Luận văn ThS . Tư tưởng chính trị của John Stuart Mill - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG
TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA
JOHN STUART MILL
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



Nguyễn Thị Tuyết Nhung Nguyễn LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn -
Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy, cô giáo đã nhiệt tình cung cấp cho tôi những
kiến thức khoa học, đặc biệt là TS. Đoàn Trường Thụ người hướng dẫn khoa
học, trực tiếp giúp đỡ tôi rất nhiều để có kết quả nghiên cứu này.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của Đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài 3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 8
7. Kết cấu của luận văn 8
Chƣơng 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 9
TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA J. S. MILL 9
1.1. Tiền đề lịch sử và lý luận 9


3.2. Bài học tham khảo đối với Việt Nam 93
3.2.1. Bài học về đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị 93

3.2.2. Bài học về bảo đảm tự do cá nhân và quyền bình đẳng cho phụ nữ 96

KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Lịch sử tư tưởng chính trị Châu Âu thời kỳ cận - hiện đại là lịch sử của
những dòng tư tưởng vì tự do của con người, vì một xã hội dân chủ với sự
tham gia tối đa của công dân vào các quyết định chung. Những dòng tư tưởng
này đã được áp dụng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình
hình thành hệ thống chính trị của nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, với
sự phát triển của kinh tế thị trường, quan hệ đối ngoại thời mở cửa, các dòng
tư tưởng này cũng đã có điều kiện thâm nhập và đóng góp những bài học kinh
nghiệm lớn vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Ngày nay, sự nghiệp Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo đã thu được nhiều thành tựu tốt đẹp, tạo đà cho giai đoạn tiếp
theo của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện thắng
lợi mục tiêu đặt ra khi kết thúc thời kỳ quá độ là "xây dựng được về cơ bản
nền tảng kinh tế của Chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị,
tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội
chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc" [4, tr. 71] thì bên cạnh nhiệm vụ
phát triển kinh tế, chúng ta còn phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các
lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ

quyền tự do, dân chủ cho phụ nữ và tầng lớp lao động ở nước Anh đầu thế kỷ
XIX cũng như để lại nhiều bài học to lớn đối với các quá trình thực hiện quản
lý xã hội của các nhà nước dân chủ.
Đối với Việt Nam, do đặc trưng của xã hội phương Đông và sự ảnh
hưởng mạnh mẽ của Nho giáo, việc tiếp cận tinh hoa tư tưởng chính trị
3

phương Tây gặp không ít khó khăn. Về tổng quan, có thể nói rằng, các học
thuyết tư tưởng của phương Tây từ thời Cổ đại đến Khai sáng và Cận đại vẫn
chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Khoảng trống học thuật này là
một trong những bất lợi lớn với một đất nước đang trên đà xây dựng nền kinh
tế tri thức và mở rộng quan hệ quốc tế với các nước phát triển. Do đó, việc
nghiên cứu tưởng chính trị của J. S. Mill là điều cấp thiết, góp phần bù đắp
khoảng trống tri thức về lịch sử tư tưởng chính trị và gợi mở những giá trị
tham khảo cho việc xây dựng và củng cổ thể chế chính trị Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài
J. S. Mill là một nhà tư tưởng mà tác phẩm của ông trải rộng trên nhiều
lĩnh vực như chính trị học, kinh tế học, logic học, đạo đức học,…Tuy nhiên,
trước chiến tranh thế giới thứ II, công cuộc nghiên cứu về Mill chưa đánh giá
hết tầm quan trọng của ông. Sau khi thế chiến II kết thúc, các vấn đề về tự do,
dân chủ, xây dựng chính thể, phục hưng kinh tế,… của các quốc gia được đặt
ra cấp thiết thì công cuộc nghiên cứu về ông mới được triển khai rộng rãi.
Ở Việt Nam, trong số các tác phẩm của J. S. Mill, mới chỉ có hai tác
phẩm được dịch ra tiếng Việt đó là Bàn về tự do (Nguyễn Văn Trọng dịch,
Nhà xuất bản Tri thức ấn hành) và Chính thể đại diện (Nguyễn Văn Trọng và
Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích, Nhà xuất bản Tri thức ấn
hành). Đây là hai tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp nghiên cứu đồ sộ của J.
S. Mill. Các bản dịch của hai dịch giả Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam
Sơn cũng là những bản dịch công phu, tỉ mỉ, có lời giới thiệu của người dịch
phân tích đánh giá khái quát toàn bộ nội dung.

sắp xếp các vấn đề của Triết học theo các luận đề như Triết học về tôn giáo,
Triết học về tri thức, đạo đức học, Triết học chính trị. Tư tưởng của J. S. Mill
5

được bàn đến ở cả hai luận đề về Đạo đức học và Triết học chính trị, tuy nhiên,
sự phân tích của tác giả chưa được sâu sắc.
"Tuyển Tập Danh Tác Triết Học Từ Plato Đến Derrida" (Forrest
E.Baird, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn
Hy dịch) là công trình nghiên cứu về triết học theo sự phân kỳ lịch sử, mỗi
giai đoạn gắn liền với một số tác gia tiêu biểu. J. S. Mill được đề cập ở phần
V - Triết học thế kỷ XIX. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ tiếp cận tư tưởng của J.
S. Mill dưới góc độ một nhà đạo đức học Công lợi, chưa đề cập đến tư tưởng
chính trị của J. S. Mill.
"Lịch sử triết học và các luận đề" (Samuel Enoch Stumf, Nxb Lao động,
Hà Nội 2004, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy dịch) cùng là một công trình
nghiên cứu chuyên sâu về Triết học. Các tác giả đã dành một phần không nhỏ
để nghiên cứu về thuyết Công lợi của J. S. Mill. Cùng với việc tóm lược tiểu sử
J. S. Mill, quan niệm của ông về tự do cũng được nêu lên một cách ngắn gọn.
Cũng đề cập đến J. S. Mill trên phương diện nhà tư tưởng của thuyết
Công lợi, "Câu chuyện triết học" (Bryan Magee, Nxb Thống kê, 2003, Huỳnh
Phan Anh và Mai Sơn dịch) trình bày khái quát về tư tưởng của J. S. Mill
trong dòng chảy của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại.
"Đạo Đức trong kinh tế" (Francisco Vergar, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2011,
Nguyễn Đôn Phước dịch) là một tác phẩm nghiên cứu các trường phái lớn của
chủ nghĩa Tự do từ nửa sau thế kỉ XVIII gồm: Chủ nghĩa tự do công lợi,
pháp quyền tự nhiên, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tự do cực đoan. Trong tác
phẩm này, tư tưởng của J. S. Mill được nghiên cứu ở khía cạnh chủ nghĩa tự
do công lợi.
Về tài liệu tiếng nước ngoài, "John Stuart Mill - a biography" (Nicholas
Capaldi, Cambridge university Press, 2004) là công trình nghiên cứu về cuộc

7

Trong công trình này, tác giả nghiên cứu về J. S. Mill theo từng luận điểm:
tuổi thơ, nền giáo dục sớm, kinh tế chính trị học. J. S. Mill được đánh giá như
một nhân vật quan trọng của lịch sử tư tưởng thế kỷ XIX, một nhà tư tưởng
tiêu biểu của thời đại.
Như vậy, tư tưởng chính trị của J. S. Mill là một đề tài chưa được nghiên
cứu nhiều ở Việt Nam. Một số tài liệu có nghiên cứu về tư tưởng của ông nhưng
chỉ đề cập một cách khái quát hoặc chú trọng vào các khía cạnh khác như đạo
đức, kinh tế, triết học,…rất ít tài liệu bàn về tư tưởng chính trị của ông.
Chính trị học với tư cách là một khoa học độc lập mới chỉ xuất hiện ở
Việt Nam từ đầu những năm 1990. Việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng nói
chung dưới góc độ chính trị học vẫn còn là lĩnh vực cần được quan tâm. Xét
riêng về J. S. Mill, có thể nói rằng Luận văn là nỗ lực đầu tiên trong việc
nghiên cứu tư tưởng chính trị của J. S. Mill một cách có hệ thống. Do vậy,
quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn không tránh khỏi những thiếu sót
và còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu, bổ sung.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
- Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn:
Làm rõ các vấn đề trong nội dung tư tưởng chính trị của J. S. Mill từ đó
rút ra một số giá trị có thể tham khảo đối với công cuộc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn:
+ Nghiên cứu quá trình hình thành tư tưởng chính trị của J. S. Mill.
+ Trình bày, phân tích nội dung tư tưởng chính trị của J. S. Mill.
+ Nhận xét, đánh giá những giá trị hạn chế trong tư tưởng chính trị của J.
S. Mill và rút ra bài học tham khảo đối với Việt Nam.
8

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.1.1. Tiền đề lịch sử
1.1.1.1. Tình hình Châu Âu thế kỉ XIX
Các cuộc phát kiến địa lý từ thế kỷ XV đã mở rộng thị trường tư bản, tạo
đà cho sự lớn mạnh của giai cấp tư sản. Sự phát triển của thị trường trên quy
mô toàn thế giới đã tác động tới sự phát triển của nhiều quốc gia, trước hết là
các nước bên bờ Đại Tây Dương. Sự thay đổi về mặt chế độ xã hội sẽ diễn ra
là điều tất yếu. Giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh về kinh tế nhưng chưa có
địa vị chính trị tương xứng, chế độ chính trị đương thời ngày càng cản trở sự
phát triển của kinh tế. Thế kỉ XVI-XVIII nhiều cuộc cách mạng tư sản ở Tây
Âu và Bắc Mỹ đã lần lượt nổ ra và giành thắng lợi như: Cách mạng tư sản Hà
Lan (1566-1572), Cách mạng tư sản Anh (1640-1689), Chiến tranh giành độc
lập ở Bắc Mỹ (1775-1783), Cách mạng tư sản Pháp (1789-1799),
Các cuộc biến động xã hội đó tuy diễn ra ở các quốc gia riêng lẻ trong
nhiều thế kỷ nhưng đều có chung mục đích là lật đổ chế độ phong kiến lạc
hậu đang là lực cản của sự tiến bộ, tạo điều kiện cho kinh tế tư bản phát triển.
Với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản và sự ra đời của các quốc gia tư
sản, công nghiệp thương nghiệp đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Đến thế
kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với những phát minh vĩ đại
đã đánh dấu một giai đoạn văn minh mới của châu Âu và nhân loại.
Do những đòi hỏi của cuộc sống, của sản xuất nhằm đáp ứng như cầu vật
chất và tinh thần ngày càng cao của con người, một loạt các phát minh khoa học
đã ra đời ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, tạo nên cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất. Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng này là sự thay thế nền
sản xuất giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay bằng công nghiệp và
10

chế tạo máy móc quy mô lớn. Cuộc cách mạng bắt đầu với sự phát triển sản xuất
hàng hóa của ngành công nghiệp dệt. Sau đó, với nhu cầu cung cấp máy móc và
năng lượng của công nghiệp dệt, các kỹ thuật gia công sắt thép được cải thiện và
than đá sử dụng với khối lượng lớn. Thương mại mở rộng tạo điều kiện cho sự ra

thể này cũng như các vấn đề mới phát sinh xung quanh nó để tìm ra một phương
thức hoạt động hiệu quả nhất, đem lại lợi ích tối đa cho số đông.
1.1.1.2. Tình hình nước Anh thế kỷ XIX
Nửa cuối thế kỉ XVIII, cách mạng công nghiệp nổ ra ở Anh sau đó lan ra
toàn thế giới. Đầu thế kỉ XIX, trong khi cuộc cách mạng công nghiệp ở các
nước khác mới chỉ bắt đầu hoặc đang tiến hành thì ở Anh đã hoàn thành về
căn bản. Anh trở thành một nước công nghiệp thực thụ. Nếp sống chậm rãi
với những lễ nghi rườm rà của quý tộc phong kiến được thay thế bằng đời
sống công nghiệp bận rộn. Những năm 50-60 của thế kỷ XIX, công nghiệp
Anh phát triển mạnh, đứng hàng đầu trên thế giới.
Anh chiếm độc quyền về các ngành công nghiệp nặng, có thị trường tiêu
thụ hàng hóa rộng lớn, thu nhiều lợi nhuận. Do sự phát triển nhanh chóng về
công nghiệp mà quy mô các xí nghiệp cũng thay đổi. Những nhà máy sử dụng
hàng ngàn công nhân trở nên khá phổ biến, có những xí nghiệp còn lên tới
hàng vạn người. Nhiều thành phố, bến tàu, cửa biển trở nên sầm uất. Tốc độ
đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Về thương nghiệp, năm 1846, chính sách tự
do buôn bán được tiến hành mạnh mẽ qua việc xóa bỏ phần lớn các thứ thuế
nhập khẩu làm cho giá nguyên liệu và lúa mì hạ xuống, hàng hóa sản xuất ra
đều hạ giá thành. Năm 1849, đạo luật Hàng hải được hủy bỏ sau gần hai thế
kỷ tồn tại. Tàu bè của Anh được tự do đi lại buôn bán. Trong những năm 40-
60 của thế kỷ XIX, chính phủ Anh tiếp tục giảm thuế đối với những mặt hàng
xuất nhập khẩu và ký kết những hiệp nghị hạ thuế quan với các nước khác,
12

đưa tổng sản lượng xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng. Sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế Anh trong thế kỷ XIX đã đưa nước Anh bước vào thời đại
phồn vinh. Nước Anh được mệnh danh là "công xưởng thế giới" và giữ vị trí
bá quyền trên mặt biển [nguồn: 21, tr. 230].
Sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa đòi hỏi
nguyên liệu và thị trường. Vấn đề thuộc địa trở nên vô cùng cấp thiết. Ireland

một người thợ thủ công đứng đầu. Tháng 5 năm 1838, Ban lãnh đạo Hội đã
gửi tới nghị viện Anh bản Hiến chương nhân dân, gồm 6 điểm: Quyền phổ
thông đầu phiếu cho nam giới đủ 21 tuổi, bỏ phiếu kín, các khu vực bầu cử
ngang nhau, bãi bỏ chế độ phải đưa tài sản ra để đảm bảo tư cách bầu cử đối
với mỗi ứng cử viên ứng cử nghị sĩ, tiền lương của nghị sĩ, hàng năm bầu cử
nghị viện. Từ năm 1836-1858, ba cao trào Hiến chương đã diễn ra với các
cuộc mittinh, biểu tình, bãi công rầm rộ trong toàn quốc. Các cuộc đấu tranh
này đều bị đàn áp và không đạt được mục đích cuối cùng. Tuy nhiên, phong
trào Hiến chương trở thành một tấm gương về lòng dũng cảm cho các cuộc
đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.
Năm 1857, ở Anh cũng như nhiều nước châu Âu khác, cuộc khủng hoảng
kinh tế tư bản chủ nghĩa xảy ra hết sức trầm trọng. Đối tượng đầu tiên chịu ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng này là công nhân và người lao động. Do hàng hóa
sản xuất không bán được, chủ xưởng đã tiến hành việc sa thải nhân công vô điều
kiện, những người còn giữ lại được việc làm cũng bị cắt giảm lương, tăng giờ
làm và siết chặt điều kiện lao động. Ở Manchester, hơn một nửa số công nhân bị
mất việc. Cuộc đấu tranh đòi cải cách nghị viện lần thứ hai diễn ra.
Cuộc đấu tranh sôi nổi và quan trọng của công nhân trong những năm 60
của thế kỷ XIX tập trung vào yêu cầu cải cách chế độ tuyển cử. Trung tâm
của cuộc đấu tranh là Manchester. Cơ sở quần chúng của phong trào đòi cải
cách chế độ tuyển cử là các nghiệp đoàn, phần lớn bao gồm công nhân có kỹ
thuật lành nghề. Cuộc đấu tranh của công nhân làm rung động chính phủ và
14

nghị viện, chính phủ phái Tự do sụp đổ. Đảng Bảo thủ lên cầm quyền buộc
phải đưa ra trước nghị viện Đạo luật Cải cách tuyển cử năm 1867, mở rộng
quyền bầu cử cho các tầng lớp lao động.
Hai cuộc đấu tranh đòi cải cách nghị viện đã làm cho đời sống chính trị
nước Anh có rất nhiều thay đổi. Hai lần cải cách đó, cuộc đời J. S. Mill đều
chứng kiến. Với nhãn quan chính trị thiên tài, ông đã đưa các vấn đề của thời

sử và chính trị. Với nhiều tham vọng về chính trị và học vấn, năm 1802 ông
đến London và sau đó trở thành đại biểu quốc hội của quận Kincardineshire,
bắt đầu sự nghiệp chính trị và viết báo. Năm 1804, ông đã viết một cuốn sách
nhỏ về thương mại, lập luận chống lại chính sách chiết khấu hoa hồng của nhà
nước về về xuất khẩu ngũ cốc. Năm 1805, ông xuất bản một bản dịch (với các
ghi chú và trích dẫn) của cuốn Một tiểu luận về Thánh chúa và ảnh hưởng của
các cuộc cải cách của Luther, cuốn sách là sự công kích vào các cáo buộc của
hệ thống giáo hoàng. Và cuối năm đó, ông bắt đầu viết cuốn Lịch sử của Ấn
Độ thuộc Anh (The History of British India). Tác phẩm này được xuất bản
năm 1818 và gây được tiếng vang lớn. Sự nghiệp báo chí của ông còn hết sức
phong phú với những tác phẩm lớn như: Luận về chính phủ (1820,
Government), Các nguyên lý kinh tế chính trị (1821, Elements of Political
Economy), Luận về tự do báo chí (1823, Liberty of the Press), Các bài luận
về Chính phủ, Luật học, tự do báo chí, Giáo dục, nhà tù và kỉ luật nhà tù
(1823, Essays on Government, Jurisprudence, Liberty of the Press, Education,
and Prisons and Prison Discipline), Phân tích về các hiện tượng của ý thức
con người (1829, Analysis of the Phenomena of the Human Mind). J. S. Mill,
ngay từ thời thơ ấu đã được tiếp xúc với các tác phẩm của cha. Ông còn giúp
việc cho cha ông như một người thư kí. Do vậy, tư tưởng chính trị của J. S.
Mill sớm chịu ảnh hưởng từ các quan điểm của cha. Cũng có thể khẳng định
16

rằng James Mill là người đầu tiên tác động tích cực đến sự hình thành tư
tưởng chính trị của J. S. Mill.
Năm 1808, James Mill gặp gỡ và nhanh chóng trở nên thân thiết với
Jeremy Bentham. Ông rất tán thành với các nguyên tắc của Bentham và dành
nhiều tâm huyết để diễn giải các nguyên tắc này cũng như mang nó đến với
toàn thế giới. Nhờ mối quan hệ này của cha mà J. S. Mill được tìm hiểu về chủ
nghĩa Công lợi của Bentham cũng như phát triển nó trong tư tưởng của mình.
Với kì vọng lớn ở con trai, James Mill còn mời những người thầy hàng

(1748-1832) là một triết gia, luật gia, nhà cải cách xã hội. Các quan điểm của
Bentham như ủng hộ quyền tự do cá nhân và tự do kinh tế, tách nhà thờ khỏi
sự can thiệp vào nhà nước, quyền bình đẳng cho phụ nữ, bãi bỏ chế độ nô lệ,
bãi bỏ án tử hình và các hình phạt về thể chất bao gồm cả hình phạt đói với trẻ
em, đều được J. S. Mill tiếp thu và phát triển. Năm 1823, Bentham đồng
sáng lập Tạp chí Westminster với James Mill. Tạp chí là cơ quan ngôn luận
của "Hội triết học cấp tiến". J. S. Mill cũng đóng góp nhiều bài viết quan
trọng cho Tạp chí này.
Trong sự nghiệp của mình, Bentham đã để lại rất nhiều tác phẩm trên tất
cả các lĩnh vực, tiêu biểu là các tác phẩm: Tản luận về chính quyền (1776,
Fragment on government), Dẫn nhập vào các nguyên tắc luân lý và pháp chế
(1780, Introduction to the Principles of Morals and Legislation), Trừng phạt
và tưởng thưởng (1811, Punishments and Rewards). Ông được coi là cha đẻ
của chủ nghĩa Công lợi. Các nguyên lý của chủ nghĩa Công lợi như một sợi
chỉ đỏ xuyên suốt, kết nối tất cả các vấn đề khác của thời đại. Nguyên tắc cơ
bản của chủ nghĩa Công lợi là mọi giá trị chân, thiện, mĩ đều được đặt dưới
hình thức lạc thú, nó nhằm mang lại hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất.
Dựa trên nguyên tắc này, Bentham cho rằng, một hành động được coi là tốt
hặc xấu căn cứ trên kết quả của nó. Những kết quả tốt là những kết quả đem
lại sung sướng cho ai đó, còn những kết quả xấu là những kết quả gây đau
khổ cho người nào đó. Do đó, hướng hành động đúng là nhằm gia tăng tối đa
18

sự sung sướng hoặc giảm tới mức tối thiểu sự đau khổ. Trong tác phẩm Dẫn
nhập vào các nguyên tắc luân lý và pháp chế (1789), Bentham viết: "Thực
chất, nguyên tắc Công lợi được sử dụng để tán thành hoặc phủ nhận mọi loại
hành vi xét theo cách chúng xuất hiện để làm tăng thêm hay giảm đi sự hạnh
phúc của cộng đồng "
2
[35, pg. 151]. Ông cho rằng, lợi ích là tất cả những gì

1.1.2.3. Ảnh hưởng từ David Ricardo
Những ảnh hưởng từ David Ricardo đến J. S. Mill chủ yếu được thể hiện
trong lý luận về Kinh tế học. David Ricardo là một nhà kinh tế học người
Anh, ông sinh ngày 18 tháng 4 năm 1772, mất ngày 11 tháng 9, 1823, cùng
với Adam Smith và Thomas Malthus, ông là một trong những người có tầm
ảnh hưởng lớn trong kinh tế học cổ điển. David Ricardo là người theo trường
phái thương mại tự do dựa trên lý luận với lợi thế so sánh. Kế thừa các quan
điểm của Adam Smith, ông có đóng góp lớn vào việc phát triển thuyết giá trị
lao động. J. S. Mill bắt đầu học các lý thuyết về kinh tế của David Ricardo từ
năm ông 13 tuổi. David Ricardo cũng là thầy dạy học trực tiếp của Mill. Qua
sự truyền thụ của thầy, J. S. Mill đã dần tiếp thu các nguyên lý của Kinh tế
học cổ điển, từ đó vận dụng vào nghiên cứu Chính trị học. Tác phẩm xuất sắc
của Mill bàn về kinh tế chính trị là Nguyên lý của kinh tế chính trị học
(Principles of political Economy), xuất bản năm 1848.
1.1.2.4. Ảnh hưởng từ John Locke
John Locke (1632–1704) là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người
Anh. Ông là một trong những người có ảnh hưởng lớn đối với triết học
phương Tây Cận đại. Tác phẩm tiêu biểu của ông là Hai khảo luận về chính
quyền (1689, Two Treatises of Government). Trong tác phẩm này, John
Locke cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, con người có các quyền tự do, bình
đẳng và tư hữu, các quyền này bắt nguồn từ bản chất muôn đời và bất biến
của con người. Bởi vậy, không ai có thể làm thay đổi được chúng. Ông thừa
nhận quyền tư hữu như một trong các quyền tự nhiên, quyền này bắt nguồn từ
lao động cá nhân. Theo ông, mặc dù có sự hữu ái và hòa bình trong trạng thái
tự nhiên, các quyền này của con người cũng đã không được đảm bảo chắc

power. And the vista of improvement which he did open was sufficiently large and brilliant
to light up my life, as well as to give a definite shape to my aspirations.

Trích đoạn Các cơ quan quyền lực cấu thành chính thể đại diện Dân chủ và quyền bầu cử Giá trị của tư tưởng chính trị của J.S Mill
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status