ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o
TRẦN MAI ƯỚC
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA PHAN CHÂU TRINH
Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.80.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MNH – NĂM 2013
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
HD.1: PGS.TS. LƯƠNG MINH CỪ
HD.2: TS. NGUYỄN ANH QUỐC
Phản biện:
1
2
3
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp bộ
môn họp tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
số 10 – 12 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
vào lúc: 8h00 ngày…. tháng…. năm 2013.
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thuộc Đại
học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
- Thư viện Khoa học Tổng hợp, 69 Lý Tự Trọng, Quận 1, TP. Hồ Chí
Minh.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực III, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, tr
282 – 293.
11. Trần Mai Ước (2012), Nội dung và những đặc điểm cơ bản của tư tưởng chính trị
Phan Châu Trinh giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tạp chí Giáo dục Lý luận,
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia HCM, Số 188, tr 65 – 68.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo hướng “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”
1
luôn luôn là khát vọng của con người Việt Nam.
Chính mục đích và lý tưởng ấy đã thôi thúc các thế hệ người Việt Nam chiến đấu
quên mình, vượt qua mọi khó khăn thử thách để vươn lên tìm con đường cứu nước
đúng đắn. Lịch sử Việt Nam, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một giai
đoạn đặc biệt. Từ một nước phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu, nước ta
bắt đầu chuyển sang nền kinh tế phát triển theo tư bản chủ nghĩa. Trên thế giới,
chủ nghĩa thực dân đang bành trướng, mở ra các cuộc xâm lược, từ đó tạo nên
những ảnh hưởng lớn đến các dân tộc. Mặt khác, phong trào cách mạng vô sản
đang ngày càng phát triển nhanh chóng, cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (1917)
mở ra một thời đại mới. Trong bối cảnh ấy, lịch sử dân tộc đặt ra các câu hỏi lớn:
Dân tộc ta lựa chọn con đường nào và phải làm gì để vừa tiếp thu cái mới, vừa loại
bỏ các lạc hậu, bảo thủ mà vẫn giữ vững độc lập dân tộc? Trước yêu cầu cấp thiết
của lịch sử, các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu trong đó có Phan Châu Trinh đã
mạnh dạn tìm tòi, khám phá, thử nghiệm đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc
theo khuynh hướng mới – khuynh hướng dân chủ tư sản.
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,
Phan Châu Trinh đã góp phần làm phong phú thêm sinh khí của luồng dân chủ tư
sản, ít nhiều làm rõ thêm yêu cầu chống chế độ phong kiến. Tư tưởng và hoạt
động của Phan Châu Trinh đã góp phần quan trọng tạo nên bước chuyển trong tư
Nghiên cứu về Phan Châu Trinh đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo
các nhà khoa học, với sự tranh luận khá sôi động, trong nhiều vấn đề khác nhau,
nhưng nhìn chung có một số hướng chính sau:
Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu riêng về cuộc đời, sự
nghiệp và tư tưởng của Phan Châu Trinh như: Thơ văn Phan Châu Trinh (Nhà
xuất bản Văn học, 1983) của Huỳnh Lý và Hoàng Ngọc Phách; Tuyển tập Phan
Châu Trinh (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995) của Nguyễn Văn Dương; Phan Châu
Trinh, thân thế và sự nghiệp (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) của Huỳnh Lý; Tìm
hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1996) của Đỗ Thị Hòa Hới; Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm (Nhà
xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 1997) của Nguyễn Quang Thắng; Phan Châu Trinh
qua những tài liệu mới, quyển 1, tập 1 (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003); Phan Châu
Trinh qua những tài liệu mới, tập 2 (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003) của Lê Thị
Kinh (tức Phan Thị Minh); Đặc biệt, vào năm 2005, nhà xuất bản Đà Nẵng đã
công bố toàn bộ khối lượng “di cảo” đồ sộ của Phan Châu Trinh qua 3 tập sách
Phan Châu Trinh toàn tập. Có thể nói đây là tập sách đầu tiên sưu khảo toàn bộ
trước tác của Phan Châu Trinh, dựa vào nguồn di cảo của gia đình, các nguồn tư
liệu từ rất nhiều người đã từng nghiên cứu về Phan Châu Trinh, là một công trình
đánh dấu sự nỗ lực của người đời sau trong việc gìn giữ di sản văn hóa, tư tưởng,
tài liệu của một nhà cách mạng tiền bối.
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu bước chuyển tư tưởng trong
giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đó là tác phẩm Đại cương lịch
sử Việt Nam, (Toàn tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2005) của GS. Trương
Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hãn (Chủ biên). Nghiên cứu về
sự phát triển tư tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công trình Sự phát triển của
tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (3 tập, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) của GS. Trần Văn Giàu. Bên cạnh đó còn
có các công trình nghiên cứu như: Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) của tập thể tác
2
đấu tranh giành độc lập.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây đề cập đến nhiều vấn đề khác
nhau và đã đạt được những thành quả nhất định cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Tuy nhiên, đứng ở góc độ phân tích triết học và lịch sử triết học, nghiên cứu sinh
nhận thấy tư tưởng chính trị của ông vẫn còn có khoảng trống cho chúng ta tiếp
tục nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích của luận án
Luận án có mục đích là tập trung nghiên cứu làm rõ nội dung tư tưởng và
đặc điểm chủ yếu trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh, trên cơ sở đó
đánh giá và rút ra những bài học lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện
hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
4
3.2. Nhiệm vụ của luận án
- Thứ nhất, trình bày, phân tích và luận giải những điều kiện lịch sử, xã hội
và những tiền đề hình thành tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh.
- Thứ hai, trình bày, phân tích làm rõ những nội dung và đặc điểm chủ yếu
trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh.
- Thứ ba, từ hệ tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh, rút ra giá trị và bài
học đối với thực tiễn xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung vào việc làm rõ những nội dung và đặc điểm chủ yếu
trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh trong bối cảnh bước chuyển tư
tưởng của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên các nguyên tắc thế giới quan và phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mặt khác luận án còn
kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như logic và lịch sử, tổng hợp và
phân tích, diễn dịch và qui nạp, đối chiếu và so sánh và cách tiếp cận dưới góc độ
triết học chính trị.
8. Kết cấu của luận án
Luận án, ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
bao gồm 3 chương với 7 tiết
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH
1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ CỦA PHAN CHÂU TRINH
1.1.1. Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự
hình thành tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh
Sang cuối thế kỷ XIX, toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực
dân Pháp. Dưới thời thuộc Pháp, cơ cấu giai cấp – xã hội ở Việt Nam có nhiều
thay đổi, xuất hiện những lực lượng mới, đặt nền móng cho sự tiếp nhận những
giá trị đích thực của các văn minh và những bài học kinh nghiệm của thế giới. Về
kinh tế, trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, nền kinh tế của nước ta chỉ là một
nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, tự cung tự cấp. Chính sách kinh tế, cuộc khai
thác thuộc địa (lần thứ nhất) của thực dân Pháp với sự thu nhập (dù chỉ hạn chế)
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong quá trình khai thác, đã tác động làm
cho nền kinh tế tự nhiên cũ kỹ trước đây bị phá sản. Về chính trị - xã hội, trong
thời kỳ này Nhà nước “bảo hộ” đã thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến
nước ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa và bóc lột nhân công để thu lợi
nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời vẫn kìm hãm xã hội Việt Nam trong
tình trạng trì trệ của một nước nông nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị. Về cơ cấu
xã hội, có thể nói rằng, những điều kiện chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa - giáo
dục như trình bày ở trên, đã gây sự tác động mạnh mẽ trong xã hội, làm cho sự
phân hóa giai cấp trở nên sâu sắc hơn. Ngoài các giai cấp vốn có trong xã hội Việt
Nam như giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, giờ đây xã hội Việt Nam
còn xuất hiện thêm nhiều giai cấp mới như giai cấp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản và
giai cấp công nhân. Về văn hóa, tư tưởng, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn
những sự kiện lịch sử chính trị rất lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
chuyển biến tư tưởng của các nhà tư tưởng ở Việt Nam nói chung lúc bấy giờ cũng
như đối với sự hình thành, phát triển tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh.
1.2. TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA PHAN CHÂU TRINH
1.2.1. Tư tưởng yêu nước của dân tộc với việc hình thành tư tưởng chính trị
của Phan Châu Trinh
Trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là
một trong những giá trị hàng đầu, đóng vai trò trung tâm, làm nền tảng cho mọi
hoạt động tinh thần của nhân dân và trở thành điểm tựa cho sự trường tồn của dân
tộc. Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở
thành chuẩn mực cao nhất trong bậc thang giá trị truyền thống của dân tộc Việt
Nam và là sức mạnh tiềm ẩn, không bao giờ cạn của dân tộc. Truyền thống quý
7
báu đó đã được khắc sâu trong tâm trí của Phan Châu Trinh và được thể hiện sâu
sắc trong hoạt động thực tiễn cách mạng của Phan Châu Trinh.
1.2.2. Tư tưởng Tân thư với việc hình thành tư tưởng chính trị của Phan
Châu Trinh
Tư tưởng Tân thư là một trào lưu tư tưởng truyền bá các học thuyết tiến bộ
của nước ngoài vào Việt Nam. Đối lập với Tân thư là Cổ thư, có nội dung văn hoá
– giáo dục phong kiến truyền thống. việc tiếp thu tư tưởng Tân thư của Phan Châu
Trinh là tất yếu khách quan, phù hợp với tình hình chung của khu vực và của nước
ta, tạo tiền đề lý luận quan trọng cho sự hình thành và phát triển tư tưởng chính trị
của Phan Châu Trinh.
Tư tưởng Tân thư ảnh hưởng và có sự tác động đến Phan Châu Trinh gồm
nhiều lĩnh vực: triết học, kinh tế, chính trị, văn hoá, … Trong lĩnh vực tư tưởng
chính trị, nội dung cơ bản ảnh hưởng đến tư tưởng Phan Châu Trinh là tư tưởng
cách mạng dân chủ tư sản. Tiêu biểu cho trào lưu tư tưởng này là Vonte (Voltaire
1694 – 1778), Môngtetxkiơ (Montesquieu 1689 – 1755), Rútxô (Rousseau 1712 –
1778), … Tư tưởng dân chủ tư sản của các ông đã ảnh hưởng rất lớn đến các nhà
ưu việt so với tất cả các chế độ chính trị tồn tại trong lịch sử.
1.3. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHAN
CHÂU TRINH
1.3.1. Vài nét về thân thế của Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh tên chữ là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh
ngày 9/9/1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Cha ông là cụ Phan Văn Bình, Mẹ của ông là bà Lê Thị Chung. Từ năm 1902 đến
năm 1904 ông được bổ nhiệm làm quan. Thời kỳ từ năm 1911 đến năm 1925,
Phan Châu Trinh làm việc, hoạt động và tìm kiếm con đường cứu nước giải phóng
dân tộc tại Pháp. Ngày 28 tháng 5 năm 1925, Phan Châu Trinh cùng Phan Văn
Trường và Nguyễn An Ninh rời Mácxây trở về Việt Nam. Đầu năm 1926, do bệnh
nặng nên ông đã từ trần vào đêm 24 tháng 3 tại số nhà 54 đường Pelơranh, Sài
Gòn.
1.3.2. Các giai đoạn hình thành, phát triển của tư tưởng chính trị Phan
Châu Trinh
Thời kỳ thứ nhất: Từ năm 1911 trở về trước là thời kỳ hình thành thế
giới quan chính trị của Phan Châu Trinh
Trong thời kỳ này, Phan Châu Trinh vẫn giữ lại nhiều quan điểm của nền
học vấn Khổng Mạnh làm cơ sở cho học thuyết của mình. Với sự chi phối của lập
trường quân chủ, tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh không chỉ được thể hiện
qua những sự kiện trong cuộc đời đầy thăng trầm của ông, mà còn được thể hiện
một cách rõ nét, sâu sắc qua những tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này như:
Kinh thành nguyên đán; Cờ tướng; Hát bội; Khẩu chiếm tặng tống biệt giả; Thời
gian hoạt động Duy tân (1905 - 1908), với Phan thiết ngọa bệnh; Hoàn vương
miếu; Cảm tác, Bắc du cảm thành; Thời gian ở Côn Đảo (1908 - 1910) với Hòn
Côn lôn (2 bài); Đập đá, Trồng đào; Khấp Dương Tú tài mộ; Thời gian ở Mỹ Tho
(1910 - 1911) với các tác phẩm, Đèn sáp; Thứ vận tặng Kí Phú; Tặng Tú Nghi
cưới vợ; Điếu Thủ khoa Huân, Hiền thê; Qua Tây lưu tặng nước nhà; Thi xưa.
Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1911 trở đi là thời kỳ củng cố và hoàn thiện thế
giới quan chính trị của Phan Châu Trinh
khái niệm cơ bản liên quan đến luận án đó là các khái niệm về chính trị, quyền lực
chính trị.
Chính trị là lĩnh vực hoạt động rộng lớn, có tính quyết định tiến trình lịch sử
phát triển xã hội. Chính trị ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp, hình thành nhà
nước, đấu tranh giai cấp và xây dựng nhà nước, nhằm bảo vệ lợi ích, quyền lợi của
các giai cấp, bảo vệ chủ quyền và phát triển của các quốc gia. Chính trị, theo
nguyên nghĩa của nó, “là sự tham gia vào các công việc của nhà nước, việc quy
định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. Lĩnh vực chính
trị bao hàm các vấn đề chế độ nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo các giai cấp,
vấn đề đấu tranh đảng phái… Những lợi ích căn bản của các giai cấp và những quan
hệ qua lại của các giai cấp”
3
.
3
Từ điển triết học (1986), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 85 - 86
10
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong những hoàn cảnh cụ thể
đã đưa ra những ý kiến có giá trị định hướng cho việc xác định đúng đắn về chính
trị. Xuất phát từ quan điểm của Lênin, có thể xem chính trị là hoạt động trong lĩnh
vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như giữa các dân tộc và các quốc gia với vấn
đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân
vào công việc nhà nước và xã hội; là hoạt động chính trị của các giai cấp, các đảng
phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối
và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích của mình.
Tóm lại, về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối
quan hệ khác nhau trong không gian thời gian xác định như: quan hệ giữa các giai
cấp, giữa các đảng phái chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với các
đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa
công dân với công dân, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Về mặt kết cấu,
chính trị bao gồm các nhân tố sau: các chính sách, các quyết định của các chủ thể
do Nghị viện bầu ra, và tư pháp giao cho các cơ quan xét xử độc lập đối. Ông viết
rằng: "Đó là theo cái lẽ ba quyền là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư
pháp đều riêng ra, không hiệp lại trong tay một người nào”
5
. Bộ máy nhà nước ấy
bao gồm các bộ phận chủ yếu sau đây: Thứ nhất, Nghị viện: Gồm có hai viện: Hạ
nghị viện và Nguyên lão viện; Thứ hai, giám quốc và nội các; Thứ ba, viện tư
pháp.
Ngoài ra, trong cơ chế quyền lực ấy, vai trò của đảng phái chính trị cũng
được Phan Châu Trinh nhấn mạnh. Bên cạnh đó, Phan Châu Trinh cũng đã khẳng
định vai trò quan trọng của pháp luật khi ông cho rằng "Dân trị tức là pháp trị".
Chế độ dân chủ pháp trị cần được xây dựng trên một nền pháp luật hoàn chỉnh, ổn
định. Pháp luật định ra quyền hạn, nhiệm vụ của nhà cầm quyền, của từng chức
vụ, cơ quan trong bộ máy nhà nước, từ người thấp nhất đến người cao nhất. Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật. Phan Châu Trinh viết: "Khi có điều gì phạm
đến pháp luật, thì người nào cũng như người nấy, từ ông Tổng thống cho đến một
người dân nhà quê cũng đều chịu theo pháp luật như nhaư”
6
, “Quyền hạn và bổn
phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc nước hay là người thường
đều có pháp luật chỉ định rõ ràng”
7
.
Bên cạnh những tư tưởng về cơ chế nhà nước và quản lý nhà nước nêu trên,
trong tư tưởng, Phan Châu Trinh, ông còn đề ra phương pháp cách mạng của cách
mạng Việt Nam. Đối lập với Phan Bội Châu, ông chủ trương cách mạng hoà bình,
hợp pháp, công khai. Căn cứ vào tình hình trong nước, Phan Châu Trinh cho rằng
chủ trương cách mạng bạo động của Phan Bội Châu là không phù hợp, mặc dù,
Phan Bội Châu là người có chí khí, nghị lực, ông kịch liệt lên án và chỉ ra hạn chế
của Phan Bội Châu là “học thuật không rành, thời thế không rõ, thích dùng quyền
người là thiên tư thì hối lộ nảy sinh, kỷ cương rối loạn”
10
.
Với nhận thức về vai trò quan trọng của chính trị đối với nhân dân như vậy,
cho nên, mặc dù ông chủ trương theo cách mạng dân chủ tư sản, nhưng trong điều
kiện nhất định, ông cho rằng việc lựa chọn nền chính trị dân chủ hay quân chủ
phải dựa vào nhân dân. Ông viết: “Sau khi đã khôi phục sơn hà rồi, thì quân chủ
hay dân chủ nhứt nhứt tuỳ theo ý quốc dân, đảng thiếu niên không nên chủ trì bên
nào cả”
11
, chứng tỏ, trong tư tưởng của Phan Châu Trinh xuyên suốt qua các giai
đoạn, tất cả mọi ý đồ chính trị đều tập trung vào ích nước, lợi dân, mưu cầu một xã
hội tốt đẹp cho dân tộc, còn theo thể chế chính trị nào do quốc dân định đoạt.
2.1.2. Tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh
Quan niệm về dân chủ và chủ nghĩa dân chủ được Phan Châu Trinh trình
bày trong bài diễn thuyết Quân trị chủ nghĩa (tức nhân trị chủ nghĩa) và dân trị
chủ nghĩa (tức là pháp trị chủ nghĩa). Trong phần nói về dân chủ, Phan Châu
Trinh trình bày ba nội dung: tình hình dân trí nước ta đối với vấn đề quân chủ, dân
chủ; lược sử chế độ dân chủ; và thế nào là chính thể dân chủ. Ở nội dung thứ nhất,
đánh giá tình hình dân trí nước ta đối với vấn đề quân chủ, dân chủ, Phan Châu
Trinh đã so sánh trong khi các nước bên Âu châu, nước nào cũng có đảng dân chủ
ở trong thượng, hạ nghị viện cả, duy nước ta, ngay những người có ăn học thì cái
chữ “republique” (cộng hòa) luôn ở trên miệng, nhưng không hiểu nghĩa lý ra thế
nào huống chi người dân quê, đã không biết dân chủ là gì đối với vua thì thờ ơ như
thần thánh. Trong phần lược sử chế độ dân chủ, Phan Châu Trinh đã nêu lên một
cách khái quát hai hình thức dân chủ trong lịch sử, đó là nền dân chủ chủ nô thời
Hy Lạp cổ đại và dân chủ tư sản Anh quốc. Ở đây, ông chưa phân tích bản chất,
đặc tính và những nguyên tắc của từng hình thức dân chủ đó, mà chỉ mới giới
thiệu về sự tồn tại những “cái hội” mà “phàm những luật vua quí tộc đã đặt ra thì
phải giao hội ấy xem xét, có bằng lòng thì mới được làm”. Để trình bày một chính
ở đó, chết chôn đó, giàu nhờ đó, nghèo nương đó, làm gì thì không ai cấm đoán
được”
13
. Tư tưởng dân chủ Phan Châu Trinh có giá trị nổi bật chính là làm cho
nhân dân nhận thức được vai trò dân chủ.
2.1.3. Tư tưởng khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của Phan
Châu Trinh
Khai dân trí của Phan Châu Trinh là: chống lối học tầm chương trích cú
cũng như khoa cử Nho giáo, nay mạnh truyền bá quốc ngữ, mở trường dạy học
những kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa và qua văn thơ báo chí,
tuyên truyền… phổ biến trong đại chúng tư tưởng tư sản dân chủ. Muốn khai
thông dân trí, giành độc lập cho dân tộc, ông chủ trương cải cách bằng việc mở
các trường học, đem thực tài mà giảng dạy, dùng các hình thức thơ ca, sách vở,
báo chí diễn thuyết để mở mang trí khôn và thức tỉnh lòng người. Ông viết:”…
đem cái sự học Âu tây để so sánh lại với cái học cũ của ta, để xem điều gì hay,
điều gì dở, cho người ta xét đoán mà tìm lấy đàng tấn tới về sau ”
14
.
Chấn dân khí tức là làm cho mọi người thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường,
giác ngộ được quyền lợi của mình giải thoát khỏi sự kìm kẹp của chế độ quân chủ
chuyên chế. Sự trì trệ, suy vong của dân tộc không phải từ bản chất của dân tộc ta
kém cỏi, từ buổi đầu lịch sử, dân tộc ta đã có mấy trăm này dựng nước trở thành
một quốc gia có độc lập, có chủ quyền, có nền văn hóa ổn định và bền vững. Sự
kém cỏi của dân tộc ta chính là do một phần chúng ta không tự lực, tự cường,
không chịu học hỏi, làm mất đi cái hào khí, cái sức mạnh truyền thống mấy ngàn
năm của dân tộc.
13
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, tr. 774
14
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, tr. 795
trên cơ sở tinh thần yêu nước, nên tư tưởng cải lương cũng đã mang trong lòng nó
tính chất phản phong và phản đế mặc dù thiếu tính triệt để. Mục đích chân chính
của nó trước sau vẫn muốn giải phóng dân tộc ra khỏi thế kìm kẹp của các thế lực
phong kiến và thực dân xâm lược, muốn tạo những lực lượng mới có khả năng
thay đổi bộ mặt xã hội; Hai là, tư tưởng cải lương của Phan Châu Trinh được nhân
dân Trung kỳ tiếp thu mới đầu, sau đó phong trào nổi lên có tính chất nhân dân.
Điều này chứng tỏ một phần tư tưởng của Phan Châu Trinh phù hợp với nhu cầu
đã chín muồi của đời sống xã hội, nó đã xâm nhập vào ý thức của đông đảo quần
chúng, trở thành tư tưởng của bản thân quần chúng, đoàn kết họ trở thành một đội
quân mạnh mẽ được cổ vũ bởi một mục đích và ý chí thống nhất. Phong trào đấu
15
tranh tự phát của nông dân Trung Kỳ dần dần biến thành cuộc đấu tranh có ý thức
và có tổ chức nên tư tưởng cải lương do Phan Châu Trinh đề xướng không còn là
một tư tưởng thuần túy nữa, mà đã trở nên hành động. Tư tưởng một khi đã được
xâm nhập vào quần chúng thì nó sẽ trở thành một lực lượng vật chất vô cùng lớn;
Ba là, tuy có phiến diện, mang tính chất ảo tưởng, nhưng tư tưởng quốc gia cải
lương của Phan Châu Trinh biểu hiện một sự tiến bộ về mặt tư tưởng của xã hội
Việt Nam đương thời.
2.2.3. Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có tính dân tộc, tính
nhân dân sâu sắc
Giống với chí sĩ yêu nước nhiệt thành khác lúc bấy giờ, tư tưởng của Phan
Châu Trinh cũng có bước chuyển đồng hành với dân tộc và thời đại. Đó là quá
trình chuyển từ lập trường hệ tư tưởng phong kiến, phê phán chế độ quân chủ
chuyên chế và đi đến chủ nghĩa dân quyền. Theo ông, muốn dành muốn dành độc
lập dân tộc trước hết phải đánh đổ chế độ phong kiến, xây dựng nên chế độ dân
chủ thì cách mạng Việt Nam mới đi đến thắng lợi. Với dũng khí tự tôn dân tộc,
Phan Châu Trinh đã tin tưởng rằng, với những nội dung dân chủ, dân quyền mà
ông truyền bá, nhân dân Việt Nam sẽ thức tỉnh, sẽ có khả năng tự đổi mới, lấy lại
sức mạnh quật khởi của mình. Việt Nam sẽ bước dài những bước tiến bộ. Ông
nhấn mạnh: “Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã giác ngộ được quyền lợi của
phú, đa dạng và sâu sắc trên một số nội dung cơ bản sau đây: Thứ nhất, tư tưởng
chính trị về xây dựng thể chế nhà nước và quản lý nhà nước bằng pháp luật; Thứ
hai, tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh là một bước tiến bộ trong tư tưởng
chính trị của ông; Thứ ba, tư tưởng khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, nhằm
chấn hưng đất nước, khôi phục khí thế hào hùng của dân tộc, là tư tưởng chính trị
có tính cách mạng của Phan Châu Trinh.
Ba là, từ việc tìm hiểu, nghiên cứu nội dung chính trị cơ bản của Phan
Châu Trinh, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tư
tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có tính thực tiễn; Thứ hai, tư tưởng chính
trị của Phan Châu Trinh có tính chất cải lương; Thứ ba, tư tưởng chính trị của
Phan Châu Trinh có tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc; Thứ tư, quá trình chuyển
biến tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh có tính chất quá độ.
Do thiếu tiền đề lý luận và cơ sở vật chất xã hội, vì vậy nội dung tư tưởng
chính trị của Phan Châu Trinh chưa đạt đến trình độ học thuyết, nhưng hệ thống
quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh đã biểu hiện sự tiến bộ to lớn về tư
tưởng chính trị của xã hội Việt Nam đương thời. Dù sao, tư tưởng chính trị tiến
bộ của Phan Châu Trinh vẫn là ánh sáng soi đường, thức tỉnh dân tộc Việt Nam
đứng dậy chống Pháp, xóa bỏ phong kiến, xây dựng một xã hội văn minh mới,
với nền dân chủ mới.
Chương 3
GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ PHAN CHÂU TRINH ĐỐI VỚI THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHAN
CHÂU TRINH
3.1.1. Giá trị của tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh
Trước hết, tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh thể hiện ý thức tự
cường dân tộc.
Phan Châu Trinh cũng đã nhận ra được mục đích tối cao của cách mạng
Việt Nam là khôi phục độc lập dân tộc, khôi phục lại chủ quyền đất nước. Nhằm
dân tộc. “Dân quyền” với thể chế tư sản là tương ứng với độc lập. Còn “Quân
chủ” bảo thủ là tương ứng với lạc hậu, cổ hủ và yếu kém, số phận của nước đó
nhất định bị nô dịch
16
. Phan Châu Trinh là một trong những người đầu tiên đã khởi
xướng dân quyền ở Việt Nam. Đó là giá trị có tính lịch sử của ông về tư tưởng
chính trị. Để thực hiện lý tưởng này, năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam đã thí
nghiệm và sau đó tiến hành thử thách nhiều lần, mãi đến năm 1945, dưới sự lãnh
đạo của Hồ Chí Minh, trong điều kiện thời cơ vô cùng thuận lợi mới thành công.
Phan Châu Trinh khát vọng một cuộc cải cách nâng cao dân trí, mở mang
công nghệ, giảm bớt thuế má cho dân. Phan Châu Trinh cũng mong muốn bằng
con đường giáo dục, cải cách, và cuối cùng nhân dân Việt Nam sẽ đủ sức để
thuyết phục chính quyền thực dân Pháp phải trao lại quyền tự trị cho nước ta.
16
Thu Trang (1983), Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911 – 1925, Nxb. Đông Á, Pari., tr. 275
18
Trong tư tưởng chính trị của mình, Phan Châu Trinh nhấn mạnh đến vai trò, quyền
lợi của nhân dân, người dân có quyền sống và được hưởng những quyền lợi, được
thực hiện những nghĩa vụ thiêng liêng cao cả với đất nước. Ông viết: “Một nòi dân
cùng một giọt máu xẻ ra, cùng một thứ tiếng nói, ở trong miếng đất mà ông cha ta
nó đã đổ máu, đổ mồ hôi, đổ nước mắt, để vỡ vạc ra, thành ra một nước lưu truyền
bốn ngàn năm đến giờ, thì được phép hưởng quyền lợi trong miếng đất ấy, được
sống ở đó, chết chôn đó, giàu nhờ đó, nghèo nương đó, làm gì thì không ai cấm
đoán được”
17
. Nhằm làm cho nhân dân hiểu được quyền làm chủ của mình, Phan
Châu Trinh đã tích cực truyền bá nội dung về quyền và nghĩa vụ của nhân dân. Vì
vậy, trong tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh có giá trị nổi bật chính là làm cho
nhân dân nhận thức được vai trò dân chủ. Nhận thức về vai trò quan trọng của
chính trị đối với nhân dân, cho nên, mặc dù Phan Châu Trinh chủ trương đi theo
18
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, tr. 545
19
phương pháp đấu tranh ôn hòa có ưu điểm là không gây ra tổn thất về tính mạng
và vật chất của nhân dân, làm cho nhân dân thức tỉnh, vươn lên làm cách mạng,
tuy nhiên hiệu quả của phương pháp này là không cao và không triệt để, bởi bản
chất của chủ nghĩa thực dân là dùng bạo lực phản cách mạng để xâm lược, áp bức
các dân tộc thuộc địa và nhân dân lao động.
Thứ hai, về mặt nhận thức, tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh không
tạo ra được một hệ tư tưởng, một cơ sở triết học nhất quán, khoa học, triệt để và
còn chịu ảnh hưởng cũng như chưa hoàn toàn thoát khỏi quan niệm của Nho giáo.
Trong suy nghĩ, ông vẫn chưa thoát khỏi cách sắp xếp trật tự xã hội theo tứ dân.
Một mặt Phan Châu Trinh coi sĩ, nông, công, thương đều cần cho xã hội, nhưng
mặt khác Phan Châu Trinh vẫn coi thường nghề công và thương. Về nghề của kẻ
sĩ thì ông tán dương “đức hạnh vẹn toàn, giúp vua dân”; nghề nông, ông khen là
“thói nông thuần hậu” nhưng đối với công nghệ thì Phan Châu Trinh lại nhận định
là “có đôi phần tệ, phân bậc nên chi để thứ ba”; nghề thương ông thấy có thói xấu
“tráo đấu lường cân, chắc tôm vá cá, đua nhau chiết cạnh”. Điều này thể hiện Phan
Châu Trinh chưa thể vượt qua được xã hội quan của Nho giáo.
Bên cạnh việc phê phán tư tưởng Nho giáo và xã hội phong kiến, thuộc địa,
chúng ta thấy rằng, trên thực tế Phan Châu Trinh phê phán Nho giáo không phải
để nhằm mục đích đánh đổ hoàn toàn hệ tư tưởng mà họ đã được tiếp thu, truyền
thừa qua lịch sử hàng ngàn năm của hệ thống chính trị - xã hội – giáo dục. Ông
chưa nhận thức đầy đủ bản chất của dân chủ tư sản, đặc biệt, ông lại ảo tưởng khi
chủ trương dựa vào Pháp để thực hiện dân chủ ở Việt Nam, rồi giành độc lập dân
tộc. Do vậy, dẫn tới mơ hồ chính trị. Trong lúc đề cao dân chủ Phan Châu Trinh
lại quên vấn đề diệt thực dân giành độc lập dân tộc, ông mới nhận thấy mâu thuẫn
giữa chế độ quân chủ với nhân dân mà chưa nhận thấy mâu thuẫn cơ bản nhất là
giữa dân tộc ta với thực dân Pháp. Giáo sư Trần Văn Giàu đã nhận xét về Phan
Châu Trinh là “không biết đâu là kẻ thù chính”
độ nhận thức và quan điểm giai cấp qui định, thì chúng ta có thể rút ra những bài
học có ý nghĩa lịch sử đối với công cuộc đổi mới hiện nay.
3.2.2. Những bài học lịch sử từ tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh
Thứ nhất, bài học về ý thức độc lập, tự cường dân tộc trong quá trình
đổi mới
Có thể nói rằng, độc lập dân tộc là mục đích tối cao của mỗi dân tộc trong
quá trình đối mới và phát triển. Độc lập, tự do của một dân tộc chỉ có thể tự
giành lấy bằng sức mạnh vật chất và tinh thần của dân tộc. Phan Châu Trinh đã
chỉ rõ, chính trị có thể thay đổi thành quân chủ, hay dân chủ nhưng độc lập dân
tộc là không đổi. Phan Châu Trinh, người đề xướng và lãnh đạo phong trào Duy
tân, đã có tư tưởng sẽ thiết lập ở Việt Nam một chế độ dân chủ tự trị. Ý thức tự
chủ, tự lực, tự cường dân tộc có ý nghĩa rất quan trọng thúc đẩy quá trình phát
triển lịch sử của dân tộc ta. Phan Châu Trinh đã từng viết rằng: “một chủng tộc
muốn như chủng tộc văn minh chỉ có tự lập tự cường”
21
.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta phải xây dựng, củng cố, phát
triển bản lĩnh của dân tộc ngang tầm với các nước, với thời đại cả về nhận thức lẫn
hoạt động thực tiễn nhằm phát triển đất nước. Ý thức tự lực, tự cường trong bối
cảnh hiện nay là rất quan trọng, là cơ sở để chúng ta vươn lên hội nhập với thế
giới một cách chủ động, không bị động, không bị chèn ép. Ngoài ra, xu thế hội
nhập là không thể tránh khỏi, cho nên, phải tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài
nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới đạt nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các mặt
của đời sống xã hội.
Thứ hai, bài học về phát huy dân chủ trong đổi mới
Qua khảo sát thực tế, Phan Châu Trinh thấy rằng, chế độ dân chủ trở thành
giá trị phổ biến, trở thành xu thế phát triển của thời đại, vấn đề nhân quyền, dân
quyền đang là những làn sóng mạnh mẽ, sôi nổi tràn khắp thế giới, trong xu thế
20
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
dân sinh trong đổi mới
Theo Phan Châu Trinh, dân quyền phải dựa vào dân trí. Dân quyền phải gắn
chặt với dân trí. Đó là yêu cầu vừa có tính cấp thiết, vừa có tính lâu dài. Do đó,
nâng cao dân trí là một trong những nhiệm vụ chiến lược trong tư tưởng của Phan
Châu Trinh. Dân trí và giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với nền chính trị dân
chủ, với xã hội hiện đại văn minh. Trong trật tự các bước tiến hành cải cách, cải
cách giáo dục có ý nghĩa tiên quyết nhằm nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện
cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến nhất của thời đại và ứng dụng
chúng vào quá trình hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, nền giáo dục
đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập. ại hội lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt
Nam khẳng định: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển
mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng
số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người”
23
. Đánh
giá về chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, Đảng Cộng sản Việt Nam
22
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, tr. 980