIII), qua Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê Sơ (thế kỷ
XV), và Phạm Công Trứ, Lê Hy đời Lê Trung Hưng, c ng những người cộng sự với
họ (thế kỷ XVII). Theo bản in từ ván khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697) mang danh
hiệu bản in Nội các quan bản, bộ sử này gồm quyển thủ và 24 quyển biên chép một
cách hệ thống, chi tiết, tỉ mỉ các sự kiện, nhân vật lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng
đến năm 1675. D với tư cách là sử ký nhưng trong đó chúng ta cũng thấy rất rõ
những vấn đề về tư tưởng, triết học, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, quân
sự được đề cập đến trong tác phẩm lớn này. Liên quan trực tiếp đến chủ đề này có
tập II, trong đó có quyển X thời kỳ Thái Tổ Cao Hoàng đế; quyển XI thời Thái Tông
Văn Hoàng đế - Nhân Tông Tuyên Hoàng Đế; quyển XII thời Thánh Tông Thuần
Hoàng đế (thượng). Nội dung 3 quyển này được ghi chép công phu về những diễn
Nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và ảnh hưởng của Lê Thánh Tông còn có
Lê Thánh Tông vị vua anh minh nhà canh tân xuất sắc, do Lê Đức Tiết, Nxb. Quân
đội Nhân dân, Hà Nội, 1997. Tác giả đã giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của Lê
Thánh Tông và có những đánh giá sâu sắc về ông với những đóng góp to lớn trong
lịch sử dân tộc. Trên cơ sở đó, đã thúc đẩy phát triển xã hội, đem lại cuộc sống ấm
no, hạnh phúc cho nhân dân. Cũng trong chủ đề này về Lê Thánh Tông, còn có tác
phẩm Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh
Mệnh, do Nguyễn Hoài Văn (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Tác
giả đã đi sâu phân tích những đóng góp của ông trong việc vận dụng, phát triển Nho
7
giáo thành hệ tư tưởng chính trị chính thống, sử dụng nó trong việc cai trị đất nước,
đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước cuối thế kỷ XV.
Liên quan đến chủ đề này còn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác
như: Lịch sử Việt Nam, do Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam biên soạn, tập 1,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976; Lịch sử triết học phương Đông, do Doãn
Chính (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012; Đại cương lịch sử Việt
Nam, tập 2, do Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nxb. Giáo dục;
Các công trình
nghiên cứu trên đã trình bày, phân tích khái quát và sâu sắc điều kiện kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội Đại Việt thế kỷ XIV - XV gắn liền với những yếu tố tích
cực và hạn chế đan xen đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời và phát triển tư tưởng
chính trị của Lê Thánh Tông.
Ngoài ra, nghiên cứu về chủ đề này còn có các bài viết Kinh nghiệm sử dụng
người tài, xây dựng đội ngũ quan lại thời Lê Thánh Tông, Tạp chí Lý luận chính trị,
số 5/2013, tr.42 - 48; Cải cách hành chính ở cấp xã dưới thời vua Lê Thánh Tông,
Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 10/2013, tr.43 - 46. Tác giả đã đánh giá những cải
cách hành chính của Lê Thánh Tông có vai trò quan trọng trong việc đem lại sự ổn
định trật tự cho bộ máy chính quyền địa phương. Việc thực hiện cải cách của ông,
Thành Khôi, 2014, tr.262).
Như vậy, những công trình nghiên cứu về chủ đề thứ nhất đã trình bày, phân
tích tương đối toàn diện và khái quát về bối cảnh lịch sử - xã hội cũng như cuộc đời,
sự nghiệp của Lê Thánh Tông, giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn cơ sở xã hội và
tiền đề hiện thực, khách quan hình thành nên những giá trị trong tư tưởng chính trị
của ông.
Hướng nghiên cứu thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu nội dung tư
tưởng của Lê Thánh Tông qua quá trình hình thành, nội dung và đặc điểm chủ
yếu trong tư tưởng của Lê Thánh Tông nói chung và tư tưởng chính trị của ông
nói riêng.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, trước hết đó là Công trình Lịch sử tư
tưởng Việt Nam (7 tập), do Nguyễn Đăng Thục (chủ biên), Nxb. Thành phố Hồ Chí
Minh, 1991. Trong đó, tập I với tiêu đề Tư tưởng bình dân Việt Nam được kết cấu
thành ba nội dung chính: một là, ý thức thần thoại và triết học; hai là, hai nguồn gốc
tư tưởng Việt Nam, qua nguồn gốc văn minh Đông Sơn với trống đồng và nguồn
gốc văn minh Lạch Trường với nhà mồ Thiên Động. Từ sự phân tích hai nguồn gốc
đó công trình đã nêu bật hai “khuynh hướng tư tưởng chính yếu của dân tộc, khuynh
hướng hiện thực và khuynh hướng siêu nhiên” (Nguyễn Đăng Thục, 1991, tr.108); và
ba là, nội dung tư tưởng bình dân qua những m t cơ bản như: trạng thái sống tình
cảm nông dân, quan niệm vai trò lãnh đạo ở xã hội nông nghiệp xưa, Phật giáo bình
dân Việt Nam. Tập II với nhan đề Thời Bắc thuộc và thời Đinh, Lê (từ thế kỷ thứ II
trước công nguyên đến thế kỷ X), ngoài lời giới thiệu, nội dung của tập này được kết
cấu thành 9 mục với 419 trang, tác giả đã đi sâu phân tích về những nội dung như:
một là, về bối cảnh văn hóa Việt Nam trước thời Tần Hán; hai là, học thuật tư tưởng
Việt Nam thời Tần Hán; ba là, Sĩ Nhiếp “Nam giao học tổ”; bốn là, ảnh hưởng Ấn
9
Độ với Phật học Giao Chỉ; năm là, học thuật và tư tưởng Việt Nam thời Đường; sáu
là, thiền học Việt Nam thời T y Đường; bảy là, thiền học Việt Nam sản phẩm văn
dân làm gốc của đất nước”; giải quyết các mối quan hệ đẳng cấp xã hội. Đ c biệt
trong Tập VI công trình đã trình bày khái quát tư tưởng chính trị “nhân nghĩa” của
10
Nguyễn Trãi. “Nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi không chỉ là nguồn gốc sức mạnh của
chính nghĩa mà còn trở thành đường lối chính trị cứu nước cứu dân. Nguyễn Trãi gắn
“nhân nghĩa” với “an dân”, “việc nhân nghĩa cốt ở an dân”. Nhân nghĩa là chăm lo
cho dân, đòi hỏi người làm quan ăn lộc vua phải có trách nhiệm với dân, phải gắn bó
làm một với dân, thương yêu dân, biết “lo trước vui sau”. Qua đó, cho chúng ta thấy
trong tư tưởng cũng như hoạt động chính trị thực tiễn của Nguyễn Trãi đã góp phần
không nhỏ đến tư tưởng chăm dân trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông. Tuy
nhiên, nhược điểm của công trình này là các trích dẫn mà tác giả sử dụng trong đó
không ghi xuất xứ, nguồn gốc, nên không thể hiện tính khoa học, xác thực.
Tiếp đến, đó là cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam do Nguyễn Tài Thư (chủ
biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Công trình này đã được tập thể tác giả
kết cấu thành 7 phần, 23 chương. Trong đó, phần thứ ba với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ
phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV), các tác giả đã đi
vào trình bày, phân tích những bước phát triển mới trên các m t như tư tưởng chính
trị - xã hội (trong Chương VIII, Sự phát triển của tư tưởng chính trị - xã hội), hay tư
tưởng Nho gia, và sự phê phán Phật giáo ở cuối thế kỷ XIV (trong chương XI). Từ
sự phân tích khá sâu sắc về lịch sử tư tưởng từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV, nhóm
tác giả đi đến nhận định:
“Thực sự là một thời kỳ mà các khuynh hướng tư tưởng ở Việt Nam phát
triển một cách sôi nổi đầy sinh và hào khí của một dân tộc đã giành được độc
lập tự chủ. Những thành tựu về m t nhận thức tư tưởng của dân tộc ta lúc này
gắn liền với những thắng lợi huy hoàng của công cuộc dựng nước, giữ nước
và thực hiện thống nhất nước nhà. Chính những nhu cầu của công cuộc dựng
nước và giữ nước đó đã quy định nội dung và xu thế phát triển lịch sử tư
tưởng Việt Nam đương thời. Những bước phát triển về kinh tế, chính trị, văn
nước Việt Nam từ thế kỷ X đến XIV. Đ c biệt, chương 6 với tiêu đề Tư tưởng triết
học Việt Nam từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ 1858. Trong đó, có phần thứ nhất, “Thế
giới quan”; phần thứ hai, “Chính trị quan”; phần thứ ba, “Hạn chế về nhận thức”.
Tác giả trình bày, phân tích khá toàn diện và sâu sắc về những vấn đề triết học chính
trị trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông trong dòng chảy lịch sử tư tưởng Việt
Nam. Trong nội dung phong phú đó, tác giả chỉ ra dưới ánh sáng tư tưởng triết học
chính trị của ông cha gắn với hoạt động thực tiễn, tư tưởng chính trị của Lê Thánh
Tông được định hình và phát triển.
Trong công trình này tác giả còn nhận xét, đánh giá một cách khách quan
những giá trị và hạn chế trong tư tưởng của Lê Thánh Tông nói chung và tư tưởng
chính trị của ông nói riêng. Về giá trị: “đường lối này đã đáp ứng được yêu cầu của xã
hội lúc bấy giờ, chính vì vậy nó đã làm cho đất nước phát triển khá rực rỡ” (Nguyễn
Hùng Hậu, Doãn Chính và Vũ Văn Gầu, 2002, tr.184), “mô hình mà ông xây dựng là
đất nước hòa bình, dân ấm no, lễ giáo phát triển, quyền thống trị vững chắc thuộc nhà
Lê, và thực tế ông đã làm được” (Nguyễn Hùng Hậu, 2002, tr.183); Bên cạnh đó, tư
tưởng chính trị của Lê Thánh Tông vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định đó là: “Từ
chủ nghĩa chủ quan dẫn đến tự kiêu, tự phụ, tự mãn xem cái bản ngã của mình quá
12
lớn, đâu đâu cũng thấy mình là trung tâm, công lao thuộc về mình mà không thấy ra
vai trò của quần chúng nhân dân” (Nguyễn Hùng Hậu, 2002, tr.184).
Cùng với hướng nghiên cứu này còn có công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam
cổ trung đại do Huỳnh Công Bá (chủ biên), Nxb.Thuận Hóa, Huế, 2011, tác phẩm
ngoài lời nói đầu, dẫn luận, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, mục lục, nội dung
tác phẩm được phân thành XIII chương. Trong đó, liên quan trực tiếp chủ đề này có
Chương VI với tiêu đề Nước Đại Việt cường thịnh dưới thời Lê sơ, ở mục II, tác giả
đã khái quát những nội dung cơ bản về hoạt động của bộ máy chính trị giai đoạn
này như: triều Lê thành lập và định đô ở Đông Kinh; tổ chức bộ máy nhà nước
trung ương; tổ chức hành chính địa phương; tổ chức quốc phòng và quân đội; củng
trang 518, tác giả đã khái quát nội dung tư tưởng triết học thời kỳ Lê sơ nói chung và
đ c biệt tư tưởng “thân dân, lấy dân làm gốc”, “trọng dân” trong tư tưởng chính trị
của Lê Thánh Tông nói riêng. Trên cơ sở đó giúp cho tác giả luận án rút ra được
những giá trị, hạn chế trong tư tưởng chính trị của ông. Qua toàn bộ nội dung công
trình cho chúng ta thấy tác giả đã thể hiện sự nghiêm túc, công phu trong nghiên cứu.
Cùng với hướng nghiên cứu trên, phải kể đến Thơ văn Lê Thánh Tông, do
Mai Xuân Hải (chủ biên), Nxb. Văn học, 1986; Lê Thánh Tông, do Nguyễn Tà Nhi
(chủ biên), Nxb. Văn hoá dân tộc, 1998; Chân dung văn hoá Việt Nam, tập 2, do Tạ
Ngọc Liễn (chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội Hà Nội, 1999; Văn học Việt Nam thế kỷ
X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, do Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương
(chủ biên), Nxb. Giáo dục, 2000; Sự nghiệp Lê Thánh Tông và Lê tộc ở Quảng Nam
- Đà Nẵng, do Phạm Ngô Minh - Lê Duy Anh (chủ biên), Nxb. Đà Nẵng, 1999;
Mười vị hoàng đế Việt Nam tiêu biểu, do Đ ng Việt Thủy (chủ biên), Nxb. Quân đội
nhân dân, 2011;... Trong các công trình trên phải kể đến các tác phẩm lớn như Mai
Xuân Hải: Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông (tổng tập), Nxb. Văn học, Hà Nội, 2003.
Đây là những công trình khoa học công phu, đồ sộ, cung cấp cho người đọc một
cách khá đầy đủ và đáng tin cậy nhất về nhiều góc độ khác nhau trong tư tưởng Lê
Thánh Tông. Đ c biệt là các văn bản gốc về thơ, văn của ông và tư tưởng chính trị
của ông được cụ thể hóa trong các bài thơ này. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở
góc độ phiên âm, dịch nghĩa các bài thơ nguyên bản của Lê Thánh Tông, còn phân
tích nội dung tư tưởng nói chung và tư tưởng chính trị của ông nói riêng trong các
bài thơ đó dường như chưa được đề cập đến ho c nếu có cũng chỉ mang tính khái
quát. Công trình này bao gồm 7 nội dung với tổng cộng 895 trang, tác giả đã tổng
hợp được nhiều lời bình luận, nhận xét sâu sắc của các nhà sử học uy tín về Lê
Thánh Tông - Ngô Sĩ Liêm nhận x t: “nhà vua thực là bậc h ng tài đại lược, d Vũ
Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không hơn được” - Nhà bác học Phan Huy
Chú đánh giá: “về trị nước thì vua tôn trọng Nho thuật, cất nhắc anh tài, sáng lập chế
độ, mở mang bờ c i, văn v tài lược hơn cả các đời”. Ông đích thực là vị “An Nam
chân chúa” như sách Lê kỷ tục biên ca ngợi.
Như vậy, các công trình tiêu biểu trên, các tác giả phân tích khá kỹ các
giả đã bàn về thể chế chính trị và tổ chức quân sự bảo vệ tổ quốc thời Lê sơ nói
chung và nội dung tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông nói riêng. Trên cơ sở đó,
giúp cho tác giả luận án nắm được một số nội dung cơ bản như: Tư tưởng xây dựng
với bảo vệ tổ quốc; Tư tưởng xây dựng quân đội tập trung thống nhất, vững mạnh
để giữ nước; Tư tưởng đối ngoại khôn khéo để giữ vững độc lập dân tộc và chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đây thực sự là những nhân tố rất quan trọng giúp
tác giả luận án lý giải được phần nào về sự vững mạnh giai đoạn trị vì của Lê Thánh
Tông. Qua đó, làm cơ sở để tác giả luận án đánh giá một cách khách quan trong tư
tưởng chính trị của ông. Tuy nhiên, với khuôn khổ của một chương, tác giả chưa có
điều kiện phân tích sâu về tư tưởng chính trị của ông.
15
Liên quan đến công trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá về tư tưởng của
Lê Thánh Tông, đ c biệt là những công trình đánh giá về giá trị, hạn chế và ý
nghĩa lịch sử trong tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông còn có “Chính sách đào
tạo sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông và công tác cán bộ hiện nay” do Nguyễn
Hoài Văn - Đ ng Duy Thìn (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội,
2012. Các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống những chính sách, biện pháp
thực hiện và kết quả đạt được trong việc đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh
Tông, từ đó rút ra ý nghĩa thực tiễn với công tác cán bộ hiện nay ở Việt Nam. Qua
đó, các tác giả đánh giá về các chính sách đào tạo và sử dụng quan lại của Lê
Thánh Tông “đã trở thành khuôn ph p, xem như mẫu mực cho việc tổ chức và xây
dựng bộ máy nhà nước vững mạnh” (Nguyễn Hoài Văn và Đ ng Duy Thìn, 2012,
tr.5); “Dưới thời Lê Thánh Tông chế độ quan lại được phát triển đến đỉnh cao bằng
hệ thống luật pháp, được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc trong phạm vi toàn
quốc” (Nguyễn Hoài Văn, 2012, tr.128).
Tiếp đến, đó là cuốn Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ Lê Nguyễn, Lê Văn Quán, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2013. Đây là công
trình khảo cứu công phu, nghiêm túc, cung cấp cho tác giả nghiên cứu nguồn tài liệu
phong phú, đáng tin cậy và có ý nghĩa kiến luật giải, đánh giá sâu sắc qua từng triều
dục quốc gia giáo dục Sài Gòn, 1963; Bộ luật Hồng Đức di sản văn hoá pháp lý đặc
sắc của Việt Nam, do Lê Đức Tiết (chủ biên), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010; Sự phát
triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, do Trần Văn
Giàu (chủ biên), Nxb. Khoa học Xã hội; Lịch sử tư tưởng chính trị, do Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, Nxb. Chính trị Quốc gia; Quốc hiệu Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử, do Cao Văn Liên (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2012; Lê Thánh Tông với việc chấn hưng đất nước, do Chính Đức, báo sự
kiện và nhân chứng số 80, năm 2000.
Trong đó khi khẳng định về tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông, cuốn sách
Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, do Doãn Chính (Chủ biên), Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011. Đây là một trong những tài liệu quý giá, làm căn
cứ cho tác giả luận án tìm hiểu về tư tưởng chính trị Đại Việt nói chung và văn hóa
luật pháp của ông nói riêng. Trong đó khi khẳng định về tư tưởng chính trị của Lê
Thánh Tông, cuốn sách có viết trong “Quân đạo thi” rằng:
“Đạo làm vua rất lớn, phải nghiên cứu rất tinh tường, dưới thì thương yêu dân
chúng, trên thì kính trời. Trị dân, giữ nước, phải suy nghĩ các kinh nghiệm
trước, giữ lòng trong sạch, ít ham muốn, bỏ trò vui chơi. Tìm người hiền tài,
phát huy văn chương, đức độ, chăm lo v bị, tôn trọng các tướng súy. Đuốc
sáng soi nơi nơi, biết tình cảnh dân rét hay ấm, miền xuôi, miền ngược, đều
vui hưởng thái bình” (Doãn Chính, 2011, tr.172-173).
Song song với công trình nghiên cứu trên là cuốn Lê triều Hình luật (Luật
Hồng Đức), do Nguyễn Quang Thắng (dịch), Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội,
1998. Công trình này đã cho người đọc thấy được tổng quan toàn bộ nội dung Bộ
luật Hồng Đức với 722 điều. Đây là công trình trọng tâm, là tài liệu chuẩn mực
17
giúp cho tác giả tra cứu, làm cơ sở để tác giả luận án làm r tư tưởng quản lý xã
hội bằng pháp luật của Lê Thánh Tông; thứ đến là cuốn: Một số văn bản điển chế
và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến XVIII, tập 1, do Nguyễn Ngọc Nhuận
những tham luận nêu lên những giá trị trong tư tưởng của Lê Thánh Tông với
những vấn đề thời sự trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay là: “Quy định về
18
tội phạm và hình phạt trong Quốc triều hình luật từ góc nhìn đương đại” của nhà
khoa học Nguyễn Sơn, phó Chánh án tòa án nhân dân tối cao. Bộ luật Hồng Đức
được xây dựng với kỹ thuật lập pháp khá cao, về cơ cấu có các điều các chương
và giữa chúng đã có sự hài hòa, thống nhất nhất định. Các điều luật trong bộ luật
này được xây dựng bằng cách mô tả các hành vi cụ thể và tương ứng với nó là các
hình phạt, ngoài ra trong vấn đề phân loại tội phạm đã có sự cụ thể hóa trách
nhiệm hình sự của cá nhân người phạm tội.
Còn trong chủ đề “Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng của Vua Lê Thánh
Tông và những bài học đối với công tác giáo dục, đào tạo trong giai đoạn hiện
nay”, nhà giáo ưu tú Nguyễn Mạnh An, nhấn mạnh về Tư tưởng đào tạo bồi
dưỡng hiền tài của Lê Thánh Tông”; ông khẳng định Lê Thánh Tông là vị vua rất
coi trọng giáo dục, coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, xây dựng thành công
một xã hội học tập. Đây là chìa khóa đưa đất nước vươn tới giàu mạnh. Đây là bài
học lịch sử quý báu với chúng ta hiện nay, phải thực sự coi hiền tài là nguyên khí
quốc gia, có cơ chế chính sách đồng bộ trong đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiền
tài đồng thời nâng cao chất lượng, khắc phục những hạn chế của giáo dục đào tạo
và tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, gìn giữ phát huy nền văn hóa dân tộc. Phát
biểu bế mạc hội thảo học giả Lê Thành Long - Ủy viên
ương Đảng,
ộ trưởng
an chấp hành Trung
ộ Tư pháp đánh giá chung về những giá trị trong tư
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích: Mục đích của luận án là trên cơ sở trình bày nội dung cơ bản tư
tưởng chính trị của Lê Thánh Tông, luận án nhằm phân tích, đánh giá, nêu lên
những đặc điểm và ý nghĩa trong tư tưởng chính trị của ông; từ đó rút ra bài học lịch
sử của nó đối với việc xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ
sau: Thứ nhất, trình bày, phân tích điều kiện lịch sử - xã hội Đại Việt thế kỷ XIV XV và tiền đề lý luận cho việc hình thành tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông.
Thứ hai, trình bày, phân tích nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Lê
Thánh Tông. Thứ ba, trình bày, lý giải làm rõ những đ c điểm, ý nghĩa và bài học
lịch sử tư tưởng chính trị của ông đối với sự nghiệp xây dựng hệ thống chính trị ở
Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án không nghiên cứu tư tưởng của Lê Thánh Tông nói chung, mà chỉ
tập trung nghiên cứu, làm rõ những nội dung, đ c điểm và ý nghĩa lịch sử trong
tưởng chính trị của ông qua các tác phẩm lớn như: Quốc triều hình luật, Châu cơ
thắng thưởng thi tập, Chinh tây kỷ hành,...
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài đ t ra, luận án
dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án được nghiên cứu và trình bày trên cở sở
sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Thống nhất giữa lôgích
và lịch sử, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh; cùng với các phương pháp
tiếp cận hệ thống - liên ngành và phương pháp văn bản học Luận án được tiếp
cận dưới góc độ triết học chính trị và chính trị học.