tư tưởng chính trị của hồ quý ly - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

LÊ THANH QUÂN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HỒ QUÝ LY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

LÊ THANH QUÂN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HỒ QUÝ LY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hoài Văn

Hà Nội - 2014


LỜI CAM ĐOAN


1

1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................

1

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài...................................................

4

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.............................................................

8

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn...........................................

8

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu...................................................

9

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn.....................................................

9

7. Ý nghĩa của luận văn....................................................................................

9


2.1. Xây dựng nhà nước quân chủ nho giáo trung ương tập quyền
thống nhất.........................................................................................................

35

2.2. Đề cao độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia..........................................

51

2.3. Chống giáo điều nho giáo, đề cao văn hoá dân tộc...................................

57

2.4. Đề cao pháp trị..........................................................................................

62

Tiểu kết chương 2.............................................................................................

64

Chƣơng 3: BÀI HỌC LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..................................

65

3.1. Trong cải cách đổi mới, cũng như trong chống ngoại xâm phải tôn trọng
tư tưởng chính trị truyền thống Việt Nam là đề cao dân, dựa vào dân để
dựng nước và giữ nước.....................................................................................

PHỤ LỤC.........................................................................................................

95

Phụ lục 1. Bản đồ huyện Vĩnh Lộc, bình đồ khu vực núi Đún..........................

96

Phụ lục 2. Ảnh Thành Nhà Hồ..........................................................................

97

Phụ lục 3. Bản đồ không ảnh Đàn tế Nam giao................................................

100

Phụ lục 4. Một số hiện vật vũ khí bằng đá và kim loại.....................................

101

Phụ lục 5. Hiện vật địa danh xuất hiện trên gạch và vật liệu trang trí............

102

Phụ lục 6. Bản đồ chống giặc Minh..................................................................

103

Phụ lục 7. Thơ của Hồ Quý Ly..........................................................................


đối theo Nho giáo mới có thể đáp ứng được yêu cầu của phát triển của xã hội Đại
Việt cuối Trần. Đó là tấn công vào toàn bộ giai cấp quý tộc nh m tước bỏ thế lực
kinh tế - chính trị của giai cấp này và tập trung sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự
vào Nhà nước tập quyền trung ương. Nhanh chóng hình thành chế độ quân chủ tập
quyền do tầng lớp quan lại - nho sĩ nắm. Đó cũng là những giải pháp chính trị căn
bản đưa xã hội cuối Trần ra khỏi khủng hoảng và cứu vãn nền độc lập của dân tộc.
Trong triều đình nhà Trần lúc bấy giờ, Hồ Quý Ly là người có khả năng giải quyết
các vấn đề trên.
1


Có thể nói, Hồ Quý Ly là người có tư tưởng tiến bộ nhất trong số các đại thần
của vương triều Trần cuối thế kỷ XIV, ở vị trí cao của quyền lực đã ý thức được trách
nhiệm lịch sử, nỗ lực đưa đất nước vượt qua khó khăn. Những tư tưởng và hoạt động
thực tiễn của ông vượt ra ngoài những chuẩn mực và truyền thống chính trị của triều
Trần, mang tính đột phá nh m đổi mới triều đại và đổi mới đất nước. Với mong
muốn củng cố và xây dựng một Nhà nước mạnh, có đủ tiềm lực cả kinh tế và quốc
phòng để “chống giặc Bắc” - k th truyền thống của dân tộc, Hồ Quý Ly đã khởi
xướng và tổ chức thực hiện nhiều chính sách cải cách. Vì thế trong lịch sử dân tộc,
Hồ Quý Ly được biết đến trước hết là một nhà cải cách.
Tìm hiểu tư tưởng chính trị của Hồ Quý Ly không thể không đề cập đến công
cuộc cải cách của Hồ Quý Ly. Nói cách khác, những nội dung cơ bản của tư tưởng
chính trị của Hồ Quý Ly như độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia; xây dựng Nhà
nước mạnh, trung ương tập quyền thống nhất, tuyệt đối theo Nho giáo; đề cao văn
hoá dân tộc, chống giáo điều Nho giáo; thực hiện Pháp trị… đã được thể hiện qua
các chính sách cải cách cụ thể của Hồ Quý Ly. Những chính sách cải cách của Hồ
Quý Ly được đánh giá là dũng cảm, táo bạo, mạnh mẽ và tâm huyết đối với vận
mệnh quốc gia và vận mệnh triều đình lúc đó.
Sự nghiệp chính trị của Hồ Quý Ly chưa trọn vẹn và công cuộc cải cách của
ông cũng thất bại cùng với sự kết thúc của vương triều Hồ vào năm 1407, sau khi

liền nhau, không phải một ngày sinh ra và Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ - Sức dân
như nước, chở thuyền là dân lật thuyền cũng là dân. Có thể nói về phương diện lý
luận, Nguyễn Trãi là người đầu tiên chỉ ra chính xác nguyên nhân dẫn đến thất bại
của nhà Hồ, cũng như sai lầm lớn nhất trong tư tưởng chính trị của Hồ Quý Ly.
Ngày nay, đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ
động hội nhập quốc tế. Để làm được điều đó, đều phải phát huy sức mạnh của nhân
dân, được nhân dân ủng hộ thì mới thành công. Bên cạnh những thành tựu, trong
gần 30 năm đổi mới vẫn còn những hạn chế, yếu kém trong một số mặt của kinh tế xã hội. Đặc biệt gần đây, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm, đất nước phải đối mặt
với thách thức gay gắt, có mặt nghiêm trọng. Những yếu kém, khuyết điểm, nhược
điểm nổi lên là bản lĩnh, năng lực và phẩm chất, phương thức lãnh đạo của một
Đảng cầm quyền, là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ
phận cán bộ đảng viên dẫn đến những căn bệnh như quan liêu, cửa quyền, xa dân,
không tôn trọng dân, vô cảm trước những hành động vi phạm đến quyền dân chủ và
lợi ích chính đáng của nhân dân, cá nhân chủ nghĩa, nạn tham nhũng, tham quyền,
nhóm lợi ích. Tình hình đó nói lên sức chiến đấu của Đảng đang giảm sút, lòng tin
3


của dân đối với Đảng ngày một phai nhạt. Đây là thử thách lớn nhất đối với Đảng
và Nhà nước ta. Đúng như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gần đây đã viết:
“Chúng ta không sợ bất cứ một thế lực nào, dù là hung bạo nhất. Chúng ta chỉ sợ
nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, chế độ ta” (Tạp chí Cộng Sản điện tử
ngày 10/08/2014). Vì vậy, bài học mất lòng dân rút ra từ sai lầm trong tư tưởng
chính trị của Hồ Quý Ly cách đây hơn 600 năm vẫn còn nguyên giá trị và tính thời
sự của nó.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản tư tưởng chính trị của Hồ Quý Ly nh m cung
cấp một cứ liệu khoa học, làm rõ hơn những nội dung quan trọng của lịch sử tư
tưởng chính trị Việt Nam, đặc biệt là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc; tư tưởng đề cao
dân, dựa vào dân để dựng nước và giữ nước - góp phần xây dựng đất nước phát
triển nhanh và bền vững như tinh thần Đại hội lần thứ XI của Đảng ta đã chỉ ra.

nguyên nhân thất bại của cải cách này.
Bên cạnh đó, cũng không ít các tác giả không đồng tình với ý kiến trên như các
nhà sử học Hoàng Tuyên, Đào Duy Anh... Các tác giả này cho r ng Hồ Quý Ly
sống và hành động theo chủ nghĩa cá nhân và cuộc cải cách của ông không đáp ứng
được yêu cầu phát triển của xã hội.
Trong thời gian này tại Pháp, nhà sử học Lê Thành Khôi trong cuốn Nước Việt
Nam lịch sử và văn minh nói về cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, tác giả này nhận
định Hồ Quý Ly đã đưa ra chính sách có tính đột phá, đổi mới và xuất phát từ một
động cơ đúng đắn tiến bộ - cố gắng giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội lúc
đó. Ngược lại nhà sử học Pháp Jean chernaux trong cuốn Góp phần vào nghiên cứu
lịch sử Việt Nam lại cho r ng Hồ Quý Ly là một k thoán đoạt, ông ta cai trị tàn
bạo, tăng thuế khóa và binh dịch.
Năm 1970, các nhà nghiên cứu lịch sử Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức
Nghinh tiếp tục phân tích sâu sắc hơn về cuộc cải cách của Hồ Quý Ly. Trong cuốn
Lịch sử Việt Nam hai tác giả này đã dành riêng một chương nói về chính sách cải
cách của Hồ Quý Ly, đặc biệt đã làm rõ hơn về chính sách hạn điền, hạn nô.
Các nhà sử học Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn trong tác phẩm Khởi nghĩa Lam
Sơn (1977) đã đánh giá Hồ Quý Ly là con người mạnh dạn, tiến bộ nhưng cải cách
của Hồ Quý Ly đã thất bại c ng với cuộc kháng chiến chống quân Minh của triều
Hồ vì không được nhân dân ủng hộ.
Năm 1989, sử gia Liên Xô là Maxlov trong cuốn Việt Nam phong kiến cuối thế
kỷ XIV đầu thế kỷ XV đã đánh giá cao Hồ Quý Ly và cuộc cải cách, coi ông là nhà
cải cách điển hình ở thời phong kiến của Việt Nam.

5


Đến những năm 1991 - 1992 tạp chí Nghiên cứu lịch sử lại mở cuộc hội thảo
mới đánh giá lại vai trò Hồ Quý Ly c ng những cải cách của ông theo quan điểm
đổi mới mà Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, trong đó có đổi mới tư



sử này nh m giới thiệu với người đọc những nét khái quát về một thời kỳ lịch sử và
một nhân vật lịch sử khá nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
Đồng thời, cũng đã có một số cuộc hội thảo khoa học về Hồ Quý Ly, trong đó
phải kể đến hội thảo khoa học Hồ Quý Ly và nhà Hồ do Ban Nghiên cứu và biên
soạn lịch sử Thanh Hóa kết hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức năm
1992.
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành, mà đặc biệt là Tạp chí Nghiên cứu
lịch sử đã có nhiều bài viết sâu sắc của các học giả, nhà nghiên cứu như: Văn Tạo
với Từ Hồ Quý Ly nhìn nhận lại một số cải cách trong lịch sử, Trương Hữu Quýnh
với Nhìn lại vấn đề Hồ Quý Ly trong lịch sử, Lê Tạo với Mấy ý kiến xung quanh
việc xây dựng Tây Đô, Nguyễn Danh Phiệt có bài viết Hồ Quý Ly - Một nhân cách
anh hùng,....
Trong Tập bài giảng Chính trị học, của tập thể tác giả Viện Khoa học chính
trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, GS. Hồ Văn Thông (chủ biên), NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, ở chương Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam,
các tác giả cho r ng: năm 1400, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Hồ Quý Ly lập ra một
triều đại mới, trong lúc nhà nước trung ương Trần đã hoàn toàn suy yếu, không còn
đủ khả năng điều hành đất nước. Hồ Quý Ly đã tiến hành một cuộc cải cách sâu
rộng nh m khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, đổi mới đất nước và tích cực
chuẩn bị chống quân Minh. Điều đó chứng tỏ ông là một người yêu nước, một nhà
cải cách lớn của lịch sử Trung đại Việt Nam. Nhưng cuộc kháng chiến do nhà Hồ
lãnh đạo đã thất bại, kéo theo sự sụp đổ của vương triều Hồ và kết thúc công cuộc
cải cách đang dở dang của Hồ Quý Ly. Đến nửa cuối thế kỷ XV, công cuộc cải cách
ấy được Lê Thánh Tông tiếp tục và hoàn chỉnh.
Bước sang thế kỷ XXI, năm 2006, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm đã ấn hành
cuốn sách Mười cuộc cải cách đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam của tác giả Văn
Tạo. Khi bàn về các cuộc đổi mới trong lịch sử, tác giả đã đánh giá cao về tư tưởng
cải cách của Hồ Quý Ly và vai trò của ông trong lịch sử cải cách của nước nhà,

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng chính trị của Hồ Quý Ly.
+ Làm rõ những nội dung trong tư tưởng chính trị của Hồ Quý Ly.
+ Bài học lịch sử và ý nghĩa của của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam
hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về tư tưởng chính trị
của Hồ Quý Ly thông qua các chính sách cải cách trên nhiều lĩnh vực mà Hồ Quý
Ly trực tiếp thực hiện.
8


- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vào giai đoạn
lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIV thời cuối nhà Trần và những năm đầu thế kỷ
XV dưới triều Hồ (1400 - 1407) gắn với hoạt động của Hồ Quý Ly.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị và con người chính trị.
Trên cơ sở đó, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử - lôgíc, đồng
thời kết hợp với các phương pháp khác như: phân tích tổng hợp, phương pháp so
sánh, phương pháp hệ thống, khái quát hoá.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Là luận văn thạc sĩ Chính trị học đầu tiên nghiên cứu về tư tưởng chính trị của
Hồ Quý Ly. Luận văn góp phần nhận diện một cách cụ thể và đầy đủ hơn về tư
tưởng chính trị của Hồ Quý Ly, đồng thời nêu lên những bài học lịch sử cũng như ý
nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Góp phần nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, đặc biệt là tư
tưởng cải cách đổi mới đất nước đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử Việt Nam.
- Đưa ra một cách nhìn nhận, đánh giá khách quan về Hồ Quý Ly, một nhân

thời Trần, những tranh chấp về ruộng đất và đã diễn ra phổ biến c ng với xu hướng
tư nhân hóa ruộng đất ngày càng tăng.
Nửa sau thế kỷ XIV, nước Đại Việt cuối vương triều Trần đã lâm vào một
cuộc khủng hoảng toàn diện trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.
Sự bất mãn của dân chúng đã lên tới đỉnh điểm bởi những xung đột quanh việc
chiếm đoạt đất đai của triều đình. Nhà Trần đã chiếm một lượng ruộng đất của nông
dân hoặc của công xã để cho các vương hầu lập thái ấp, ngoài ra chính các vương
hầu này cũng lợi dụng uy quyền của mình để chiếm đoạt thêm những ruộng đất mà
họ có thể lấy được từ tay nông dân. Sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất trong
giai đoạn này đã dẫn đến sự phát triển của thành phần địa chủ bình dân, chính vì
vậy đã xuất hiện mối quan hệ nông nô - tá điền. So với những mối quan hệ trước
10


như quan hệ địa chủ quý tộc và người sản xuất, thì mối quan hệ nông nô - tá điền có
những điểm tiến bộ nhất định. Một là người sản xuất (tá điền) đã được tự do hơn, họ
ít bị ràng buộc về thân thể. Hai là sự năng động, tự chủ của người sản xuất đã được
cải thiện, do đó năng suất lao động được nâng cao và làm ra được khối lượng sản
phẩm nhiều hơn trước.
Với hai hình thức sở hữu c ng tồn tại - công và tư - nhưng sở hữu tư có
chiều hướng gia tăng. Do vậy, mâu thuẫn kinh tế cơ bản trong xã hội bấy giờ là mâu
thuẫn về ruộng đất giữa công hữu và tư hữu. Mâu thuẫn này thể hiện trên hai
phương diện: thứ nhất là mâu thuẫn giữa sở hữu toàn quốc (trên danh nghĩa là Nhà
nước) với sự chiếm dụng của những tập thể công xã; thứ hai là mâu thuẫn giữa chế
độ sở hữu công xã với sở hữu tư nhân. Chính những mâu thuẫn tuy không mang
tính đối kháng gay gắt này, nhưng đã khiến chính quyền trung ương tập quyền nhà
Trần phải có những giải pháp ph hợp để duy trì sự tồn tại của triều đình. Một trong
những thách thức của chính quyền nhà Trần bấy giờ khi giải quyết vấn đề ruộng đất
tư nhân lúc này đã trở thành hàng hóa trao đổi, nó sẽ phá vỡ kết cấu phân chia
ruộng đất truyền thống, điều đó kéo theo hàng loạt biến động của xã hội.

thời Trần nói chung và cuối Trần nói riêng khi sản xuất trên ruộng công được phân
chia và phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước mà người trực tiếp thu thuế là bộ
máy quản lý làng xã, hoặc nộp tô cho địa chủ. Bộ phận khác trong tay không có
ruộng thì trở thành nông nô - nô tỳ và những người này chịu sự bóc lột trực tiếp của
Nhà nước hoặc địa chủ, họ bị giai cấp thống trị bóc lột giá trị thặng dư dưới các
hình thức tô thuế, địa tô và một số hình thức không điển hình khác.
Từ những chuyển biến, thay đổi trong vấn đề đất đai và ruộng đất của thời
Trần, nên cuối thế kỷ XIV, Nhà nước đã gặp phải nhiều khó khăn, thách thức: một
là kinh tế của Nhà nước trở nên suy kiệt, hai là nông dân ngày càng nghèo dẫn tới
mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, vì vậy các cuộc khởi nghĩa nông dân và nô tỳ nổ
ra như là hệ quả tất yếu. Những khó khăn này không dễ giải quyết trong hoàn cảnh
triều đình phong kiến trung ương lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Để giải
quyết vấn đề khủng hoảng, nhất là giải quyết sự khó khăn, đói kém của dân nghèo,
triều đình phong kiến cuối thời Trần đã phải kêu gọi nhà giàu ở các địa phương đưa
thóc ra phát chẩn cho dân nghèo và những nhà giàu này được Nhà nước trả b ng
tiền tương đương với lượng thóc, điều này khiến lượng tiền đưa vào lưu thông trong
xã hội cũng tăng cao, dẫn đến nguy cơ đồng tiền mất giá, kinh tế lạm phát. Năm
1362 “lại hạ chiếu cho các nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, ban
chức tước cho họ theo thứ tự khác nhau” [07, tr.646].

12


Lúc này, đồng tiền có tác động rất lớn đối với kinh tế và xã hội, nó làm thay
đổi số phận và địa vị của con người trong xã hội, “Đời Minh Tông, Ngô Dẫn - trại
chủ xã Đại Lãi bắt được viên ngọc rết rất lớn đem đến Vân Đồn. Các chủ thuyền
buồm tranh nhau mua. Một chủ thuyền muốn có được vật lạ đó, dốc hết của cải để
mua. Ngô Dẫn trở nên giàu có. Minh Tông đem con gái là công chúa Nguyệt Sơn gả
cho Ngô Dẫn” [07, tr. 647]. Như vậy, một nông dân đã bỗng chốc biến thành quý
tộc nhờ vào sức mạnh của đồng tiền. Mặt khác, một ông vua Trần đã coi trọng đồng

trả b ng tiền.
Như vậy, Nhà nước nghèo nhưng có một bộ phận địa chủ quan lại giàu có.
Do không có khả năng cứu nổi dân nghèo, nên Nhà nước phải dựa vào tầng lớp có
nhiều lương thực là địa chủ. Đầu tiên Nhà nước còn trả họ b ng tiền sau thì trả b ng
chức tước. Lúc này ở xã hội thời Trần thể hiện rõ mâu thuẫn giữa hai giai cấp - địa
chủ và nông dân. Giai cấp địa chủ gồm có địa chủ quý tộc, địa chủ quan lại và địa
chủ không quan tước.
Bộ phận địa chủ quý tộc là lớp người có nhiều đặc quyền đặc lợi trong xã
hội. Họ được sử dụng hai loại ruộng đất để khai thác làm giàu: ruộng đất thái ấp do
vua ban không phải là của riêng của quý tộc tôn thất, do đó không có quyền thừa kế.
Loại thứ hai là điền trang được nhà vua cho phép quý tộc tôn thất triệu tập dân
phiêu tán để khai khẩn ruộng hoang và ruộng đất do mua bán. Tầng lớp địa chủ này
đã dần nắm mọi cương vị chủ chốt ở triều đình, đó là các quan hàm: Thái sư, Thái
phó, Thái bảo.
Bộ phận địa chủ quan lại: do phải tăng cường quản lý bộ máy nhà nước mà
nhà Trần mở rộng sử dụng người ngoài tôn thất giữ chức vị. Bộ phận này không
được phép lập điền trang, nhưng vẫn có ruộng đất. Bộ phận địa chủ không quan
tước chiếm giữ một số lượng ruộng đất lớn, mỗi địa chủ ước chừng 4 mẫu trở lên.
Họ có mặt trong hàng ngũ chức sắc của làng xã, có uy thế về kinh tế - chính trị ở địa
phương.
Giai cấp nông dân gồm có: nông dân, nô tỳ, gia nô. Giai cấp này bị bóc lột
thặng dư lao động thông qua các hình thức tô thuế, địa tô và những hình thức kinh
tế khác.
Hai giai cấp này có mâu thuẫn với nhau, đó là mâu thuẫn giữa một bên đi
bóc lột và một bên bị bóc lột. Mâu thuẫn giữa một bên chiếm số ít lại nắm giữ hết tư
liệu sản xuất và của cải của xã hội và một bên đa số người lao động không có tư liệu
sản xuất bị áp bức. Theo quy luật xã hội có áp bức thì có đấu tranh, trong những
năm cuối thời Trần, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô tỳ liên tiếp
nổ ra.


dân thì xã hội cũng đi vào bất ổn, kéo theo khủng hoảng kinh tế - xã hội làm cho
những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội phong kiến ngày càng trở nên sâu sắc
đưa xã hội vào loạn lạc, khởi nghĩa nông dân nổ ra, cao nhất là khủng hoảng triều
chính - khủng hoảng về quyền lực Nhà nước. Xã hội Đại Việt thời cuối Trần cũng

15


vậy, khi đó Nhà nước rơi vào tình trạng khủng hoảng quyền lực, hệ thống chính
quyền từ trung ương đến địa phương mất khả năng kiểm soát xã hội, Nhà nước
không còn giữ được chức năng thống trị của nó như trước nữa.
1.1.3. Văn hoá - tư tưởng
Dưới các triều đại phong kiến, ngoài Nho giáo là ý thức hệ tư tưởng của Nhà
nước phong kiến, còn có Phật giáo và Đạo giáo giữ vai trò quan trọng trong đời
sống tinh thần dân tộc. Đạo Phật được truyền trực tiếp vào nước ta từ đầu công
nguyên. Trụ sở quận Giao Chỉ, làng Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) đã sớm trở
thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Từ khi giành độc lập, Phật giáo tiếp tục phát
triển. Dưới triều vua Đinh khi kinh đô còn ở Hoa Lư, Ngô Chân Lưu được vua Đinh
phong làm Tăng Thông ngang hàng Tể tướng. Sư Vạn Hạnh nổi tiếng là nhà tiên tri
được vua coi trọng s ng bái mời vào hỏi ý kiến. Bắt đầu từ thời nhà Lý, Phật giáo
phát triển đến giai đoạn hưng thịnh, được coi là quốc giáo. Nhà ch a có những
quyền lợi to lớn về chính trị và kinh tế. Nhiều cao tăng được tham gia triều chính.
Sư Đa Bảo được vua Lý mời vào hỏi han chính sự trong triều.
Về kinh tế, các cao tăng đều có những tu viện to lớn tương tự như các điền
trang của vương hầu quý tộc. Các nhà sư được Nhà nước công nhận thì được rút tên
khỏi tướng tịch và miễn sưu thuế, lao dịch. Như vậy nhà sư ở thời bấy giờ được
ngang hàng với vương hầu quý tộc cả về kinh tế lẫn chính trị. Lúc này, tầng lớp sư
sãi tăng lên rất nhiều, có nhiều nhà sư xuất thân từ tầng lớp quý tộc, quan liêu; các
vua dưới thời Lý - Trần khi thôi việc triều chính thường lên ch a đi tu. Các vua
Thái Tông, Thánh Tông đều viết sách nghiên cứu sâu về Phật học, vua Nhân Tông

việc thi Nho giáo. Năm 1070, nhà Lý xây Văn miếu, năm 1075 mở khoa thi Nho
học đầu tiên, năm 1076 lập Quốc tử giám. Các sự kiện này có ý nghĩa to lớn đối với
lịch sử văn hoá, tư tưởng của dân tộc, mở ra một thời kỳ mới của Nho học, Nho
giáo ở nước ta. Đến đây, Nho giáo mới trở thành cái bản địa, được Nhà nước Đại
Việt sử dụng và trân trọng. Sang thời Trần, nhất là cuối thời Trần, Nho giáo ngày
càng chiếm ưu thế. Vào năm 1253, Trần Thái Tông “lập Quốc học viện, tô tượng
Khổng Tử, Chu Công và

thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ, xuống chiếu cho nho

sỹ trong nước đến Quốc tử viện giảng học Tứ thư, Ngũ kinh . Năm 1281, Nhân Tông
lập thêm nhà học ở Thiên Trường. Năm 1397 bắt đầu có chức học quan và tổ chức việc
học tập ở cấp châu huyện để hàng năm tiến cử người ưu tú cho triều đình.
Tuy nhiên, trước khi Nho giáo chiếm ưu thế tuyệt đối vào cuối thời Trần,
trong xã hội Đại Việt thời Lý - Trần đã diễn ra một quá trình phủ định và phê phán
Phật giáo. Chủ yếu là ý kiến chỉ trích, bài bác Phật giáo của giới Nho sỹ đang lên,
đỗ đạt cao được Nhà nước trọng dụng. Ngay từ thời Lý, Đàm Dĩ Mông đã lên án
Phật giáo:
17


“Hiện nay số sư sãi đã gần ngang với số phu dịch. Tự kết bè lũ lập càn thủ lĩnh,
tụ họp thành bầy làm nhiều việc xấu hoặc ở nơi giới trường tịnh xá mà công nhiên rượu
thịt, hoặc ở chốn tăng phòng tịnh mà riêng tư gian dâm. Ngày ẩn tối ra như phường
cáo chuột, bại hoại phong tục, phương hại giáo lý dần dần đã thành thói quen. Nay
không cấm đi lâu ngày càng tệ” [19, t.1, tr.526].
Những nho sỹ nổi tiếng thời Trần đều chỉ trích Phật giáo một cách mạnh
mẽ, xem Phật giáo là một thứ tà giáo dị đoan. Tiêu biểu là Trương Hán Siêu và Lê
Quát. Năm 1354, Trương Hán Siêu phê phán Phật giáo, đề cao Nho giáo:
“Ch a bỏ rồi lại dựng, ch ng phải ý ta. Bia dựng mà khắc, ta biết nói gì?

thức được vai trò của tư tưởng chính trị Nho giáo - bệ đỡ tinh thần của Nhà nước
quân chủ tập quyền chuyên chế. Đồng thời đây là thời điểm thuận lợi để Hồ Quý Ly
quyết tâm đẩy nhanh quá trình Nho giáo hoá Nhà nước và xã hội, cũng như đề cao
và khuyến khích Nho giáo, Nho học.
1.1.4. Khởi nghĩa nông dân và giặc ngoại xâm
1.1.4.1. Khởi nghĩa nông dân
Lúc này, trong xã hội Trần, giai cấp nông dân như: nông dân, nô tỳ, gia nô
bị bóc lột thặng dư lao động thông qua các hình thức tô thuế, địa tô và những hình
thức siêu kinh tế khác của giai cấp địa chủ và quý tộc. Hai giai cấp này có mâu
thuẫn với nhau, đó là mâu thuẫn giữa một bên bóc lột và một bên bị bóc lột. Mâu
thuẫn giữa một bên chiếm số ít lại nắm giữ hết tư liệu sản xuất và của cải xã hội và
một bên đa số người lao động không có tư liệu sản xuất bị áp bức nặng nề, bất công.
Bởi vậy, trong những năm cuối thời Trần, khắp lãnh thổ Đại Việt, hàng loạt cuộc
khởi nghĩa của nông dân và nô tỳ đã nổ ra. Đó chính là kết quả của khủng hoảng
kéo dài của kinh tế nông nghiệp. Cuộc khủng hoảng này dẫn tới các cuộc đấu tranh
giai cấp công khai, tức là các cuộc khởi nghĩa nông dân, báo hiệu sự suy thoái của
vương triều Trần.
Tháng 2 năm 1344, b ng nổ cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ quê ở Trà Hương
(Hải Dương ngày nay) [07, tr.627]. Sau 16 năm, cuộc khởi nghĩa mới bị dập tắt.
Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa đầu tiên và kéo dài nhất thời kỳ này. Ngô
Bệ tập hợp lực lượng trên núi Yên Phụ, lấy đó làm căn cứ của cuộc khởi nghĩa. Phải
sau hơn một năm rưỡi, vào cuối năm 1345, quân triều đình mới đàn áp được. Tuy
nhiên, Ngô Bệ đã chạy thoát tiếp tục chống lại triều đình. Năm 1358, Ngô Bệ tập
hợp được lực lượng của mình và trở lại núi Yên Phụ. Ngô Bệ tự xưng tước vị, dựng
cờ trên núi. Ông ra lệnh yết bảng khắp nơi nói rõ mục đích cuộc khởi nghĩa là để
cứu giúp dân nghèo, vì thế cuộc khởi nghĩa đã lôi cuốn được nhiều người hưởng
ứng và kiểm soát được một v ng rộng lớn. Phải đến tháng 3 năm 1360, triều đình
mới đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Ngô Bệ bị bắt và bị giết tại kinh đô.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status