ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o KHUẤT THỊ HÒA
TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ
TRONG “LUẬN NGỮ”
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN THANH BÌNH
Hà Nội, 2014LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Thanh Bình, có kế thừa một số kết quả
quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Triết học của mình.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Khuất Thị Hòa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1. Lí do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 9
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6. Ý nghĩa của luận văn 10
7. Đóng góp của luận văn 11
8. Kết cấu của luận văn 11
NỘI DUNG: 12
Chƣơng 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ
TƢỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ 12
1.1 Bối cảnh ra đời tư tưởng đạo đức của Khổng Tử 12
1.2. Vài nét về Khổng Tử và sách Luận ngữ 23
mà các nhà sử học Trung Quốc gọi là “Bách gia tranh minh”. Cùng với Mặc
gia, Pháp gia, Đạo gia, Âm dương gia thì Nho gia ra đời - gắn liền tên tuổi
người sáng lập là Khổng Tử.
Từ khi ra đời, Nho gia trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử. Có
thời kỳ, nó được coi là quốc giáo của Trung Quốc và ảnh hưởng sâu sắc nhiều
nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Học thuyết Nho gia lấy vấn đề giáo
dục đạo đức con người - đạo làm người làm nền tảng nhằm đưa xã hội từ loạn
sang trị, trở về trật tự, kỉ cương. Về sau, khi Khổng Tử mất, học trò của ông
đã ghi chép lại những lời dạy của thầy. Tuy nhiên đến năm 221 TCN, khi Tần
Thuỷ Hoàng lên ngôi và thực hiện chính sách “phần thư khanh nho” thì tư
tưởng của Nho gia bị vùi dập, bị cấm lưu hành. Mặc dù vậy, hệ thống tư 2
tưởng của Nho gia vẫn được lưu truyền trong dân chúng. Cho đến ngày nay,
tư tưởng đạo đức Nho gia vẫn còn nhiều giá trị rất sâu sắc mà chúng ta cần
phải suy ngẫm.
Ra đời cách đây hơn 2500 năm, hệ thống kinh điển Nho gia bao gồm các
bộ kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Dịch, kinh Xuân Thu. Trong hệ thống tư
tưởng của Khổng Tử có nhiều giá trị tích cực về mặt đạo đức như các chuẩn
mực đạo đức, phương pháp giáo dục đạo đức, phương pháp cai trị đất nước
bằng đạo đức của nhà cầm quyền mang đầy tính nhân văn. Đã từ lâu, Nho gia
du nhập vào Việt Nam theo con đường đô hộ của quân xâm lược thời Bắc
thuộc. Nó được coi là cơ sở lý luận để định ra hệ thống đường lối, chính sách
của giai cấp phong kiến thống trị sử dụng nhằm duy trì, giữ gìn địa vị thống
trị của mình. Dù gặp phải sự phản kháng song theo thời gian, dần dần nhân
dân ta đã tiếp thu và sử dụng nhiều yếu tố, nhiều giá trị của hệ thống tư tưởng
Nho gia vào đời sống và kết hợp với tinh hoa của dân tộc để chống quân xâm
lược giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt.
Ngày nay, chúng ta đang trong thời kỳ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế
với việc làm, nói nhiều mà làm ít, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Tệ hại
hơn, họ còn dùng chức quyền để cầu danh, trục lợi, đầu óc mang nặng tư lợi
cho cá nhân …” [75, tr. 42 - 45]. Vì thế dẫn đến hệ quả là, “Trong 5 năm từ
2003 đến 2007 có 16.314 cán bộ, công chức thôi việc, tập trung chủ yếu trong
lĩnh vực y tế, giáo dục ở địa phương (chiếm 88,7 %), có 310 người giữ chức
vụ lãnh đạo thôi việc (chiếm 1,9 %)” [32, tr. 200].
Trước tình hình đó, tại Đại hội Đảng lần XI, Đảng ta nhận định, cần phải
xây dựng cơ chế, chế tài ngăn chặn, đẩy lùi, vô hiệu hoá sự xâm nhập và tác
hại của các sản phẩm đồi trụy, bồi dưỡng, nâng cao sức đề kháng của nhân
dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Khổng
Tử có ý nghĩa hết sức cấp thiết. Trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ khoa học
Triết học, tôi xin chọn vấn đề: Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử trong 4
“Luận ngữ” làm đề tài nghiên cứu của mình với hi vọng, trên cơ sở “gạn đục
khơi trong” nhằm nêu bật những giá trị tích cực và chỉ ra mặt hạn chế của tư
tưởng đạo đức Khổng Tử trong việc xây dựng, giáo dục đạo đức cho mỗi cá
nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng của Nho
giáo nói chung cũng như của Khổng Tử nói riêng. Vấn đề này ngày càng
được quan tâm hơn trong nghiên cứu và giảng dạy Nho giáo cũng như lịch sử
tư tưởng Trung Quốc và Việt Nam.
Liên quan đến đề tài luận văn, có thể khái quát một số kết quả nghiên cứu
tiêu biểu ở hai loại hình chủ yếu sau:
Loại hình thứ nhất: là những công trình nghiên cứu về điều kiện, tiền đề cho
sự ra đời tư tưởng đạo đức của Khổng Tử.
1. Tác giả Nguyễn Thanh Bình với đề tài “Học thuyết chính trị xã hội của
dung tư tưởng triết học của ông.
Nhìn chung, những cuốn sách trên đây là những công trình nghiên cứu cần
thiết cho những ai quan tâm và nghiên cứu Nho giáo, đạo đức Nho giáo. Song, do
lập trường, quan điểm, thái độ, mục đích nghiên cứu về Nho giáo ít nhiều có sự
khác nhau ở mỗi tác giả, vì thế, những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng
đạo đức của Khổng Tử chưa được trình bày và phân tích một cách toàn diện và hệ
thống; một số nhận định và đánh giá chưa thực sự khách quan và toàn diện, đòi
hỏi phải tiếp tục nghiên cứu. Cho nên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi cố
gắng trình bày một cách hệ thống trên quan điểm triết học về các điều kiện và tiền
đề hình thành tư tưởng đạo đức của Khổng Tử.
Loại hình thứ hai: là những công trình nghiên cứu về nội dung tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử trong Luận ngữ.
Nội dung trên được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Triết
học, tạp chí Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu lý luận, tạp chí Giáo dục….hay các 6
sách chuyên luận như: cuốn “Nho giáo” của tác giả Trần Trọng Kim, “Khổng học
đăng” của Phan Bội Châu v.v. Trong những cuốn sách này, các tác giả đã trình
bày, phân tích, đánh giá những tư tưởng cơ bản trong đó có tư tưởng đạo đức của
Nho giáo trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Khi đánh giá về Nho
giáo, các tác giả đều đề cao những nhân tố tích cực của Nho giáo, và cho rằng, đạo
đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức con người và ổn định
trật tự xã hội.
1. Cuốn Nho giáo của tác giả Trần Trọng Kim với nội dung chính là trình
bày khái quát các giai đoạn phát triển của Nho giáo và quá trình du nhập của
nó vào Việt Nam. Khi đề cập đến Khổng Tử và tư tưởng của ông, tác giả chủ
yếu thông qua sách Luận ngữ để trình bày những vấn đề đó. Tác giả chỉ ra
rằng, Luận ngữ thể hiện chủ yếu những tư tưởng cơ bản của Khổng Tử về con
người, đạo đức, giáo dục v.v. Theo Khổng Tử, bản tính con người vốn là lành,
cho rằng nó là vô dụng. Ông đã nghiên cứu, phân tích nội dung cơ bản của Nho
giáo và đưa ra nhận định đúng mức về vai trò của Nho giáo.
6. Cuốn Đại cương triết học Trung Quốc do tác giả Doãn Chính chủ
biên. Các tác giả trong sách này đã trình bày tư tưởng triết học của Khổng Tử
một cách có hệ thống về thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng chính trị, đạo
đức. Ngoài ra, cuốn sách còn phân tích quá trình phát triển của Nho giáo từ
Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử và các thời kì phát triển sau này. Tuy nhiên,
các tác giả chưa trình bày một cách cụ thể và có hệ thống về tư tưởng đạo đức
của Khổng Tử, chưa nêu bật được những giá trị và hạn chế chủ yếu của tư
tưởng đó.
7. Trong Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Bình với đề tài Học
thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỉ XI
tới nửa đầu thế kỉ XIX) đã phân tích Nho giáo với tính cách là học thuyết chính trị
- xã hội. Tác giả đã bàn đến những vấn đề của Nho giáo như con người, vai trò
của con người, xã hội lý tưởng. Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu và luận 8
giải một số chuẩn mực cơ bản của đạo làm người trong các mối quan hệ cơ
bản của Nho giáo. Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến một số phạm trù đạo đức
cơ bản của Nho giáo như nhân, nghĩa, lễ, chính danh, dưới góc độ chính trị - xã
hội. Từ đó, tác giả đề cập đến sự thể hiện của các tư tưởng ấy dưới chế độ phong
kiến ở Việt Nam.
8. Trong Đại cương triết học Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê đã tập trung
nghiên cứu vấn đề nhân sinh quan trong học thuyết của Khổng Tử. Tác giả
còn đi sâu phân tích các khái niệm: Nhân, trí, dũng, lễ, trung, hiếu, đễ, v.v của
tư tưởng đạo đức Khổng Tử.
9. Cuốn Tư tưởng triết học phương Đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu của Cao Xuân Huy. Từ việc trình bày lịch sử hình thành, phát triển cùng
với những nội dung, tư tưởng cơ bản của Nho giáo, tác giả cho rằng, Nho giáo
tưởng của Khổng Tử trong sách Luận ngữ và từ phương pháp tiếp cận triết
học, tác giả luận văn cố gắng tập trung trình bày một cách có hệ thống và toàn
diện những nội dung chủ yếu trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thể hiện
trong cuốn sách này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là: thông qua việc trình bày và phân tích một
cách có hệ thống những tiền đề hình thành và nội dung cơ bản trong tư tưởng
đạo đức của Khổng Tử qua sách Luận ngữ để từ đó rút ra những giá trị và hạn
chế chủ yếu của tư tưởng này.
Xuất phát từ lý do chọn đề tài, tình hình nghiên cứu và mục đích đặt ra
cho đề tài, nhiệm vụ của Luận văn như sau:
- Trình bày khái lược về những điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề hình
thành tư tưởng đạo đức của Khổng Tử và sách Luận ngữ.
- Phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử
qua sách Luận ngữ.
- Chỉ ra và bước đầu phân tích một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư
tưởng đạo đức của Khổng Tử. 10
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người,
đạo đức, giáo dục v.v.
Luận văn vận dụng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin kết hợp
sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Phương pháp phân
tích - tổng hợp, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp đối chiếu - so sánh.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những nội dung cơ bản trong tư
tưởng đạo đức của Khổng Tử qua sách Luận ngữ.
riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết.
Chương 1: Những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng đạo đức của
Khổng Tử (2 tiết).
Chương 2: Những nội dung chủ yếu trong học thuyết đạo đức của Khổng
Tử qua sách Luận ngữ (4 tiết).
12
NỘI DUNG
Chƣơng 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ
TƢỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA KHỔNG TỬ
1.1 Bối cảnh ra đời tƣ tƣởng đạo đức của Khổng Tử
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội
Trung Quốc là quốc gia có lịch sử lâu đời, là một trong những cái nôi
của nền văn minh nhân loại. Nhiều tài liệu lịch sử cho rằng, trước khi xuất
hiện nhà nước đầu tiên thì Trung Hoa đã trải qua thời kì xã hội công xã
nguyên thủy với các truyền thuyết về thời Tam Hoàng, Ngũ Đế. Giai đoạn
này mọi người sống trong xã hội không có giai cấp, không có bóc lột, mọi tài
sản đều là của chung.
sút, suy yếu thì thế lực của một số nước chư hầu ngày càng lớn mạnh. Đây
cũng là thời kì đã diễn ra các cuộc chiến tranh liên miên giữa các nước chư
hầu để giành quyền bá chủ, tiến tới tiêu diệt lẫn nhau để thống nhất đất nước.
Chính trong thời kì này, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều tư tưởng, học thuyết
trong đó tiêu biểu là học thuyết đạo đức của Khổng Tử. Thời Xuân Thu –
Chiến Quốc diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị
- xã hội.
Tình hình kinh tế: Với tư cách là một hình thái tư tưởng, tư tưởng đạo
đức của Khổng Tử nảy sinh và tồn tại trên điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.
Trong lĩnh vực kinh tế, thời Xuân Thu – Chiến Quốc có bước phát triển mạnh
mẽ cả về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp được thể hiện ở các
mặt sau:
Trong nông nghiệp: Ở thời nhà Hạ, Thương thì công cụ sản xuất chủ yếu
bằng đồng như cuốc, xẻng, dao, búa…Sang thời Xuân Thu, bên cạnh đồng
thau vẫn được sử dụng phổ biến thì đồ sắt đã bắt đầu xuất hiện. Một số tài liệu
có ghi rằng: “Ở nước Tề vào nửa đầu thế kỉ thứ VII TCN, Quản Trọng đã đề
nghị với Tề Hoàn Công: kim loại đẹp để đúc gươm giáo dùng chém chó ngựa, 14
kim loại xấu dùng để đúc cuốc dao dùng xới đất”. Có lẽ “kim loại đẹp” ở đây
là đồng thau, “kim loại xấu” là sắt [69, tr. 38]. Hay trong sách Quốc ngữ viết:
“Đồng thau để đúc kiêm kích, sắt để đúc quả cân …” [Dẫn theo: 17, tr. 31].
Sự xuất hiện và sử dụng khá phổ biến công cụ bằng sắt đánh dấu bước chuyển
lớn trong lĩnh vực kinh tế Trung Quốc. Đến thời Chiến Quốc, công cụ bằng
sắt được sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất. Có tài liệu khảo cổ học
ghi rằng: trong một ngôi mộ thời Chiến Quốc có “hơn 90 công cụ sản xuất
gồm cày, các loại cuốc, xẻng, liềm, dao… và hơn 70 binh khí bằng sắt” [69,
tr. 39]. Trong xã hội Trung Quốc, sự tiến bộ của công cụ lao động đồ sắt thay
thế đồ đồng và được người Trung Quốc sử dụng rộng rãi thì họ còn biết sử
này đã cung cấp các loại đồ dùng hàng ngày cho quần chúng nhân dân.
Thương nghiệp: Sự phát triển của các ngành sản xuất làm cho việc trao
đổi, buôn bán cũng phát triển. Trước kia, thời Thương và Tây Chu, các sản
phẩm được đem ra trao đổi chủ yếu là súc vật, nô lệ. Sang thời Xuân Thu,
hoạt động thương nghiệp phát triển hơn trước, hình thành các trung tâm buôn
bán giữa các nước chư hầu. Thời Chiến Quốc, nhiều mặt hàng về nông sản,
hải sản, sản phẩm nghề chăn nuôi, thủ công được trao đổi trên thị trường.
Trong xã hội xuất hiện những thương nhân lớn có số vốn lên đến hàng vạn
lạng vàng. Tiền tệ bằng kim loại ra đời, vai trò của tiền tệ ngày càng phát
triển. Cuối thời Xuân Thu – Chiến Quốc số lượng tiền bằng đồng được đúc ra
ngày càng nhiều, thời Chiến Quốc còn dùng vàng để làm tiền tệ. Cùng với sự
phát triển của thương nghiệp, Trung Quốc xuất hiện các trung tâm buôn bán,
trao đổi hàng hoá rất hưng thịnh: nhiều thành thị, khu thương nghiệp buôn
bán nhộn nhịp ở Hán, Sở, Tề … Trong xã hội bắt đầu hình thành tầng lớp
thương nhân giàu có, thế lực ngày càng mạnh.
Có thể nói, kinh tế Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc có bước
phát triển mạnh mẽ, trong đó nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu, thủ công
nghiệp và thương nghiệp cũng có bước phát triển đến mức độ nhất định. Mặt 16
khác, nền kinh tế ở Trung Quốc thời cổ - trung đại chủ yếu là nền kinh tế tự
túc, tự cấp song về cơ bản, các ngành kinh tế đều có bước phát triển rõ rệt.
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội: Thời Tây Chu vì ruộng đất thuộc
quyền sở hữu của nhà nước cho nên không được mua bán. Nhưng đến thời
Xuân Thu, hiện tượng mua bán ruộng đất xuất hiện. Đây là kết quả tất yếu
của chế độ ruộng đất thuộc quyền sở hữu tư nhân, đồng thời thúc đẩy ruộng
đất tư phát triển nhanh chóng. Ruộng đất ngày càng tập trung vào trong tay
địa chủ lớn, nông dân nhiều người bị mất ruộng đất: “Nhà giàu ruộng liền bờ
bát ngát, người nghèo không có tấc đất cắm dùi”[69, tr. 48]. Lúc này, trong xã
Xuân Thu tồn tại khoảng 242 năm đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ.
Đầu thời Tây Chu có hơn 1000 nước, cuối Xuân Thu còn hơn 100 nước, các
nước nhỏ bị nước lớn tiêu diệt. Sang thời Chiến Quốc, chỉ còn lại bảy nước
lớn tranh giành nhau gọi là Thất hùng: Tần, Sở, Tề, Hàn, Triệu, Ngụy, Yên.
Chiến tranh liên miên gây thảm họa chết chóc làm cho đời sống nhân
dân vô cùng cực khổ. Mặt khác, các lãnh chúa tăng cường bóc lột nhân dân
lao động, nông dân đi chiến trận, chịu sưu thuế nặng nề; đồng ruộng bỏ
hoang. Chính vì sự rối loạn của xã hội đã tạo ra tình trạng phi nhân tính, vô
đạo đức và làm cho các mối quan hệ xã hội giữa người và người bị biến dạng,
lễ nghĩa, cương thường bị đảo lộn, đạo đức suy đồi: “Chư hầu lấn quyền
Thiên tử, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, con giết cha, trật tự xã hội
rất rối loạn” [1, tr. 25 - 26]. Đời sống nhân dân nghẹt thở, mâu thuẫn xã hội
thời Xuân Thu phát triển lên đỉnh cao làm cho phong trào biến pháp ở một số
nước phát triển mạnh nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo lộn xã hội. Đây là thời kì
có “một không hai” trong lịch sử Trung Quốc. Chính từ trong hoàn cảnh này
đã tạo thêm những nhân tố thúc đẩy sự ra đời học thuyết đạo đức của Khổng
Tử và nhiều học thuyết khác.
Trong điều kiện kinh tế - xã hội như trên, để khôi phục trật tự, kỉ cương
xã hội và địa vị thống trị của mình, các nước đều đua nhau trọng dụng kẻ sĩ.
Nhờ hình thức chiêu hiền đãi sĩ mà các học thuyết, các học phái tư tưởng ra 18
đời và phát triển mạnh. Các sử gia gọi đây là thời kỳ “bách gia tranh minh”
(trăm nhà đua tiếng). Mỗi trường phái đều đưa ra học thuyết của mình nhằm
mục đích đưa xã hội từ loạn thành trị. Nhìn chung, các học thuyết đều đạt đến
trình độ tư duy khá cao và sâu sắc. Vì đây là thời kì xã hội Trung Quốc đang
trên đà suy vi của chế độ thống trị nhà Chu, do vậy mà, vấn đề chủ yếu các
học thuyết tập trung lý giải là: Làm thế nào để xã hội trở nên thịnh trị? Làm
sao để nước mình bá chủ được thiên hạ? Để giải đáp các vấn đề lớn đó mỗi
thế, thơ văn giai đoạn này phát triển mạnh mẽ, những bài thơ hay được sáng
tác từ đầu đời Chu đến giữa Xuân Thu đều được ghi lại thành một tác phẩm
gọi là Thi (tức là thơ). Tương truyền, về sau Khổng Tử đã chỉnh lý lại và trở
thành một trong những bộ kinh điển của Nho giáo gọi là kinh Thi. Tác phẩm
này không những có giá trị văn học mà còn là tấm gương phản chiếu tình hình
xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Ngoài ra, các nhà Nho còn đánh giá cao tác
dụng tư tưởng của tác phẩm này. Trong lĩnh vực thiên văn, lịch pháp, y dược,
người Trung Quốc cổ - trung đại cũng có nhiều thành tựu đáng kể. Họ biết
làm ra lịch căn cứ vào lịch số mùa màng. Một năm có bốn mùa, phân biệt các
tiết của một năm (lập xuân, lập thu, xuân phân…) có ý nghĩa lớn đối với sản
xuất nông nghiệp. Trong lĩnh vực y học, nhiều bài thuốc quý, phương pháp
chữa bệnh được ghi chép trong sách Thần nông bản thảo kinh và Hoàng đế
nội kinh. Những tri thức này không những góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã
hội phát triển mà còn là tiền đề cho sự ra đời của các học thuyết triết học,
chính trị, đạo đức, tôn giáo thời Xuân Thu – Chiến Quốc, trong đó có Nho
giáo.
Tiền đề tư tưởng: Tư tưởng đạo đức Nho giáo ra đời trên cơ sở tiếp thu
và kế thừa những tư tưởng có từ trước thời Xuân Thu ở Trung Hoa như tư
tưởng tôn giáo, chính trị đạo đức.
Tư tưởng tôn giáo: Lịch sử Trung Quốc từ thời nhà Hạ, Thương – Ân và
Tây Chu là giai đoạn hình thành, phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ. Để
bảo vệ uy quyền của mình, giai cấp chủ nô dùng thế giới quan duy tâm, tôn 20
giáo với các hình tượng về thượng đế, quỷ thần, quan điểm thiên mệnh. Các
hình tượng đều được xem là lực lượng tối cao chi phối, quyết định sự tồn tại,
phát triển của vạn vật, con người. Họ còn cho rằng, con người có thể thông
đạt với thượng đế, quỷ thần thông qua tế lễ và thờ cúng tổ tiên. Quan niệm
này được truyền qua nhiều đời. Đến thời nhà Chu, để biện hộ cho nền thống
yêu nhau, trên dưới một lòng…. Dưới thời Tây Chu, xã hội trên dưới có thứ
bậc, trật tự kỉ cương ổn định: “Dưới bầu trời không chỗ nào không phải là đất
nhà Chu, trên mặt đất không chỗ nào không phải là tôi nhà Chu” [17, tr. 20].
Nhà Chu dựa trên chế độ chính trị thế tập để cai trị đất nước, mọi người đều
phải phục tùng mệnh lệnh của thiên tử. Xuất phát từ thực tiễn chính trị - xã
hội thời Xuân Thu vô cùng loạn lạc, Khổng Tử luôn mong muốn xây dựng
một nền chính trị ổn định, có những vị vua sáng cai trị đất nước. Chính vì thế,
học thuyết đạo đức của Khổng Tử ra đời gắn liền với vấn đề chính trị mà
người ta hay gọi là học thuyết chính trị - đạo đức.
Khổng Tử là người sáng lập ra Nho giáo mà trọng tâm là học thuyết đạo
đức. Ông được sinh ra trong dòng dõi quý tộc sa sút, sống trong thời kỳ loạn
lạc, được tận mắt chứng kiến cảnh chiến tranh nên xuất phát từ địa vị bản thân
giai cấp mình, ông luôn ôm ấp hoài bão chính trị, xây dựng đất nước hoà
bình, thịnh trị, xã hội có trật tự, kỷ cương như thời Tây Chu. Đó là xã hội lý
tưởng, có đạo đức: quân - thần - phụ - tử. Khổng Tử đã tiếp nhận phương thức
chính trị dùng thần quyền của thời Tây Chu để củng cố và sử dụng vương
quyền trong cai trị đất nước. Học thuyết chính trị - đạo đức của Khổng Tử
thừa nhận, sử dụng thần quyền đồng thời khẳng định vương quyền đứng trên
thần quyền, từ đó khẳng định vị trí và vai trò của con người trong quá trình
biến đổi lịch sử. Như trong sách Luận ngữ, Khổng Tử cho rằng: “Như có bậc
thánh nhơn vâng mạng trời mà cai trị thiên hạ thì sau ba chục năm, nền nhân
chính phổ cập khắp cả” [19, tr. 203].
Về đạo đức: Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử ra đời trên cơ sở nền tảng
tư tưởng đạo đức truyền thống Trung Hoa từ các thời đại trước (Hạ, Thương,