1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*********
NGUYỄN ÁNH HỒNG MINH
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA JOHN STUART MILL
TRONG TÁC PHẨM “THUYẾT CÔNG LỢI”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Hà Nội-2014
Hà Nội-2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan công trình này là do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Vũ Hảo. Những tài liệu trích dẫn trong
luận văn là có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Học viên
Nguyễn Ánh Hồng Minh 4
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG 12
Chương 1: Những ñiều kiện và tiền ñề hình thành tư tưởng ñạo ñức
của John Stuart Mill trong tác phẩm Thuyết công lợi 12
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn ñề tài
Trọng tâm nghiên cứu của triết học xoay quanh các vấn ñề về con
người. Với tư cách là sản phẩm của hoạt ñộng thực tiễn và nhận thức của
con người, ñạo ñức là lĩnh vực nghiên cứu mà triết học không thể bỏ qua.
Trong lịch sử triết học, ñạo ñức là một trong những chủ ñề ñược các nhà tư
tưởng nghiên cứu, bàn luận nhiều và thu hút sự quan tâm của nhân loại
trong mọi thời ñại. Việc nghiên cứu các học thuyết ñạo ñức của các triết gia
thời trước không chỉ giúp chúng ta phát triển và hoàn thiện năng lực tư duy
lý luận, mà còn bổ sung những tư tưởng có giá trị, góp phần xây dựng lý
luận về ñạo ñức một cách nhất quán, có hệ thống, có tính kế thừa. Các vấn
ñề ñạo ñức ñã ñược trình bày trong nhiều tác phẩm của các nhà triết học
phương Tây từ cổ ñại cho ñến hiện ñại. Trong số ñó, tác giả luận văn ñặc
biệt chú ý tới tác phẩm Thuyết công lợi của John Stuart Mill vì những lý do
như sau:
Thứ nhất, John Stuart Mill (1806 – 1873) là nhà triết học Anh vĩ ñại
có ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng phương Tây thế kỷ XX và hiện nay.
Henry Sidgwick (1838 – 1900), nhà triết học theo thuyết công lợi ñã nhận
xét rằng, trong khoảng thời gian 1860 – 1865, tư tưởng của John Stuart
Mill ñã lan tỏa và thống trị toàn nước Anh – ñiều mà rất ít người có thể làm
ñược. Bốn thập kỷ sau ngày mất của John Stuart Mill, cựu thủ tướng Anh
Arthur Balfour (1848 – 1930) ñánh giá tầm ảnh hưởng của John Stuart Mill
tại các trường ñại học ở Anh có thể so sánh với Hegel ở Đức và Aristotle
thời cổ ñại. Nhà xã hội học người Đức, Leopold von Wiese (1876 – 1969)
nhận ñịnh: “Trong lịch sử Âu Châu hiện ñại, chỉ có một số ít các học giả
ñược nhiều ngành khoa học xem trọng như trường hợp của Mill” [69, tr. 3].
Thứ hai, không chỉ nhận ñược những ñánh giá tích cực, các tác phẩm
thuyết phục nhất trong lịch sử triết học” [Xem tài liệu 83]. Ngoài ra, tư
tưởng ñạo ñức của John Stuart Mill trong tác phẩm Thuyết công lợi hiện 1
Utilitarianism có người dịch là Thuyết công lợi, có người dịch là Thuyết vị lợi. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn thạc sỹ của
mình, tác giả dịch Utilitarianism là Thuyết công lợi hay Chủ nghĩa công lợi. 3
vẫn ñược nghiên cứu, phân tích và tranh luận nhiều. Điều này ñược thể
hiện rõ qua số lượng các bài viết và sách ñược phát hành những năm gần
ñây. Ngoài ra, tại các trường ñại học danh tiếng trên thế giới như
Cambridge, Harvard, các bài giảng về thuyết công lợi của John Stuart Mill
rất ñược chú trọng.
Thứ tư, trong bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu hội nhập tư tưởng
Đông – Tây, chúng ta ñã và ñang phải ñối mặt với nhiều vấn ñề mới và
phức tạp thuộc mọi lĩnh vực, trong ñó có ñạo ñức. Trong văn kiện Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 của Đại hội ñại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh tình trạng ñạo ñức và lối sống
của một bộ phận xã hội Việt Nam ñang xuống cấp nghiêm trọng. Bởi vậy,
việc nghiên cứu lý luận ñạo ñức là yêu cầu cấp thiết nhằm tìm hướng khắc
phục tình trạng suy thoái ñạo ñức và giải quyết các vấn ñề ñạo ñức mới của
thời ñại. Đây là công việc không hề ñơn giản, ñòi hỏi chúng ta phải nghiên
cứu các quan niệm và học thuyết ñạo ñức khác nhau trong lịch sử tư tưởng
nhân loại.
Thứ năm, tư tưởng ñạo ñức của John Stuart Mill còn ít ñược nghiên
cứu ở Việt Nam. Phần lớn các tác phẩm của John Stuart Mill viết về lĩnh
vực ñạo ñức chưa ñược dịch và xuất bản tại Việt Nam, trong ñó có tác
phẩm Thuyết công lợi. Bởi vậy, việc tiếp cận các tác phẩm kinh ñiển thuộc
2
ñã ñược tái bản lần thứ 2. Cuốn
sách ñược dịch bởi Hồ Đắc Phương và do nhà xuất bản Trẻ phát hành.
Trong tác phẩm này, nguyên tắc hạnh phúc tối ña của thuyết công lợi ñược
Michael Sandel ñề cập trong phần ñầu của cuốn sách. Sandel ñã phân tích,
ñánh giá các giải quyết các vấn ñề ñạo ñức gây tranh cãi trong thực tiễn
theo quan ñiểm của thuyết công lợi. Từ ñó, Sandel chỉ ra những ưu ñiểm và
nhược ñiểm riêng trong thuyết công lợi của Jeremy Bentham và John Stuart
Mill. 2
Giáo sư ñại học Harvard, Hoa Kỳ
5
Tuy nhiên, tại thời ñiểm tác giả viết luận văn này, các tác phẩm khác
của John Stuart Mill, trong ñó có Thuyết công lợi chưa ñược dịch ra tiếng
Việt và xuất bản tại Việt Nam. Để phục vụ việc nghiên cứu tư tưởng ñạo
ñức của John Stuart Mill trong tác phẩm Thuyết công lợi, tác giả luận văn
ñã sử dụng bản dịch của chính mình. Đây cũng là một trong những khó
khăn khiến cho việc nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng của John Stuart
Mill chưa có nhiều ở nước ta.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể tìm thấy ở luận văn thạc sĩ, khóa luận
tốt nghiệp ñại học, nghiên cứu khoa học của học viên, sinh viên chuyên
ngành triết học cũng như ở một số bài báo những nghiên cứu về tư tưởng
triết học của John Stuart Mill, trong ñó nguyên tắc công lợi cũng ñược ñề
cập tới với tư cách là một trong hai nguyên tắc quan trọng nhất, bên cạnh
nguyên tắc tự do ñể thiết lập nên quyền tự do của con người. Trong số này,
có thể kể ñến:
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hải Hoàng viết với ñề tài Quan ñiểm
Stuart Mill.
Bài báo Chủ nghĩa vị lợi nhìn từ góc ñộ ñạo ñức học của tác giả Đỗ
Minh Hợp và Trần Thanh Giang Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn số 26, năm 2010. Bàn về góc ñộ ñạo
ñức của chủ nghĩa công lợi qua hai triết gia chính là Jeremy Bentham và
John Stuart Mill, các tác giả bài báo này có ñưa ra ý kiến phản ñối chủ
nghĩa công lợi gay gắt của J. Moore và ñánh giá ñó là một ý kiến phản ñối
xác ñáng nhưng có phần phiến diện. Từ ñó, các tác giả này chỉ ra sự cần
thiết phải ñánh giá ñúng chủ nghĩa công lợi cả về hạn chế lẫn ưu ñiểm của
nó.
Bên cạnh ñó, một số nội dung tư tưởng cơ bản của John Stuart Mill
cũng ñược trình bày trong một số cuốn giáo trình về triết học phương Tây
7
hiện ñại. Tuy nhiên, các công trình này tập trung vào trình bày khái quát
nội dung tư tưởng triết học của John Stuart Mill chứ chưa ñi sâu vào khai
thác tư tưởng ñạo ñức của ông
Nhìn chung, các công trình nói trên ñều nghiên cứu về tư tưởng của
John Stuart Mill dù ở nhiều khía cạnh khác nhau, có nội dung khác nhau.
Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích tư tưởng
về nguyên tắc tự do và nguyên tắc công lợi như là nền tảng xác ñịnh quyền
con người, quyền lực của nhà nước, phẩm chất ñạo ñức của con người,
ñánh giá ñóng góp và hạn chế trong tư tưởng của ông.
Trên thế giới, tác phẩm Thuyết công lợi của John Stuart Mill thu hút
ñược cuộc tranh luận hết sức sôi nổi với nhiều ý kiến trái chiều. Có thể kể
ñến một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Bộ sách Sổ tay Cambridge về triết học do nhà xuất bản Đại học
Cambridge Anh quốc phát hành. Loạt sách này giới thiệu chi tiết về các tác
giả, nhà tư tưởng, nghệ sĩ, chủ ñề và giai ñoạn triết học khác nhau. Mỗi một
tập bao gồm những bài viết của những học giả hàng ñầu nên ñó là tập hợp
công lợi ñược xem xét trong mối quan hệ với triết học Kant về ñức hạnh
ñạo ñức và về khả năng xung ñột giữa thuyết công lợi và thuyết công bằng;
Nghiên cứu những tác ñộng của thuyết công lợi trong bối cảnh hiện ñại
bằng cách xem xét những tác ñộng thực tế của nó ñối với những vấn ñề
ñương ñại ñang gây tranh cãi như xung ñột quân sự và sự nóng lên toàn
cầu.
Một loạt những cuốn sách nghiên cứu về thuyết công lợi do nhà xuất
bản Cambridge University Press còn xuất bản như: Giới thiệu về ñạo ñức
học công lợi của Mill của tác giả Henry R. West trong ñó có rất nhiều phân
tích thú vị về John Stuart Mill và thuyết công lợi của ông; Chủ nghĩa công
lợi và hơn thế nữa do Amartya Sen và Bernard Williams biên tập; Chủ
nghĩa công lợi: ủng hộ và phản ñối của hai tác giả J.J.C. Smart và Bernard
Williams; tác giả D. Weinstein với tác phẩm Chủ nghĩa công lợi và chủ
nghĩa tự do mới (Bối cảnh tư tưởng) trong ñó sự so sánh giữa học thuyết
Kant và thuyết công lợi là ñiều mà tác giả luận văn hết sức quan tâm; có
những cuốn sách mới xuất bản ñầu năm 2014 như Chúa, ñiều thiện và
thuyết công lợi – từ viễn cảnh của Peter Singer do John Perry
6
. Điều ñó 4
Phó giáo sư Triết học, Đại học Kansas, Hoa Kỳ
5
Giáo sư Triết học, Đại học Old Dominion, Hoa Kỳ
6
Giảng viên trường St Andrews, Scotland.
9
Mill qua tác phẩm Thuyết công lợi, từ ñó phân tích những giá trị và hạn chế
của nó.
Với mục ñích như trên, luận văn thạc sĩ của học viên thực hiện
những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những ñiều kiện và tiền ñề cho sự hình thành tư tưởng ñạo
ñức của John Stuart Mill trong Thuyết công lợi; giới thiệu khái quát cuộc
ñời, sự nghiệp của tác giả và tác phẩm Thuyết công lợi.
- Phân tích một số nội dung cơ bản trong tư tưởng ñạo ñức của John
Stuart Mill trong Thuyết công lợi.
- Chỉ ra những giá trị và hạn chế chính trong tư tưởng ñạo ñức của
John Stuart Mill qua tác phẩm Thuyết công lợi.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn ñược thực hiện trên cơ sở quan ñiểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số
phương pháp cụ thể như: phương pháp nghiên cứu văn bản, chú giải học,
tổng hợp, phân tích tài liệu,…
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của ñề tài là tư tưởng ñạo ñức của John Stuart
Mill.
Phạm vi nghiên cứu của ñề tài là tập trung vào một số tư tưởng ñạo
ñức cơ bản của John Stuart Mill trong tác phẩm Thuyết công lợi.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn trình bày và phân tích một số tư tưởng
ñạo ñức của John Stuart Mill trong tác phẩm Thuyết công lợi, qua ñó một
lần nữa khẳng ñịnh những giá trị tư tưởng của John Stuart Mill.
11
từ cuối thế kỷ XVI. Tuy nhiên, chỉ ñến khi có những phát minh mới về kỹ
thuật, năng suất lao ñộng xã hội mới ñược nâng lên mức cao, thúc ñẩy sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ ñã
làm cho nền kinh tế giản ñơn, quy mô nhỏ, chủ yếu dựa trên lao ñộng chân
tay ñược thay thế bằng nền công nghiệp sử dụng máy móc trên quy mô lớn
với sự xuất hiện của các khu công nghiệp. Cuối cùng, phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa ñã ñược xác lập, thay thế phương thức sản xuất phong
kiến lỗi thời, lạc hậu. Lực lượng sản xuất mới xuất hiện nhanh chóng ñược
phân bố, quá trình ñô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Năm 1851, nước Anh ñã
tổ chức một cuộc triển lãm thế giới với quy mô lớn nhằm thông báo với
toàn thế giới rằng kinh tế của Anh ñã phát triển mạnh mẽ.
Thương mại cũng ñã có những bước tiến nhảy vọt nhờ các cuộc phát
kiến ñịa lí lớn thế kỷ XV – XVI mà tiêu biểu ñó là việc tìm ra châu Mỹ.
Những khám phá vĩ ñại về ñịa lí ñó ñã tạo ra một làn sóng di dân lớn trên
thế giới trong thế kỉ XVI – XVIII, ñồng thời với nó là việc mở rộng thị
trường, tạo ñộng lực thúc ñẩy hoạt ñộng buôn bán trên thế giới trở nên sôi
nổi. Nhiều công ty buôn bán tầm cỡ quốc tế ñược thành lập. Tình hình này
13
ñòi hỏi phải phát triển giao thông vận tải ñường biển. Chính vì thế, Vương
quốc Anh ñã ñi tiên phong trong việc chuyển từ ñóng tàu gỗ sang ñóng tàu
kim loại. Những năm 60 của thế kỷ XIX, Anh ñã ñóng ñược tàu chở khách
viễn dương với trọng tại 3 vạn tấn. Công nghiệp ñóng tàu của họ ngày một
hiện ñại hơn và còn ñóng tàu thuyền cho các nước khác. Nhờ những ưu thế
về phát triển kỹ thuật, công nghiệp, thương mại mà Anh ñã thâu tóm phần
lớn thuộc ñịa trên thế giới. Nước Anh chính thức bước sang giai ñoạn chủ
nghĩa ñế quốc thực dân.
John Stuart Mill sống trong giai ñoạn kinh tế Anh ñang hưng thịnh
nhất, nắm giữ vị trí số một thế giới cả về kinh tế và thuộc ñịa. Trong thời
kỳ này, không một quốc gia nào trên thế giới có thể vượt qua nước Anh về
sống khổ cực với ñồng lương ít ỏi. Tuy nhiên, họ ñã bắt ñầu có ý thức phản
kháng. Từ ñó, những phong trào phản kháng của người công nhân như ñập
phá máy móc, phá hủy nhà xưởng trở nên nổi tiếng trong lịch sử nước Anh.
Việc những phong trào này bị ñàn áp ñẫm máu càng làm cho những người
công nhân hận thù nhà tư bản tới tận xương tủy. Mâu thuẫn giai cấp ñẩy lên
ñỉnh ñiểm. Bối cảnh này có ảnh hưởng không nhỏ ñến tư tưởng ñạo ñức
của John Stuart Mill. Trong tác phẩm Thuyết công lợi, ông ñề cập nhiều
ñến vấn ñề công lý và bất công, trong ñó ông còn ñưa ra ví dụ minh họa
liên quan ñến người cộng sản – thuộc giai cấp vô sản.
Cách mạng tư sản giương cao khẩu hiệu “Tự do, bình ñẳng, bác ái”
ñã giải phóng con người hỏi sự kìm kẹp của chế ñộ phong kiến. Sau khi
cách mạng tư sản giành thắng lợi, hệ thống chính trị căn bản của nước Anh
là quân chủ lập hiến. Vào giữa thế kỷ XIX, các ñảng phái chính trị ở Anh ra
ñời và nổi bật nhất là hai ñảng Bảo thủ và Tự do thay nhau thống trị ñời
sống chính trị ở Anh. Cùng với việc xuất hiện nhà nước tư sản, ở phương
Tây ñã hình thành các trào lưu tưởng về nhân quyền, quyền công dân, các
học thuyết về thể chế chính trị và quyền tự do dân chủ. Chính phủ Anh ñã
15
thực hiện “chủ nghĩa tự do”, ban hành một số quyền tự do dân chủ cho
người dân và cả những người lưu vong chính trị nước ngoài ñược quyền
lánh nạn ñồng thời cũng ban hành chính sách tự do kinh tế, giảm thuế mậu
dịch.
Có thể nói, John Stuart Mill sống trong giai ñoạn ñược coi là “thế kỷ
ñế chế” của Anh (1815 – 1914) với nhiều cuộc chiến ñể tạo lập thuộc ñịa.
Anh quốc ñã có một thế kỷ thống trị không ñối thủ và phạm vi thuộc ñịa
mở rộng khắp toàn cầu. Trong ñó, công ty Đông Ấn chính là dấu ấn của Đế
chế Anh tại châu Á. Từ năm 17 tuổi, John Stuart Mill ñã bắt ñầu làm việc
tại công ty này - nơi mà cha ông là một trong những viên chức kỳ cựu nhất,
và ở ñó cho tới khi công ty ngừng hoạt ñộng. Với tư chất thông minh cùng
1.2.1. Thuyết khoái lạc của Epicurus
Trong tác phẩm Thuyết công lợi, John Stuart Mill ñã dành một phần
lượng không nhỏ của chương 2 ñể bàn về khoái lạc và ñương nhiên ông có
nhắc ñến Epicurus. Quan niệm của Mill về khoái lạc có nhiều ñiểm tương
ñồng với quan niệm của Epicurus.
Để có tự do, hạnh phúc, theo Epicurus, con người phải quay lưng lại
với xã hội ñương thời, bàng quan với xã hội và sống theo nguyên tắc hướng
con người tới việc chế ngự khoái lạc, né tránh những ham muốn ñời thường
- những thứ mà ông cho là vật chất tầm thường, biến con người thành nô lệ
cho những dục vọng. Tuy nhiên, Epicurus phân biệt rõ ràng khoái lạc nói
chung với khoái lạc cụ thể. Ông coi khoái lạc là hạnh phúc ñầu tiên, mang
tính bẩm sinh của con người, nhưng ñó không phải là khoái lạc ñơn thuần
chỉ là sự thỏa mãn ham muốn. Theo Epicurus, khoái lạc là hạnh phúc,
nhưng không phải bất kì khoái lạc nào cũng mang ñến cuộc sống hạnh
phúc, vô ưu (không suy nghĩ, dằn vặt) cho con người và không phải bất kì
khoái lạc nào cũng ñược con người lựa chọn. Bất kì khoái lạc nào cũng là
hạnh phúc nhưng không có nghĩa là con người phải hướng ñến mọi sự
17
khoái lạc. Điều này cũng giống như mọi sự ñau khổ ñều là bất hạnh, nhưng
không phải sự ñau khổ nào cũng cần phải né tránh. Epicurus chia khoái lạc
thành hai dạng:
(1) khoái lạc tĩnh - bản chất của nó là cơ thể khỏe mạnh và tinh thần vô ưu;
(2) khoái lạc ñộng - bản chất của nó là sự tiêu khiển, vui vẻ.
Hai dạng khoái lạc này là cơ sở xác ñịnh ñược cuộc sống hạnh phúc. Tuy
nhiên, theo Epicurus, khoái lạc tĩnh tốt hơn khoái lạc ñộng, bởi vì sức khỏe
và sự bình an tâm hồn là ñiều kiện cần giúp con người thỏa mãn và cảm
thấy “thế là ñủ cho ñời sống hạnh phúc” [1, tr. 142]. Như vậy, Epicurus
hướng con người tới khoái lạc tinh thần ñể có tự do, hạnh phúc trên cơ sở
bền vững nhất. Epicurus không phủ nhận khoái lạc ñộng, nhưng ông không
hướng tới cái nhìn tích cực hơn. Thậm chí, cái chết cũng không cản trở
ñược tinh thần của Epicurus: “Anh hãy học cách suy nghĩ rằng cái chết
không là gì ñối với chúng ta, vì tất cả những ñiều tốt ñẹp, cũng như tất cả
những ñiều xấu xa là ở nơi cảm giác, còn cái chết là sự chấm dứt cảm giác”
[23, tr. 44]. Tinh thần ấy ẩn chứa một ñiều gì ñó quý báu, khiến con người
thêm yêu ñời, tận dụng thời gian thiết thực và phấn ñấu hết mình vì hạnh
phúc trong thế giới, trong cuộc sống hiện tại, củng cố niềm tin cho con
người tiếp tục sống. Nắm bắt ñược tinh thần này trong học thuyết khoái lạc
của Epicurus, John Stuart Mill ñã lên tiếng phê phán gay gắt những người
hiểu nhầm quan niệm “khoái lạc” của Epicurus mà họ gọi là học thuyết của
“loài lợn”, mà không thấy ñược tính nhân văn trong quan niệm của
Epicurus về con người. Thuyết công lợi của Mill dựa trên nguyên tắc tối ña
hóa khoái lạc và giảm thiểu ñau khổ. Theo Mill, tốt ñồng nghĩa với khoái
lạc và xấu ñồng nghĩa với khổ ñau. Vì vậy, ñể có thể ñạt ñược hạnh phúc
ñích thực, Mill cho rằng cần phải loại bỏ khổ ñau và tăng khoái lạc. Tuy
nhiên, không chỉ dừng lại ở việc ñề cao khoái lạc tinh thần như ở Epicurus,
Mill còn chỉ ra rằng, cả khoái lạc thể xác lẫn tinh thần ñều rất quan trọng
19
ñối với ñời sống con người. Theo ông, bằng trải nghiệm của mình, con
người có thể phân biệt và lựa chọn khoái lạc cao cấp và khoái lạc thấp kém
hơn. Dù ñó là khoái lạc về thể xác hay tinh thần thì người có phẩm hạnh
cao luôn lựa chọn những khoái lạc cao cấp. Như vậy, thuyết công lợi của
Mill ñã kế thừa nguyên tắc ñể ñạt tới hạnh phúc trong thuyết khoái lạc của
Epicurus. Tuy nhiên, Epicurus cho rằng, muốn có tự do, hạnh phúc con
người phải quay lưng lại với xã hội ñương thời, trong khi ñó, Mill lại quan
niệm ñạo ñức có nghĩa là phải tìm cách làm tăng hạnh phúc lớn nhất cho số
ñông nhiều nhất. Như vậy, theo Epicurus, người ñi tìm tự do không phải là
giai cấp, nhân dân hay toàn thể xã hội mà chỉ là cá nhân thông thái cô lập
muốn làm; ñó là sự tự cưỡng bức. Các hoạt ñộng ấy phải tuân theo các quy
tắc như sau:
(1) Mỗi người ñều có quyền và cần phải hành ñộng theo ñiều kiện và
ý muốn sao cho ai cũng ñược làm như thế.
(2) Mọi người ñều có quyền và cần phải cho phép những người khác
có quyền và tạo ñiều kiện cho họ thực hiện theo mệnh lệnh tuyệt ñối.
(3) Mỗi người ñều có quyền và cần phải ngăn chặn những người
khác hành ñộng trái với mệnh lệnh tuyệt ñối trên trong chừng mực có thể
làm ñược.
Như vậy, mệnh lệnh tuyệt ñối chính là luật ñạo ñức của bản thân,
nhưng luật ñạo ñức này phải phù hợp với luật ñạo ñức phổ quát, có giá trị
một cách tiên nghiệm cho tất cả mọi người. Mệnh lệnh tuyệt ñối ñòi hỏi
con người hành ñộng sao cho lý trí và ý chí thống nhất với nhau, hành vi xử
thế mang tính khách quan, không phụ thuộc vào mục ñích cá nhân. Đòi hỏi
ñạo ñức ñược ñưa ra và thực hiện chỉ bởi ý chí của bản thân nó mà thôi.
Một hành vi ñạo ñức chân chính là hành vi mà trong ñó ñòi hỏi như vậy
ñược thực hiện. Quy luật ñạo ñức trong trường hợp này trở thành ñòi hỏi tự