a. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Bất kỳ một nhà nớc nào cũng đều đặt ra những mục tiêu, yêu cầu để
giáo dục công dân của mình phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của xã hội mà
họ đang sống. Mục đích của giáo dục là nhân cách con ngời với những phẩm
chất cần thiết mà xã hội đòi hỏi phải có. Trong những phẩm chất đó, xét đến
cùng, phẩm chất chính trị của thế hệ trẻ quyết định hớng đi của đất nớc trong
tơng lai. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nớc ta luôn luôn quan tâm đến công tác
giáo dục TTCT trong các trờng ĐH, CĐ nói riêng và trong cả hệ thống giáo
dục nói chung. Đó là phát triển toàn diện về chính trị, t tởng, trí tuệ, đạo đức,
thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung,
tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng
đồng và xã hội [17; tr.38] của con ngời Việt Nam, mà trớc hết là thế hệ trẻ,
đặc biệt tầng lớp HS, SV.
Sinh viên là tầng lớp trí thức tơng lai của đất nớc, sẽ là một bộ phận
quan trọng của lực lợng sản xuất hiện đại, đi đầu trong công cuộc xây dựng và
phát triển đất nớc vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Cùng với sự phát triển của đất nớc, nhiều sinh viên đã phát huy truyền
thống cha anh, ham học, học giỏi, nắm vững kiến thức và trau dồi tay nghề
Vì ngày mai lập nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một bộ phận sinh
viên còn thờ ơ với chính trị, ngại học lý luận, xa rời niềm tin, lý tởng, rơi vào
lối sống thực dụng. Một số ngời làm công tác giáo dục còn coi nhẹ giáo dục
TTCT. Cũng có nơi, có ngời, trên lời nói thì rất coi trọng việc giáo dục TTCT
cho sinh viên nhng trong thực tế thì lại rất coi thờng, không quan tâm, hoặc
quan tâm cho phải phép dẫn đến tình trạng thực dụng trong giáo dục, làm sa
sút, suy giảm cả một mảng giáo dục quan trọng.
Trong khi đó, những tiêu cực của KTTT hiện nay đang thẩm thấu vào
mọi quan hệ xã hội, làm sai lệch các giá trị đạo đức, ảnh hởng xấu đến lớp trẻ.
1
Quốc gia - HN - 1995). Những biện pháp chủ yếu phát huy tính tích cực của
thanh niên học sinh, sinh viên nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
2
đại hóa đất nớc của Nguyễn Thị Phơng Hồng - 1995. Định hớng giá trị của
thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam của Dơng Tự Đam 1995. Năm 1996, Nguyễn Đình Đức bảo vệ luận án PTS khoa học triết học,
chuyên ngành CNCS khoa học với đề tài Những yếu tố khách quan và chủ
quan tác động đến t tởng chính trị của sinh viên - Thực trạng và giải pháp.
Tình hình t tởng chính trị, đạo đức, lối sống của sinh viên các trờng Đại học
và Cao đẳng các tỉnh phía Bắc miền Trung hiện nay do TS. Đoàn Minh Duệ
chủ nhiệm đề tài cùng nhóm tác giả.
Tóm lại, những công trình trên đây đã có những đóng góp đáng kể, đã
nghiên cứu một cách có trọng tâm, hớng tới đổi mới GD - ĐT nói chung và
từng lĩnh vực giáo dục sinh viên nói riêng. Song cha có công trình nào nghiên
cứu chuyên biệt về TTCT của sinh viên ĐHV trong giai đoạn đổi mới hiện nay
một cách bao quát và trọn vẹn. Thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, những
vấn đề còn cần đợc tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Xuất phát từ định hớng
XHCN của công cuộc đổi mới, từ chiến lợc phát huy nhân tố con ngời của
Đảng; xuất phát từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh và từ thực tiễn công tác giáo dục TTCT; đối chiếu với tình hình
nghiên cứu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Một số yếu tố tác động đến
t tởng chính trị của sinh viên trờng Đại học Vinh hiện nay .
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Thông qua việc phân tích một số yếu tố tác động đến TTCT của sinh
viên ĐHV, luận văn góp phần nâng cao nhận thức về những vấn đề TTCT của
sinh viên cũng nh tầm quan trọng của công tác giáo dục TTCT ở trờng ĐHV
hiện nay.
Để đạt đợc mục đích đó, luận văn giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Tìm hiểu khái niệm TTCT và một số khái niệm liên quan.
khoá luận đợc chia thành hai chơng, năm tiết.
4
b. phần nội dung
Chơng 1
T tởng chính trị và tình hình t tởng chính trị của
sinh viên đại học vinh hiện nay
1.1. T tởng chính trị và vai trò của giáo dục t tởng chính trị cho sinh viên
hiện nay
1.1.1. T tởng chính trị và kết cấu của nó.
T tởng là quan điểm và ý nghĩa chung của con ngời về thế giới. Khi t tởng ấy phản ánh những vấn đề chính trị thì đợc gọi là t tởng chính trị.
Nói đến TTCT là nói tới bộ phận trọng yếu của ý thức xã hội. TTCT tạo
nên động lực sức mạnh vật chất xã hội trong hoạt động thực tiễn của con ngời;
cộng đồng dân tộc. Để có một nhận thức đúng, cần gắn phạm trù TTCT với
phạm trù chính trị, với nguồn gốc, bản chất chính trị.
Chính trị là lĩnh vực đặc biệt của xã hội có giai cấp và là một vấn đề
phức tạp vì nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của các giai cấp và các lực lợng
xã hội. Chúng ta có thể tiếp cận chính trị với nhiều góc độ khác nhau:
Tiếp cận với chính trị theo t cách là một hình thức hoạt động, thì có thể
coi chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành, quan hệ của bộ máy nhà
nớc; hoạt động của một cá nhân, một giai cấp, chính đảng, tập đoàn xã hội
nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nớc; những hoạt động
giáo dục về mục đích, đờng lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một
chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển nhà nớc; những hoạt
động nhằm nâng cao giác ngộ hoặc tổ chức cho quần chúng thực hiện những
nhiệm vụ chính trị nhất định.
Nếu tiếp cận theo góc độ tổ chức thì chính trị bao gồm nhà nớc, các đảng
phái, các tổ chức chính trị. Các tổ chức này có thể đấu tranh với nhau để giành
tính bản chất của nhu cầu kinh tế.
Nh trên đã nói, chính trị gắn chặt với sự phân chia xã hội thành giai cấp,
với sự tồn tại của giai cấp, với quyền lực chính trị, cho nên TTCT cũng có tính
giai cấp rõ rệt và nó cũng phản ánh đời sống xã hội nói chung trong một giai
đoạn lịch sử nhất định. Vì chính trị là sự thống nhất của một giai cấp này hay
giai cấp khác, cho nên TTCT hay hệ TTCT của giai cấp đó chiếm địa vị thống
6
trị, làm nền tảng, chi phối các t tởng khác nh đạo đức, pháp quyền v.v... Vì vấn
đề cơ bản của chính trị là vấn đề chính quyền nên TTCT cũng hớng tới mục
tiêu giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nớc. Từ một số luận điểm cơ bản
trên, có thể quan niệm TTCTlà toàn bộ các quan điểm của một giai cấp nhất
định về chế độ xã hội, về quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc, về vấn đề nhà
nớc và các đảng phái trong xã hội v.v... của một ngời, một tổ chức hoặc một
giai cấp. Nó là sự phản ánh về quyền lợi của giai cấp và các phơng thức hoạt
động xã hội để bảo vệ quyền lợi của giai cấp ấy. Nói một cách ngắn gọn hơn,
TTCT là các quan điểm về toàn bộ hoạt động gắn với những quan hệ giữa các
giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau theo lợi ích của một giai cấp
nào đó.
TTCT là một hình thái ý thức xã hội. Nếu tồn tại xã hội là toàn bộ
những điều kiện vật chất của đời sống xã hội gồm những yếu tố, điều kiện tự
nhiên, điều kiện dân số, phơng thức sản xuất cũng nh toàn bộ những điều kiện
sinh hoạt vật chất khác, trong đó phơng thức sản xuất là yếu tố quyết định thì
đối lập với nó là toàn bộ những t tởng, ý chí, tình cảm v.v... của xã hội, là phản
ánh của tồn tại xã hội vào đầu óc con ngời, gọi là ý thức xã hội. Trong ý thức
xã hội, t tởng (quan điểm, suy nghĩ) là biểu hiện tập trung của sự thống nhất
giữa phản ánh, phán đoán và sáng tạo, giữa mặt chủ quan và khách quan của ý
thức, nó là xuất phát điểm quy định phơng hớng suy nghĩ, cách xem xét và
hiểu các hiện tợng, các vấn đề nh thế nào; là sự vận dụng hoạt động của trí óc
tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm
vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nớc để đề ra Cơng lĩnh chính trị, đờng lối cách mạng đứng đắn, phù hợp với nguyện vọng của
nhân dân [16; tr.4].
Xét về cấu trúc, TTCT đợc tạo thành trong sự thống nhất, tác động qua
lại của những yếu tố cơ bản sau đây:
Một là, Tri thức chính trị.
Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con ngời về thế giới hiện thực,
làm tái hiện trong t tởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn
đạt chúng dới những hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác.
8
Tri thức có nhiều cấp độ khác nhau nh: Tri thức thông thờng đợc hình
thành do hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân, mang tính chất cảm tính trực
tiếp, bề ngoài và rời rạc. Tri thức khoa học (tri thức lý luận) phản ánh trình độ
của con ngời đi sâu nhận thức thế giới hiện thực. Tri thức lý luận là hệ thống
các quan điểm, t tởng về chính trị do các nhà lý luận của một giai cấp nhất
định nghiên cứu xây dựng nên trên cơ sở khái quát từ thực tiễn chính trị. Do
tính độc lập tơng đối của nó, lý luận có thể đi trớc, dự báo hớng phát triển của
thực tiễn. Tri thức lý luận có vai trò kim chỉ nam, định hớng, soi đờng, chỉ
đạo hành động thực tiễn, nó làm cho hoạt động của con ngời trở nên chủ động,
tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm và tự phát. Tuy nhiên, nó cũng có khả
năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tởng, giáo điều.
Hồ Chí Minh viết: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên
tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hớng dẫn
thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận
suông [22; tr.161].
Hai là, Tình cảm, niềm tin và ý chí chính trị.
Việc nhấn mạnh yếu tố tri thức chính trị không có nghĩa là phủ nhận
nào đó. Tâm lý học định nghĩa: ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện
ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích đòi hỏi phải có sự nỗ lực
khắc phục đợc khó khăn [6; tr.155].
ý chí chính trị của con ngời đợc hình thành, biến đổi và phát triển tùy
theo những điều kiện chính trị xã hội - lịch sử nhất định, nó phản ánh quan hệ
chính trị và lợi ích chính trị. Tính chất của ý chí đợc quyết định ở chỗ họ là đại
diện cho lợi ích của giai cấp nào, dân tộc nào. Xu hớng của ý chí tùy theo vai
trò của các giai cấp khác nhau và tùy theo tính chất của từng thời đại. Giá trị
của ý chí không chỉ đợc xem xét ở chỗ ý chí đó mạnh, yếu, cao thợng, thấp
hèn nh thế nào, mà còn ở chỗ ý chí đó đợc hớng vào cái gì. Nhu cầu và lợi ích
chính trị là nguồn gốc của ý chí chính trị, nghĩa vụ xã hội, trình độ ý thức,
trình độ rung cảm của cá nhân, niềm tin, là những thành phần căn bản của ý
chí chính trị con ngời.
Ba là, Lý tởng xã hội là quan niệm, hình ảnh về một chế độ xã hội đợc
coi là hoàn thiện nhất, phù hợp với lợi ích kinh tế và chính trị của một tập đoàn
10
xã hội nào đó. Lý tởng không chỉ là động lực kích thích hoạt động chính trị mà
còn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phơng thức, phơng tiện hoạt
động chính trị. Đối với cá nhân, mỗi ngời trởng thành đều có lý tởng của mình.
Đó có thể là một hình ảnh cụ thể, thực tế, sinh động hoặc là hình ảnh trừu tợng, trong đó kết hợp nhiều nét riêng rẽ của nhiều ngời mà cá nhân đó a thích,
muốn noi theo, muốn đạt tới. Tâm lý học coi lý tởng là biểu tợng (hình ảnh)
của một ngời về điều gì đó mà nó cảm thấy rất cao cả, hoàn thiện và nó rất
muốn đạt tới. Lý tởng là hình ảnh dẫn dắt mỗi ngời và là tiêu chuẩn cho các
hành vi của nó [11; tr.167].
Tóm lại, TTCT ngoài nhân tố tri thức, còn cần phải có sự chuyển hóa từ
tri thức để xuất hiện các nhân tố tình cảm, ý chí, niềm tin, lý tởng thì các quan
điểm chính trị mới mang tính ổn định, vững chắc, mới trở thành thuộc tính
trong nhân cách, trở thành biểu tợng tập trung nhất của xu hớng phát triển
đẩy ngời khác cùng làm theo; thì TTCT biểu thị ở lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa
xã hội, niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự kiên định mục tiêu, lý tởng
chính trị và bản lĩnh nhìn nhận các sự kiện chính trị để trên cơ sở đó định hớng, biến thành động lực cho hành vi và hoạt động. Ngời ta nhận biết nó thông
qua tâm trạng, thái độ và hành vi chính trị ở mỗi con ngời.
1.1.2. Vai trò của t tởng chính trị trong giáo dục đại học.
Từ khi xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển, con ngời phải
nhận thức thế giới khách quan. Trong quá trình đó, con ngời dần dần tích lũy
đợc những kinh nghiệm lao động và chinh phục tự nhiên. Từ đó, nảy sinh nhu
cầu truyền thụ những kinh nghiệm đã tích lũy đợc cho nhau. Đây chính là
nguồn gốc phát sinh của hiện tợng giáo dục.
Trong buổi đầu, giáo dục xuất hiện nh một hiện tợng tự phát diễn ra đơn
giản theo lối quan sát - bắt chớc, về sau giáo dục trở thành một hoạt động giáo
dục. Con ngời dần biết xác định mục đích, hoàn thiện nội dung và tìm ra phơng thức để tổ chức quá trình giáo dục một cách có hiệu quả.
Ngày nay, giáo dục đã trở thành một hoạt động đợc tổ chức đạt tới trình
độ cao. Nhân loại hiện đang có sự nhận thức lại về sự phát triển, khẳng định
con ngời là trung tâm của sự phát triển. Con ngời vừa là mục tiêu vừa là động
lực của sự phát triển. Mọi sự phát triển phải vì con ngời, cho con ngời, thỏa
mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của con ngời. Đồng thời, con ngời là yếu tố
12
quyết định sự phát triển. Từ sự nhận thức đúng đắn này, ngời ta đang dần dần
đặt giáo dục đúng vị trí quan trọng của nó.
Trớc đây, ngời ta xem giáo dục là một bộ phận của kiến trúc thợng tầng,
là một phúc lợi xã hội. Còn bây giờ, giáo dục đợc xem là một bộ phận của hạ
tầng cơ sở. Muốn phát triển kinh tế - xã hội phải bắt đầu từ việc xây dựng cơ
sở hạ tầng.
Ngay từ 1947, Nhật Bản đã đặt giáo dục vào vị trí hàng đầu của các
chính sách quốc gia.
Các nớc EU đã xem giáo dục là nhân tố phát triển kinh tế - xã hội và lấy
một xã hội có giai cấp. Từ trớc đến nay, ở các quốc gia, vấn đề giáo dục con
ngời để phục vụ bao giờ cũng nằm trong mục tiêu chính trị bảo vệ lợi ích của
giai cấp thống trị.
Trớc đây, Lênin đã từng nhắc nhở rằng nhiệm vụ thật sự xây dựng xã
hội CSCN, chính là của thanh niên. Và vì vậy, thế hệ thanh niên chỉ có thể học
CNCS khi biết gắn từng bớc học tập, giáo dục và rèn luyện của mình với cuộc
đấu tranh của toàn xã hội.
Đảng CSVN xác định vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm trong
chiến lợc phát huy nhân tố và nguồn lực con ngời, coi công tác thanh niên là
một vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng. Vì vậy, phải đào tạo, giáo dục, bồi dỡng một thế hệ
con ngời mới có lý tởng cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức,
có sức khỏe và lao động giỏi, sống có văn hóa và nghĩa tình, giàu lòng yêu nớc
và tinh thần quốc tế chân chính, vững vàng về chính trị, kiên định con đờng xã
hội chủ nghĩa [18; tr.83]. Muốn thực hiện đợc nhiệm vụ đó, công tác giáo dục
TTCT cho sinh viên không thể không tiến hành một cách nghiêm túc, khoa
học và có hiệu quả.
Sự tất yếu còn bắt nguồn từ bản chất giai cấp của giáo dục, từ bản chất
khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và từ
yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN. Cho nên, phải
giáo dục cho lớp trẻ nhận thức và giải quyết đợc những vấn đề hiện tại của
cuộc sống dựa trên cơ sở vững chắc của lý luận và phơng pháp luận chủ nghĩa
Mác - Lênin, bởi vì nh Lênin nói, chủ nghĩa Mác cung cấp cho loài ngời và
nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại, bởi vì lý luận
14
đó có sự kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ với tinh thần cách
mạng, trong đó có lý luận về chính trị.
Tầm quan trọng của TTCT trong giáo dục đại học còn đợc bắt nguồn từ
- Số HSSV dân tộc thiểu số 341, định c ở vùng cao 796.
- Số HSSV nội trú 1.152 trong đó có 1.072 HSSV, 22 học viên cao học,
25 lu học sinh Lào và 8 lu học sinh Thái Lan. cán bộ, công chức, giáo viên ở
nội trú có 92. Chuyên gia nớc ngoài 2 nữ (Mỹ và Ca-na-đa).
- Số HSSV ngoại trú tại phờng Bến Thuỷ 5382, phờng Trờng Thi 2022,
phờng Trung Đô 2880. Số HSSV có hộ khẩu tại TP Vinh 1995, và tạm trú các
phờng xã khác là 1.397 trong và ngoại thành phố, ngoài ra có 286 sinh viên
của các lớp đặt tại Thanh Hoá và Hà Tĩnh [7; tr.1].
1.2.2. Tình hình t tởng của sinh viên Đại học Vinh hiện nay.
Đại bộ phận sinh viên Nhà trờng luôn giữ vững và phát huy truyền
thống yêu nớc, hiếu học, đoàn kết, tin tởng vào sự nghiệp phát triển Nhà trờng.
Đa số sinh viên có ý thức học tập, rèn luyện tốt, chủ động để chuẩn bị sau này
lập nghiệp. Nhiều bạn đã khắc phục khó khăn để vơn lên trong học tập. Nhiều
sinh viên vừa học vừa làm thêm để tự trang trải sinh hoạt. Số sinh viên tốt
nghiệp tiếp tục học cao học ngày một tăng.
Qua điều tra, khảo sát và xử lý số liệu, có thể khái quát những nét nổi
bật về thực trạng tình hình TTCT của sinh viên ĐHV nh sau:
Về thái độ của sinh viên đối với sự lựa chọn con đờng XHCN: Đây là
một trong những nét quan trọng nhất của TTCT, là nền tảng nhân cách của
sinh viên.
Thái độ
Tán thành
Phân vân
Không nhất thiết
Chuyển hớng khác
Toán (%)
79,5
18,2
1,3
Về niềm tin của sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng:
Tên khoa
Toán
Văn
Ngoại ngữ
Tin tuyệt đối (%)
76
91
73
Phân vân (%)
19
9
25
Không trả lời (%)
5
0
2
Theo kết quả trắc nghiệm trên, có 13,25 % sinh viên cha vững niềm tin
vào sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo.
Khi đợc hỏi, những sinh viên này cho rằng bởi họ nhận thấy trong xã hội đang
nảy sinh nhiều mặt trái, mặt tiêu cực (tham nhũng, quan liêu, lãng phí, buôn
lậu); một bộ phận đảng viên, cán bộ công nhân viên chức nhà nớc bị thoái
hóa phẩm chất đạo đức. Song, đại bộ phận sinh viên Nhà trờng luôn tin tởng
vào thành công của sự nghiệp đổi mới (80%).
Từ niềm tin đó, lý tởng cách mạng đợc hình thành. Sinh viên phần đa có
nhu cầu phấn đấu để đợc đứng vào hàng ngũ của Đảng và thực tế, số lợng sinh
16
2
Xây dựng
95
5
0
Hóa dầu
91
2
7
Cử nhân Sử
78
14
8
Để đánh giá thái độ sinh viên đối với ngành nghề đào tạo chỉ qua các
mã ngành này thì kết quả điều tra và sự phân tích đánh giá ở đây cũng ở phạm
vi nhất định, tơng đối mà thôi. Bảng số liệu cho thấy sinh viên ĐHV nhìn
chung ham thích nghề đã chọn. Kết quả này có đợc do nhiều nguyên nhân,
song, một nguyên nhân cơ bản đó là có sự đổi mới trong chủ trơng, chính sách
GD - ĐT.
Từ chỗ ham thích ngành nghề, t tởng trung bình chủ nghĩa trớc đây của
sinh viên đã đợc khắc phục đáng kể. Việc học thêm tin học, ngoại ngữ của một
số ngành nghề đã thành phong trào rộng rãi. Hàng năm có hàng nghìn lợt sinh
viên tham dự học. Số sinh viên đạt kết quả học tập xuất sắc, khá, giỏi, đạt giải
trong các cuộc thi Olimpic các môn học, trong nghiên cứu khoa học ngày càng
nhiều. Số sinh viên đạt giải sinh viên Nghiên cứu khoa học trong năm 2002
đến nay là: 22 sinh viên tham gia thì cả 22 sinh viên đạt giải trong đó: 2 giải
nhì, 5 giải ba, 15 giải khuyến khích. Số sinh viên đạt giải thởng Sinh viên
Nghiên cứu khoa học sau khi tốt nghiệp đợc giữ lại công tác tại đơn vị là
26/52 sinh viên [7; tr.5 - 6]. Một số công trình nghiên cứu của sinh viên đã đợc
Khiển trách
58
268
17
40
19
Cảnh cáo
198
51
6
3
13
Đình chỉ
Tổng
345
601
393
712
59
82
105
148
50
82
[7; tr.5]
Bên cạnh đó còn có một số sinh viên có lối sống buông thả, thiếu văn
ý thức của chủ thể và tác động vào t tởng và hoạt động của chủ thể trong hoàn
cảnh đó. Yếu tố chủ quan là toàn bộ hoạt động của chủ thể ( hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn) nhằm thực hiện mục đích và những thuộc tính,
phẩm chất, trạng thái của chủ thể biểu hiện trong hoạt động đó.
20
Nh vậy, chủ thể ở đây là sinh viên ĐHV, các yếu tố chủ quan là những
yếu tố phụ thuộc vào sinh viên và các yếu tố khách quan là những yếu tố tồn
tại ở ngoài sinh viên, không phụ thuộc vào sinh viên nhng lại có tác động đến
việc hình thành TTCT của sinh viên ĐHV.
Những yếu tố cơ bản đợc luận văn đề cập đến nh:
Yếu tố khách quan: truyền thống dân tộc, quê hơng và Nhà trờng; tình
hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nớc; nội dung và hình thức giáo dục TTCT;
các chính sách đào tạo và tuyển dụng; đội ngũ làm công tác giáo dục TTCT.
Yếu tố chủ quan: đặc điểm của lứa tuổi, nhu cầu học tập và hoạt động
văn hóa; nhu cầu sinh hoạt cá nhân; năng lực tự giáo dục của sinh viên.
2.1. Những yếu tố khách quan tác động đến t tởng chính trị sinh
viên trờng Đại học Vinh hiện nay.
2.1.1. Sự tác động của truyền thống dân tộc, quê hơng và nhà trờng.
Nhân loại đã qua lịch sử mà trởng thành. Những thành tựu ngày nay mà
nhân loại đã đạt đợc là do sự kế thừa và phát huy các giá trị mà thế hệ trớc đã
để lại. C.Mác đã từng nói: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là
tổng hòa các mối quan hệ xã hội [10; tr.11]. Và trong vô vàn các mối quan hệ
xã hội của con ngời với thế giới chắc chắn sẽ không thể thiếu đợc sợi dây liên
hệ với quá khứ. Sợi dây đó chính là truyền thống của dân tộc, quê hơng, Nhà
trờng.
Truyền thống là một khái niệm, dùng để chỉ những hiện tợng nh tính
cách, t tởng, tình cảm, thói quen trong t duy, tâm lý, lối ứng xử... đợc hình
thành trên cơ sở những điều kiện tự nhiên - địa lý, kinh tế - xã hội cũng nh
Trên cái nền của truyền thống yêu nớc, nhiều truyền thống khác đợc
hình thành có tác động tới TTCT sinh viên nh truyền thống uống nớc nhớ
nguồn, đền ơn đáp nghĩa những ngời có công với dân, với nớc v.v... Đó
chính là yếu tố tạo nên sự gắn bó giữa quá khứ và hiện tại trong mỗi con ngời
và hình thành ý thức trách nhiệm của thế hệ sau đối với đất nớc.
ở một đất nớc có bề dày truyền thống đáng tự hào đó, dấu ấn của quá trình
lịch sử đấu tranh đã để lại những đặc điểm điển hình trên vùng đất Bắc Trung Bộ,
nơi trờng ĐHV đợc xây dựng. Bắc Trung Bộ là mảnh đất gắn liền với tên tuổi của
22
nhiều danh nhân văn hóa lớn, nhiều anh hùng dân tộc, là nơi sinh ra Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại. Cuộc đời và t tởng Hồ Chí Minh tác động quan trọng tới t tởng,
tình cảm của sinh viên ĐHV. Qua Hồ Chí Minh, sinh viên hiểu đợc sự tiếp thu,
vận dụng và kết hợp các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại nh thế nào.
Đó là tấm gơng tiêu biểu nhất để sinh viên noi theo.
Bắc Trung Bộ cũng là vùng có bản sắc văn hóa riêng đậm nét truyền
thống. Đó là truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, quả cảm anh hùng
trong chiến đấu, bảo vệ quê hơng, đất nớc. Đó là truyền thống hiếu học, trọng
đạo nghĩa. Con ngời miền Trung luôn tôn trọng kẻ sỹ, luôn đề cao đạo học,
luôn tin yêu và kính trọng ngời thầy. Truyền thống này đợc vun đắp từ những
miền quê nghèo về kinh tế, nhng lại giàu về đèn sách, giàu về ngời đậu đạt.
Con ngời nơi đây luôn yêu mến, tự hào về quê hơng, đoàn kết, thơng yêu, đùm
bọc lẫn nhau, coi trọng tình làng nghĩa xóm; có ý chí kiên cờng, nhẫn nại;
thẳng thắn, trung thực, chịu khó, chịu khổ. Cũng vì lẽ ấy mà con ngời ở đây
luôn ý thức và đặt mình trong cái chung của mọi miền đất nớc để khẳng định
mình, song cũng dễ dẫn tới biểu hiện bảo thủ ảnh hởng ít nhiều đến sự hòa
đồng với con ngời phía Bắc và phía Nam về mặt tâm lý, phong cách giao tiếp
và nếp sống.
Cùng với truyền thống dân tộc, quê hơng, TTCT của sinh viên ĐHV còn
lực và là ý thức trách nhiệm để quyết tâm đa trờng ĐHV phát triển đi lên về cả
số lợng sinh viên, quy mô đào tạo, chất lợng đào tạo. Đặc biệt,nó góp phần to
lớn đào tạo ra lớp lớp sinh viên có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo
đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có niềm tin vào chế độ, tin vào sự
nghiệp đổi mới đất nớc.
2.1.2. Sự tác động của tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nớc.
Một trong những sự kiện tác động mạnh đến đời sống sinh viên, đó là
sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu. Vốn là những ngời có nhãn quan
chính trị trong sáng, nhạy cảm với những biến cố chính trị, trớc sự kiện này,
không ít sinh viên đã bị khủng hoảng niềm tin vào CNXH, mất phơng hớng
chính trị, nảy sinh sự dao động, hoài nghi về con đờng mà Đảng và Bác Hồ đã
lựa chọn.
24
Bên cạnh đó, qua các phơng tiện thông tin đại chúng, sinh viên hàng
ngày hàng giờ chứng kiến những cảnh xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ,
bạo loạn lật đổ, hoạt động khủng bố,... diễn ra trên khắp các châu lục, mà gần
đây nhất là sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ và cuộc chiến chống khủng bố ở I Rắc do
Mỹ phát động... Tất cả cho thấy, thế giới vẫn đang chứa đựng nhiều yếu tố bất
ổn, hòa bình thế giới vẫn còn là ớc vọng mong manh. Sự phát triển của thế giới
hiện nay, bên cạnh những thành tựu rực rỡ mà cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ mang lại, nhân loại đang đứng trớc những mâu thuẫn lớn khó vợt qua
nh giữa dân số và môi trờng, giữa giàu và nghèo, giữa tăng trởng kinh tế với tiến
bộ, công bằng xã hội... Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang có nguy
cơ làm đảo lộn và xói mòn các giá trị truyền thống dân tộc và giá trị con ngời,
đa đến khủng hoảng về định hớng chính trị nói chung.
Những hoạt động đó đã tác động nhiều mặt đến sinh viên ĐHV - những
ngời vốn mang trong mình những hoài bão đợc cống hiến sức mình cho đất nớc, họ cần có nhận thức đúng đắn về các chân giá trị nhân loại, cần cảnh giác
nếu không sẽ dễ dàng mất phơng hớng chính trị.