ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
---------------
TIỂU LUẬN
MÔN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGUYỄN BỈNH
KHIÊM
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491 mất năm 1585, tự Hạnh Phủ,
hiệu Bạch Vân cư sĩ, còn có tên khác là Nguyễn Văn Đạt, người làng
Trung An, huyện Vĩnh Lạc (nay là xã Lý học, huyện Vĩnh Bảo, ngoại
thành Hải Phòng). Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh trưởng trong một gia đình
vọng tộc có học vấn, cả hai thân mẫu đều là những người có văn tài học
hạnh nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thu truyền thống gia giáo kỷ
cương. Nhất là phụ mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tương truyền bà là
người giỏi giang văn tài và tinh thông địa lý, tướng số. Ngay khi Nguyễn
Bỉnh Khiêm cất tiếng khóc chào đời, thấy con mình có tương mạc khác
thường, bà đã dốc lòng đào tạo con trai thành một tài năng giúp nước, cứu
đời. Niềm thôi thúc đó khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm tìm thấy thầy học
có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Dương Bắc Bằng. Với trí tuệ mẫn tiệp,
thông minh từ nhỏ, lại gặp thầy giỏi khác nào như rồng gặp mây. Nguyễn
Bỉnh Khiêm sớm thành tài năng kiệt suất nổi tiếng.
Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên trong một giai đoạn lịch sử nhà Lê suy
thoái, các phe phái trong triều đó kỵ, chém giết lẫn nhau. Năm 1572 Mạc
Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập ra một triều đại mới. Thế là suốt cuộc
đời thanh niên trai trẻ Nguyễn Bỉnh Khiêm phải sống trong ẩn dật, không
thi thố được tài năng. Mãi tới năm 1535, lúc này đã 45 tuổi, ông mới đi
thi. Ba lần thi hương, thi hội, thi Đình ông đều đỗ đầu và đỗ trạng
Nguyên. Từ đấy, ông làm quan với tân triều nhà Mạc phong chức Tả Thị
Lang (chức đứng hàng thứ ba trong Bộ Hình). Triều đình nhà Mạc rất trân
trong triều đố kỵ, chém giết lẫn nhau. Mạc Đăng Dung - một con người
người có rất nhiều công trạng lúc bấy giờ đã làm cuộc đảo chính lên ngôi
vua. Xem xét thời cuộc, suy ngẫm hoàn cảnh đến tận tám năm kể từ khi
nhà Mạc lên ngôi. Ông nói đi thi và làm quan cho họ. Quan niệm về trung
xuất phát từ thời Xuân Thu. Dân trung với vua, vua nghĩ cách làm lợi cho
dân cũng là trung. Trung có nghĩa là tận tâm, thành thật giúp người chứ
không phải nhất định chết theo vua mới là trung. Trong tư tưởng, trong
quan niệm thời Tần Hán mang dấu ấn đậm nét trong tư tưởng các nhà
Nho: Trung được hiểu là trách nhiệm tuyệt đối của bề dưới đối với bề trên
của bề tôi đối với vua.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan nhà Mạc với mong muốn mang sự
học của mình, đem tài trí của mình để giúp ích cho đời. ÔNg thật có lý lúc
ra giúp nước khi gặp vua hiền hơn là vào Nam theo mấy ông tướng như
Trịnh Duy Sản, Nguyễn Hoàng Dụ để phò Vua Lê trên hư vị, song đó là
tranh chấp quyền hành.
Khổng Tử, người sáng lập ra nho giáo cũng sống trong xã hội đại
loạn nhưng song học thuyết của mình ông lại phản đối đấu tranh dưới bất
kỳ hình thức nào dù là quần chúng nghèo khổ vùng lên hay giữa giai cấp
thống trị với nhau. Còn Mạnh tử cho rằng “Vua và chư hầu làm hại cho xã
tắc thì thay đổi ông vua ấy mà đặt ông vua khác”. Như vậy tư tưởng của
Nguyễn Bỉnh Khiêm vượt ra tư tưởng của Khổng Tử rất nhiều và tiến bộ
hơn cả so với Mạnh Tử. Ông cho rằng không chỉ có hạng người “thiên lại”
mới có quyền làm cách mạng mà bất kỳ tầng lớp nhân dân nào cũng có
quyền làm như vậy. Sự loạn lạc binh đao đã làm cho dân chúng khổ sở
lầm than, nhà tan cửa nát đã tác động rất lớn đến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ
đó phát sinh một quan niệm quốc gia chân chính: đất nước không phải là
của riêng ai, hay của một dòng họ nào, mà là của toàn dân. Tại sao cứ
phải hẹp hòi với những chư “trung quân”, “chính thống” để gây cảnh
càng làm việc (chính) càng vô ích, không có kết quả gì. Các nhà sáng lập
Nho giáo đã thấy được mối quan hệ giữa đạo đức của người cầm quyền
với chính trị. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nhận ra mối quan hệ đó: “Nhà dột
ở đâu nhà dột nóc. Khi nào dột nóc có thể chon von”. Và ông đưa quan
niệm của mình về đạo đức của người bề tren: “Quan trọng nhất là bậc đế
vương phải nêu cao nhân nghĩa. Trong chiến tranh, nhân nghĩa được ông
đề cập ở khía cạnh “đánh dẹp quân bạo tàn, nhân ái bầy ra ở ngoài sự
khống chế. Theo ông, không chỉ vua mới có nhân nghĩa mà những người
giúp việc vua cũng cần phải “nhân nghĩa như son khi dâng tờ sớ căn ngăn
vua. Chẳng vậy mà sau tám năm làm quan, nhận thấy vua tôi nhà Mạc đã
đi theo vết xe đỏ của lịch sử, không lo chính sự, quyền thần tham nhũng,
ông đã làm đơn chém các lộng thần. Không được ông về ở ẩn.
5