Sự chuyển biến tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu trước năm 1917 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĨNH PHÚ SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
CỦA PHAN BỘI CHÂU TRƯỚC NĂM 1917
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1.1.1. Lược sử chính thể ở Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm
lược 10
1.1.2. Bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 23
1.2. Lƣợc sử tƣ tƣởng chính thể dân chủ tƣ sản ở phƣơng Tây cận
đại ảnh hƣởng đến Việt Nam 31
1.2.1 Lược sử tư tưởng chính thể dân chủ tư sản ở phương Tây cận
đại 31
1.2.2. Ảnh hưởng của tư tưởng chính thể dân chủ tư sản của phương
Tây thời cận đại đến Việt Nam 37
CHƢƠNG 2 QUÁ TRÌNH VÀ NỘI DUNG CHUYỂN BIẾN TƢ
TƢỞNG CHÍNH THỂ CỦA PHAN BỘI CHÂU TRƢỚC NĂM 1917 47
2.1. Giai đoạn tƣ tƣởng chính thể quân chủ của Phan Bội Châu
(1900 - 1904) 48
2.1.1. Nguyên do hình thành và nội dung tư tưởng chính thể quân chủ
của Phan Bội Châu 48
2.1.2. Ảnh hưởng của tư tưởng quân chủ trong những hoạt động yêu
nước của Phan Bội Châu 56
2.2. Giai đoạn tƣ tƣởng chính thể quân chủ lập hiến của Phan Bội
Châu (1904 - 1912) 59

2.2.1. Nguyên do hình thành và nội dung tư tưởng chính thể quân chủ
lập hiến sơ khai của Phan Bội Châu 59
2.2.2. Nguyên do hình thành và nội dung tư tưởng chính thể quân chủ
lập hiến của Phan Bội Châu thời kỳ sau 1906 69
2.3. Giai đoạn tƣ tƣởng chính thể cộng hoà của Phan Bội Châu
(1912 - 1917) 80
2.3.1. Nguyên do hình thành tư tưởng chính thể cộng hoà của Phan
Bội Châu 80
2.3.2. Nội dung tư tưởng chính thể cộng hoà dân chủ của Phan Bội

nhận định về điều này trong kết qủa của nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn chưa
thống nhất.
2
Trong cách tiếp cận triết học qua nhiều công trình lớn, nhỏ từ trước tới
nay, sự quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực tư tưởng chính thể chính trị của Phan
Bội Châu của các nhà khoa học còn chưa nhiều, mà chủ yếu là nghiên cứu
những lĩnh vực đặc sắc khác của Phan Bội Châu như văn học, sử học, hay
quan niệm khái quát chung về vũ trụ quan, nhân sinh quan, tư tưởng triết học
nói chung… Vì vậy, chúng tôi thấy đi vào vấn đề này đây là việc làm có ý
nghĩa để làm rõ hơn tư tưởng của Phan Bội Châu trong vấn đề chính thể chính
trị và hơn nữa bước đầu nêu lên được một số ý nghĩa của tư tưởng chính thể,
nhất là chính thể cộng hoà dân chủ của Phan Bội Châu đối với xã hội Việt
Nam thời bấy giờ.
Hơn thế nữa, đất nước ta hiện nay đang trong sự nghiệp đổi mới thì
việc nghiên cứu tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu còn có một ý nghĩa
thời sự rất quan trọng. Bởi vì đi sâu tìm hiểu sự trăn trở lựa chọn mô hình
chính thể nào cho phù hợp hoàn cảnh đất nước, thời đại của Phan Bội Châu
mang đậm dấu ấn thực tiễn xã hội, dân tộc Việt Nam chúng ta, chúng ta sẽ có
thêm căn cứ, tiền đề, gợi ý để tiếp tục “thiết kế” một mô hình chính thể ngày
càng hoàn thiện, hợp lý đáp ứng các yêu cầu mới của dân tộc trong bối cảnh
hiện nay. Với những lý do trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Sự
chuyển biến tƣ tƣởng chính thể của Phan Bội Châu trƣớc năm 1917 làm
hướng nghiên cứu cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Lịch sử Việt Nam thời cận đại ghi nhận vị trí rất quan trọng của tư
tưởng Phan Bội Châu. Chúng ta biết đến ông như là một nhân vật lịch sử tài
năng ở các lĩnh vực văn thơ, triết học, chính trị, lịch sử. Vì thế, tư tưởng của
Phan Bội Châu là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài
nước với khối lượng rất lớn. Trong những thời gian gần đây có nhiều cuộc
3

trị Quốc gia, Hà Nội, 1998).
Các công trình trên đã tìm hiểu quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị
của Phan Bội Châu dần dần thay đổi theo từng bước hoạt động cách mạng của
ông. Đặc biệt các tác giả nhấn mạnh chuyển hướng tư tưởng ở Phan Bội Châu
sau khi tiếp nhận cội nguồn tư tưởng phương Tây mới qua: “Tân thư”, “Tân
văn”, nên có một số công trình nghiên cứu của tư tưởng ông trong khía cạnh
này tiêu biểu có: “Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX”
do Đinh Xuân Lâm chủ biên, ( Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997), “Ảnh
hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh” của Lê Sỹ Thắng (tạp chí Triết học số 12/1997). Một số công trình
khác đặt tư tưởng chính trị Phan Bội Châu trong sự tương phản với tư tưởng
chính trị Phan Châu Trinh để nổi bật tư tưởng chính trị của ông như: “Tìm
hiểu Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh” của Tôn Quang Phiệt (Nxb Văn,
Sử, Địa, Hà Nội, 1956), “Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa Phan Bội Châu
và Phan Châu Trinh” của Trần Hồng Hạnh (tạp chí Khoa học xã hội, số
1/1995). “Tư tưởng triết học và tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu” của
Nguyễn Văn Hòa, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005), luận án tiến sĩ
triết học “Thế giới quan của Phan Bội Châu” của Lê Ngọc Thông, (Nxb Lao
Động, Hà Nội, 2005).
Các công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu rất nhiều nhưng chưa có
công trình nào dành đi sâu nghiên cứu sự chuyển biến của tư tưởng chính thể
ở Phan Bội Châu.
Đáng chú ý trong kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 130 năm ngày
sinh của Phan Bội Châu, năm 1997, được trường Đại học Khoa học xã hội và
5
nhân văn xuất bản, “Phan Bội Châu con người và sự nghiệp” có một bài báo
cáo đề cập đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng chính thể nhà nước
của Phan Bội Châu: “Tìm hiểu một số quan điểm của Phan Bội Châu về vấn
đề nhà nước”của Vũ Thị Phụng. Báo cáo trên đã phân định các mô hình chính
thể nhà nước mà Phan Bội Châu lựa chọn cũng như những tác động đến sự

Mục đích của luận văn là làm rõ quá trình chuyển biến tư tưởng về
chính thể chính trị của Phan Bội Châu trước năm 1917. Từ đó, chỉ ra được
phần nào ảnh hưởng của tư tưởng đó đối với xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày các cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận thể hiện ở hoàn cảnh lịch
sử, kinh tế, chính trị, tư tưởng xã hội Việt Nam và thế giới đến cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tư tưởng
chính thể của Phan Bội Châu.
- Phân tích quá trình chuyển biến tư tưởng về chính thể của Phan Bội
Châu trước năm 1917: Các nguyên do, nội dung và ảnh hưởng của nó đối với
xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX.
4. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý khoa học cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của
Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam về vấn đề nghiên cứu, kế
thừa di sản truyền thống dân tộc.
4.2. Luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như
lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh và hệ thống hoá…
7
5. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tìm hiểu quá trình chuyển biến tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu
giai đoạn trước năm 1917.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Các di thảo của Phan Bội Châu và các tài liệu liên quan đến quá trình
hình thành và phát triển tư tưởng chính trị, chính thể của Phan Bội Châu.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá quá trình chuyển biến tư tưởng về chính thể của Phan Bội
Châu trước năm 1917.

vào hình thức chính thể nhà nước – căn cứ vào hình thái biểu hiện của thể chế
nhà nước để phân loại các thể chế chính trị. Tên gọi của hình thức chính thể
nhà nước cũng chính là tên gọi của thể chế chính trị” [59, 21].
Hình thức nhà nước là phạm trù được quan tâm đầu tiên trong hoạt động
tổ chức chính trị, bởi nó chứa đựng nội dung hình thức chính thể. Hình thức
nhà nước là cách thức tổ chức và thiết chế quyền lực nhà nước.
Hình thức nhà nước được chia làm 3 bộ phận: Hình thức chính thể, chế
độ chính trị, và hình thức cấu trúc nhà nước.
9
Hình thức chính thể là sự tổ chức quyền lực nhà nước tối cao, những cơ
quan của quyền lực tối cao đó, cơ cấu và trình tự thiết lập những cơ quan ấy,
mối quan hệ qua lại của chúng với nhân dân và mức độ tham gia của nhân dân
vào quá trình thành lập những cơ quan đó.
Có thể dựa vào hai tiêu chí: Quá trình thành lập cơ quan nhà nước tối
cao (nguyên thủ quốc gia) bằng con đường nào và sự tham gia của nhân dân
vào quá trình ấy và cũng như quyền lực nhà nước mà có thể chia làm 2 loại
chính thể : Chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà.
Trong chính thể quân chủ, vua được thành lập bằng con đường thừa kế
thế vị, mà nhân dân không được tham gia bầu cử. Còn trong chính thể cộng
hoà thì nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra nguyên thủ quốc gia bằng con
đường bầu cử tự do.
Hình thức chính thể bị quy định bởi chế độ chính trị: Nói về mục đích
của chế độ nhà nước là gì? những biểu hiện cụ thể thông qua hệ thống tổ chức
hoạt động như thế nào. Chế độ chính trị được chia làm hai loại: Dân chủ và
phi dân chủ, chuyên chế độc tài. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi
của quần chúng nhân dân.
Tư tưởng chính trị là sự phản ánh những quyền lợi của các giai cấp, các
lực lượng xã hội và những hoạt động xã hội khác để bảo vệ các quyền lợi ấy.
Ở Việt Nam, những quan niệm chính thể chính trị trên được hình thành là
một quá trình đấu tranh, xây dựng lâu dài của các nhà tư tưởng và lịch sử đấu

11
Nho giáo – hệ tƣ tƣởng của chính thể quân chủ chuyên chế phƣơng Đông
“Nho giáo là sự tổng hợp những tư tưởng, triết lý, luân lý, đạo đức và thể
chế cai trị ở Trung Quốc có từ những thế kỷ VI – V TCN” [63, 79] do Khổng
Tử (551 – 479 TCN) sáng lập, sau đó được Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Đổng
Trọng Thư (thế kỷ II TCN), Chu Đôn Di (1017 - 1073), Chu Hy (1130 -
1200)… kế thừa và phát triển cho phù hợp với chế độ phong kiến mỗi thời kỳ,
hình thành các loại Hán Nho, Tống Nho
Nho giáo xây dựng mô hình nhà nước quân chủ tập quyền chuyên chế
phương Đông. Bên cạnh đó, Nho giáo chủ trương dùng “Nhân trị”, “Đức trị”
là cách thức điều hành xã hội. Khổng Tử rất chú trọng điều đó: “Dùng đạo
đức làm đường lối chính trị thì như là sao Bắc cực ở một chỗ nhất định mà
các sao khác đều vây quanh” (Tử viết vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ
sở nhi chúng tinh củng chi. Luận Ngữ - thiên Vi Chính) [17, 60]. Nho giáo
chủ trường xây dựng một xã hội với các nguyên tắc “tam cƣơng, ngũ
thƣờng” theo đẳng cấp thứ bậc, mỗi thứ bậc có danh riêng và mỗi người phải
“chính danh” thực hiện bổn phận theo điạ vị của mình: “Vua ra vua, bề tôi ra
bề tôi, cha ra cha, con ra con” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử, Luận ngữ
- thiên Nhan Uyên) [17, 42], như thế xã hội mới ổn định. Nho giáo phù hợp
với các nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở phương Đông, vì chủ
trương bề tôi phải phục tùng tuyệt đối vua chúa. Đến thời Hán, Tống Nho về
sau thì qui tắc ấy càng thêm nghiệt ngã “vua khiến bề tôi chết mà bề tôi không
chết là bất trung, cha khiến con chết mà con không chết là bất hiếu” (quân sử
thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu) (Nhị trình
nhị thư – cuốn 22). Con người lý tưởng của Nho giáo là con người theo khuôn
mẫu quân tử, dùng phẩm hạnh đạo đức để thu phục nhân tâm, cai trị xã hội.

12
Tƣ tƣởng “Thần dân”
Nếu như Nho giáo Tiên Tần (Nho giáo nguyên thủy) còn ít nhiều chứa

Vua được coi là thần khí đối với vận mệnh quốc gia và cuộc sống của thần
dân; vua là người có tài, đức và phúc lớn mà trời giao phó. Do đó người nắm
quyền đó được coi là thừa mệnh trời, nhận mệnh trời để trị nước an dân, thay
trời hành đạo. Họ tự coi mình là Thiên tử - con trời.
“Nội dung cơ bản tư tưởng chủ đạo của vương quyền dưới chế độ quân
chủ Việt Nam được thể hiện ở những tờ sắc chiếu, phủ dụ toàn dân trong
nước khi các vị vua lên ngôi ban hành. Tất cả các tờ sắc chiếu đều bắt đầu
bằng: Thừa Thiên Hưng Vận, Hoàng Đế sắc chiếu…” (tuân theo mệnh Trời
để làm cho vận nước hưng thịnh hơn lên. Hoàng đế giáng chiếu như sau…)
hoặc “Thế Thiên hành đạo” (thay thế Trời để thi hành đạo của Trời).
Để duy trì địa vị và quyền lực tối cao, các triều đại phong kiến Việt Nam
đã khéo khai thác triệt để những yếu tố thần bí từ tư tưởng của Tống Nho. Tư
tưởng này giải thích nguồn gốc của bậc đế vương là do thiên mệnh hay do
Trời. Do vậy, vấn đề căn bản triết lý về chế độ quân chủ ở nước ta cũng dựa
vào cơ sở lý luận ấy. Điều đó tạo ra nét đặc trưng của chế độ quân chủ Việt
Nam. Nếu như trong chế độ quân chủ phương Tây, nhà vua tập trung cả ba
quyền, lập pháp, hành pháp và tư pháp thì ở Việt Nam, vua không chỉ nắm
giữ ba quyền đó trong tay mà còn là vị giáo chủ cao nhất. Nhà vua thâu tóm
cả thần quyền và thế quyền. Vua là người ban hành pháp luật bắt buộc dân
chúng phải thi hành; là vị thủ lĩnh cao nhất của nền hành chính nhà nước có
14
quyền khen thưởng, trừng phạt và bãi miễn tất cả các chức quan; là vị thẩm
phán tối cao có quyền quyết định đến các vụ án hình sự và dân sự và là vị
giáo chủ độc đoán duy nhất. Thậm chí tất cả quỷ thần trong nước đều phục
tùng ý chí của nhà vua. Vua có quyền tế Trời, còn thần dân chỉ được thờ quỷ
thần và tổ tiên. Vua có quyền phong sắc cho bách thần và khiển trách bách
thần, khiển trách bằng sắc hoặc phá hủy đền thờ. Quyền tế Trời hàng năm gọi
là tế Nam Giao, chủ tế thuộc về Hoàng đế. Quyền lực trong tay vua là tuyệt
đối. Chế độ quân chủ ấy được xem là chế độ quân chủ “tôn quân quyền”[16,
70-71].

chế phong kiến. Trong chế độ phong kiến Việt Nam, người dân luôn được
giáo huấn thân phận “thần dân”, tuyệt đối tin vào sự phán quyết của nhà vua.
Vì thế nên tư tưởng Nho giáo về quân quyền chuyên chế tạo dựng và góp
phần củng cố thêm chế độ phong kiến Việt Nam.
Điều đáng chú ý là trong thực tế: Vua chỉ là người “sở hữu” tối cao đối
với ruộng đất, bên cạnh đó, trong làng xã Việt Nam qua các thời đại khác
nhau có sự biến đổi, song bao giờ cũng song song tồn tại loại hình “sở hữu”
thứ hai là chế độ ruộng công làng xã rất đặc thù của Việt Nam. Đây là cơ sở
kinh tế cho tư tưởng dân chủ kiểu làng xã Việt Nam.
Tƣ tƣởng dân chủ làng xã ở Việt Nam
Quần chúng lao động đông đảo trong xã hội Việt Nam là nông dân công
xã và nông dân tá điền, có kinh tế riêng, nhưng hầu như không có quyền sở
16
hữu ruộng đất. Đặc điểm kinh tế, xã hội đó có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc
đấu tranh xã hội của nông dân và quá trình nảy sinh, phát triển cũng như nội
dung tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam.
Trong quá trình phong kiến hóa công xã nông thôn từ thế kỷ X đến thế
kỷ XV, đã xuất hiện những cuộc đấu tranh của nông dân vào cuối đời Lý và
cuối đời Trần với những tư tưởng đòi bình đẳng xã hội và cứu giúp người
nghèo. Tư tưởng đó thể hiện trong cuộc khởi nghĩa Lê Văn cuối thế kỷ XII và
khởi nghĩa Ngô Bệ cuối thế kỷ XIV. Lê Văn tung tin thấy vết chân trâu trắng
trên cây để đoán rằng: “Trâu trắng là vật ở dưới nước, nay lại ở trên cây, thế
là điềm kẻ dưới lên ở trên”, để cổ vũ quần chúng. Ngô Bệ nêu khẩu hiệu
“chẩn cứu người nghèo” để tập hợp quần chúng nổi dậy chống triều Trần.
Đến giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, trong cuộc chiến tranh nông
dân thế kỷ XVIII và nữa đầu thế kỷ XIX tư tưởng dân chủ nông dân được
phát triển lên trình độ mới với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân
nghèo”, phản ánh yêu cầu bình đẳng tài sản và tâm lý bình quân chủ nghĩa
của những người tiểu nông trong điều kiện kinh tế hàng hóa tương đối phát
triển. Tư tưởng đó biểu thị rõ nét trong phong trào Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII,

bảo lưu lâu dài tàn dư của công xã nông thôn. Đây là công xã nông thôn thuộc
loại hình Á châu mà trong giai đoạn đầu, đặc điểm cơ bản của nó là quyền sở
hữu công xã về toàn bộ ruộng đất và công xã đem phân chia ruộng đất đó cho
các gia đình và thành viên cày cấy. Bộ máy quản lý công xã do các thành viên
cử ra mà đứng đầu là một già làng hay Bồ Chính.
Về sau chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, thu hẹp dần chế độ ruộng đất
công của làng xã và sự phân hóa xã hội bên trong cũng ngày càng nâng cao.
Quá trình đó diễn ra cùng với quá trình phong kiến hóa công xã nông thôn.
18
Nhưng nói chung, tàn dư của công xã nông thôn ở những mức độ tồn
tại khác nhau tùy từng lúc, từng nơi vẫn được bảo lưu lâu dài trong xã hội
Việt Nam cổ truyền. Tất nhiên ở đây có sự khác biệt giữa làng xã miền Bắc và
miền Nam do nhiều hoàn cảnh và điều kiện lịch sử quy định.
Trên cơ sở quan hệ cộng đồng công xã đó, hình thành và bảo tồn một
loạt phong tục tập quán gọi chung là “lệ làng” ít nhiều phản ánh tính chất dân
chủ công xã. Nó được biểu thị trong mối quan hệ tương đối bình đẳng giữa
các thành viên trong việc chia ruộng đất công và trong các sinh hoạt cộng
đồng, trong sự tôn trọng người già bất cứ đẳng cấp nào, trong việc thừa nhận vai
trò to lớn của người mẹ và người phụ nữ trong đời sống gia đình và làng xã.
Những lệ làng mang tính dân chủ công xã đó được phản ánh rõ nét
trong kho tàng văn hóa dân gian, nhất là trong ca dao, tục ngữ mà nhiều người
đã dẫn chứng. Trong bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) gồm 722 điều
luật được xây dựng trong thế kỷ XV và được áp dụng lâu dài cho đến cuối thế
kỷ XVIII (dĩ nhiên có sự bổ sung và sửa chữa ít nhiều), một số phong tục tập
quán dưới dạng luật tục dân gian có hiệu lực lâu đời đã được ghi nhận và
pháp chế hóa thành những điều luật của nhà nước phong kiến. Điều này được
thể hiện tập trung nhất trong những điều luật về quyền lợi của người phụ nữ
trong gia đình và xã hội, trong việc thừa hưởng gia tài, kế thừa hương hỏa và
phân chia tài sản khi vợ chồng phải ly dị. Nhiều nhà luật học phương Tây đã
ghi nhận đây là những điều luật đặc biệt của bộ luật Hồng Đức và nêu cao

nhiều chức vụ:
 Lý trưởng và phó lý là những người được hội đồng tộc biểu bầu chọn.
Họ là những người có học vấn, có tài sản, không can án. Bầu lý và phó lý
20
trưởng thì phải chọn những người cẩn cán lại biết chữ ở trong hạng đinh nội
tịch của làng 6 năm là một khóa. Lý trưởng, phó lý là những người chịu trách
nhiệm cao nhất về mặt hành pháp của làng. Họ thực hiện mọi nhiệm vụ của
chính quyền cấp trên giao về xã, thực hiện thu thuế và giữ gìn an ninh trật tự,
nghĩa vụ binh dịch… Trong mọi việc, lý trưởng và phó lý không được tự
mình quyết định. Thư ký là người có học vấn, có nhiệm vụ giữ gìn sổ sách,
ghi chép biên bản các cuộc họp hội đồng tộc biểu. Có hương ước quy định là
thư ký có thể kiêm nhiệm chức vụ của hộ lại hoặc chưởng bạ.
 Thủ quỹ, có nơi gọi là hương bản, phải là người giàu có trong làng,
được bầu làm người giữ tiền công và xuất tiền quỹ cho việc chi tiêu của làng.
 Chưởng bạ là người giữ sổ sách địa bạ, địa chính và đăng ký theo dõi
những thay đổi về điều sản trong làng.
 Hộ lại, có nơi gọi là hương bộ, là người giữ sổ sách và đăng ký các việc
sinh tử, giá thú trong làng. Hộ tịch và dân số của làng do hộ lại theo dõi. Thời
vua Lê Thánh Tông, việc đăng ký hộ tịch, kê khai nhân khẩu trong toàn quốc
được làm rất chặt chẽ theo những quy định của vua từ năm 1470. Việc nắm vững
dân số trong một xã có liên quan chặt chẽ đến việc nắm vững dân số của một
quốc gia. Vì vậy vai trò của hộ lại trong các hương ước cổ rất được coi trọng.
 Trương tuần, có nơi gọi là Khán thủ hay hương kiểm, là người chỉ huy
các tuần phiên, canh phòng bảo vệ an toàn, an ninh làng xã. Các hương ước
quy định việc chọn người làm Trương tuần phải là người mạnh bạo, thực thà,
có gia sản, mới giao việc. Ngay trong việc cắt cử tuần phiên thì những tráng
đinh nào có mang tiếng xấu sẽ không cho đi tuần.
 Thủ lộ là người coi đường xá, đê điều thuộc địa giới của làng, nếu hư
hỏng báo với hội đồng tộc biểu xin chỉ thị để tổ chức cho dân tu bổ, mở
mang thêm.

Trích đoạn Lược sử tư tưởng chính thể dân chủ tư sản ở phương Tây cận đạ Ảnh hưởng của tư tưởng chính thể dân chủ tư sản của phương Tây thời cận đại đến Việt Nam QUÁ TRÌNH VÀ NỘI DUNG CHUYỂN BIẾN TƢ TƢỞNG CHÍNH THỂ CỦA PHAN BỘI CHÂU TRƢỚC NĂM Nguyên do hình thành và nội dung tư tưởng chính thể quân chủ của Phan Bội Châu Ảnh hưởng của tư tưởng quân chủ trong những hoạt động yêu nước của Phan Bội Châu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status