MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sù ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đã tạo ra bước ngoặt
vĩ đại cho cách mạng Việt Nam, đồng thời đánh dấu quá trình Hồ Chí Minh
tiếp nhận, vận dụng tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của
nước ta. Điều này không chỉ nêu rõ kết quả quá trình tìm đường cứu nước
đúng đắn của Hồ Chí Minh mà còn đặt nền tảng cho những thắng lợi tiếp theo
của cách mạng Việt Nam. Từ thực tiễn sinh động đã cho thấy, tư tưởng Hồ
Chí Minh là bách chiến bách thắng. Điều đó đã được Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII, của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành
động của Đảng ta” [79.1180]. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đã làm
cho cách mạng Việt Nam có những bước tiến vượt bậc, đất nước có nhiều
thắng lợi lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và những đóng góp của Người
đối với dân tộc, cách mạng đã trải qua một quá trình lâu dài, gian khổ mà
trước hết là sự chuyển biến về tư tưởng. Vì vậy, tìm hiểu vấn đề này để góp
phần khẳng định công lao to lớn của Hồ Chí Minh đối với dân tộc để có lòng
tin và ý chí quyết tâm đi theo con đường mà Người đã lựa chọn.
Trong tình hình hiện nay, trước những biến động của tình hình thế giới
và trong nước, thái độ đối với nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam
cũng đang có những diễn biến phức tạp. Tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam
tự hào, tin tưởng, quyết tâm thể hiện tư tưởng của Người trong hiện thực,
nhưng đã xuất hiện một số Ýt phần tử xấu, phản động điên cuồng đánh phá
cách mạng, xuyên tạc, phủ nhận con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Vì
thế việc nghiên cứu Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người nói riêng trở
1
thành một cuộc đấu tranh, trước hết trên lĩnh vực nhận thức tư tưởng, quan
điểm để vững lòng tin vào cách mạng.
Trước những nhu cầu cấp bách về việc nhận thức đúng đắn lịch sử cũng
như xuất phát từ chính nguyện vọng thiết tha của bản thân, chúng tôi chọn
từ năm 1908 đến năm 1923. Mặc dù cuốn sách này viết dưới dạng truyện ký,
song còng cung cấp cho người đọc một số tư liệu, chủ yếu về hoạt động của
Người ở Pháp. Cuốn “Chủ Tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp”, do Ban
Nghiên cứu Lịch sử Đảng biên soạn (xuất bản lần thứ 5. Nxb Sự Thật,
H.1980) đã dành 27 trang đầu để nói về đÊt nước, quê hương, gia đình của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và những hoạt động của Người từ năm 1908 đến năm
1920 và nhận định: “Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã
độc lập suy nghĩ, có năng khiếu điều tra, nghiên cứu sâu sắc và nhạy bén
trước thời cuộc. Người có tinh thần học tập công phu, đấu tranh và rèn luyện
trong phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Vừa
học tập lý luận vừa làm công tác thực tế, từng bước một, Người rót ra những
kết luận quan trọng để nêu thành nguyên tắc và lấy những nguyên tắc Êy soi
sáng cho hoạt động thực tiễn của mình”. Cuốn “Chủ Tịch Hồ Chí Minh chiến
sĩ trên mặt trận giải phóng dân tộc” của Hùng Thắng và Nguyễn Thành (Nxb
KHXH, H.1985) đề cập đến những cống hiến của Người với phong trào giải
phóng dân tộc không chỉ của Việt Nam mà của nhiều nước thuộc địa, phụ
thuộc khác, từ khi người ra đi tìm đường cứu nước từ 1911 đến 1969. Cuốn
“Hồ Chí Minh những sự kiện” (Nxb Thông tin lý luận, H.1987) cung cấp
nhiều tài liệu chính xác về cuộc đời và sự nghiệp của Người. Cuốn “Hồ Chí
Minh anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá” ra đời nhân kỷ niệm
100 năm ngày sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh (1890-1990), do Uỷ ban khoa học
3
xã hội Việt Nam (Nxb.KHXH, H, xuất bản năm 1990, gồm 79 báo cáo nghiên
cứu về thân thế, sự nghiệp, con người, những cống hiến nhiều mặt về văn hoá,
khoa học, đạo đức của Người cho dân tộc, nhân loại của các nhà nghiên cứu
đầu ngành). Quyển “Hồ Chí Minh- mét con người, một dân tộc một thời đại,
một sự nghiệp” của Phạm Văn Đồng (Nxb Sù thật, H.1990), giới thiệu một
cách súc tích, sâu sắc về cuộc đời hoạt động, sự nghiệp, những cống hiến của
Hồ Chí Minh đối với dân tộc, nhân loại. Quyển “Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ
Chí Minh” của Đặng Xuân Kỳ (Nxb Thông tin Lý Luận, H.1990) tìm hiểu về
“Quá trình nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường cách mạng
tháng Mười đối với phong trào giải phóng dân tộc” của Phan Ngọc Liên-
Nguyễn Am, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6-1982; bài “Hồ Chí
Minh với ngọn cờ độc lập giải phóng dân tộc trong cương lĩnh đầu tiên của
Đảng” của Lê Mậu Hãn, in trong Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5-1990. Chóng ta
có thể kể thêm các bài cùng chủ đề này như “Hồ Chí Minh chủ động sáng
tạo trong việc lựa chọn con đường cứu nước”, của Trình Mưu, (Tạp chí Lịch
sử Đảng sè 5-1994), “Theo dấu chân Nguyễn Ái Quốc ở Pari”, của Thu
Trang, (Tạp chí Xưa Nay sè 51 tháng 5-1998)
Ngoài những cuốn sách và bài viết trên đây, một số luận án Tiến sĩ Lịch
sử cũng đề cập đến vấn đề này ở góc độ khác nhau, như luận án Tìm hiểu quá
trình chủ tịch Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-
Lênin của Đức Vượng; Nguyễn Ái Quốc với vấn đề thành lập Đảng cộng sản
Vịêt Nam (1920-1930) của Hoàng Văn Tuệ; Nguyễn Ái Quốc với việc truyền
bá chủ nghĩa Mác- Lênin ở Việt Nam (1921-1930) của Phạm Xanh;
Thứ tư, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài. Trong số
này chúng tôi chú ý đến những tác giả người Nga, Nhật, Pháp, Mỹ khi
5
nghiên cứu về Hồ Chí Minh, có đề cập đến con đường cứu nước của Hồ Chí
Minh, như cuốn “Đồng chí Hồ Chí Minh” của Epghênhi Cabêlép, (xuất bản ở
Liên Xô cũ năm 1983, Nhà xuất bản Thanh niên, dịch in thành 2 tập năm
1985), giới thiệu những yếu tố về gia đình, quê hương ảnh hưởng đến tinh
thần yêu nước, ý tưởng tự do và việc xác định con đường cứu nước của Hồ
Chí Minh. Cuốn “Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới” của nhà
nghiên cứu Nhật Bản Furuta Motoo, (NxB Ioanami xuất bản 1996 - Nxb
Chính trị quốc gia dịch, xuất bản năm 1997), tìm hiểu về mối quan hệ giữa
Chủ tịch Hồ Chí Minh và công cuộc đổi mới ở Việt Nam, bắt đầu từ việc
Người xác định con đường cứu nước mới. Quyển “Từ chủ nghĩa yêu nước
đến chủ nghĩa Mác-Lênin”, của Daniel Héméri (Nguyễn Trọng Côn dịch, Nxb
Lao động, H. 2001), giới thiệu quá trình Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa
đi đến quyết định lựa chọn và xác lập nội dung con đường cứu nước mới. Tuy
nhiên, trong luận văn chúng tôi cũng đề cập đến các con đường cứu nước cũ,
sự khủng hoảng đường lối cứu nước và quá trình tìm đường cứu nước của Hồ
Chí Minh.
Về thời gian, chúng tôi giới hạn từ khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu
nước đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1911-1930), chấm dứt sự
khủng hoảng trong phong trào yêu nước, chống Pháp. Đánh dấu bước ngoặt
vĩ đại của cách mạng Việt Nam và đồng thời đánh dấu sự hoàn chỉnh con
đường cứu nước của Hồ Chí Minh.
Để hoàn thành luận văn, tác giả đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chủ trương của Đảng. Đó là cơ sở phương pháp luận của việc
nghiên cứu.
7
Phương pháp nghiên cứu luận văn được triển khai trên cơ sở kết hợp
phương pháp lôgic lịch sử, phân tích, chứng minh, diễn giải, khái quát, xử lí
thông tin, được thể hiện qua các phương pháp cụ thể của nghiên cứu lịch sử,
như xây dựng đề cương, sưu tầm tài liệu, biên soạn tất cả các phương pháp
đều nhằm làm sáng tỏ những vấn đề, chủ đề mà luận văn đã đặt ra.
5. Nguồn tư liệu
Khi thực hiện luận văn, chúng tôi đã khai thác, tìm hiểu, lựa chọn và hệ
thống một khối lượng tài liệu khá phong phó, bao gồm các loại chủ yếu sau:
Loại thứ nhất, các Văn kiện Đảng, các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước có đề cập đến vấn
đề chuyển biến tư tưởng của Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu
nước. Đây là loại tài liệu cung cấp một cách khách quan, trung thực những sự
kiện lịch sử.
Loại thứ hai, gồm một số công trình chuyên khảo, một số tác phẩm, bài
nghiên cứu có liên quan đến vấn đề chúng tôi nghiên cứu của các tác giả trong
và ngoài nước đã được công bố, chúng tôi cũng tham khảo một số luận án
khác cuối cùng đi đến đầu hàng thực dân, đánh dấu bằng hiệp ước Patơnốt
năm 1884, dâng toàn bộ lãnh thổ nước ta cho Pháp.
Trên cơ sở những thắng lợi về quân sự, thực dân Pháp bắt tay vào khai
thác, bóc lột một cách có hệ thống và mức độ ngày càng tăng trên quy mô
toàn lãnh thổ Việt Nam. Với hai cuộc khai thác thuộc địa; lần thứ nhất (từ
năm 1897 đến năm 1914); lần thứ hai (bắt đầu từ năm 1919); phương thức
bóc lột tư bản chủ nghĩa du nhập vào Việt Nam, kết hợp với việc duy trì
phương thức bóc lột phong kiến cũ, làm chuyển biến xã hội Việt Nam từ xã
hội phong kiến thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Tình hình đó đã gây
nên những biến đổi về các mặt trong đời sống xã hội Việt Nam.
- Về chính trị: Thực dân Pháp áp dụng triệt để chính sách “chia để trị”,
“dùng người bản xứ trị người bản xứ”. Chúng chia cắt nước ta làm ba xứ với
chế độ có luật pháp khác nhau. Ngoài ra, chúng còn dùng nhiều thủ đoạn để
chia rẽ tôn giáo Chúng liên kết với các thế lực phong kiến phản động Việt
Nam để đàn áp về chính trị, vơ vét bóc lột về kinh tế. Tổ chức Liên bang
Đông Dương (lập từ năm 1887) tiếp tục được kiện toàn để chia rẽ nhân dân
Đông Dương trong một cấu trúc thống nhất giả tạo, xoá tên Việt Nam, Lào,
Campuchia trên bản đồ thế giới.
Bộ máy thống trị của thực dân Pháp được thiết lập cùng với việc duy trì
hệ thống quản lý cũ, lạc hậu của phong kiến từ Trung ương tới Hội đồng kỳ
mục ở làng xã. Thông qua đó, chúng nắm và cột chặt Việt Nam trong vòng nô
dịch của mình. Bộ máy thống trị của thực dân Pháp và tay sai phong kiến chủ
yếu dựa vào sức mạnh quân sự và dùng vũ lực đàn áp làn sóng đấu tranh đòi
tự do, độc lập của nhân dân ta. Chính sách “Pháp - Việt đề huề” v.v mà
thực dân ra sức tuyên truyền chỉ là trò lừa bịp về chính trị.
- Về văn hoá, giáo dục: Chính sách ngu dân về giáo dục, đầu độc về văn
hoá là một trong những biện pháp cai trị thâm hiểm của bọn thực dân. Mục
10
tiêu của toàn bộ chính sách về văn hoá giáo dục là hướng vào việc xác lập và
duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp. Vì thế, tuỳ theo yêu cầu về chính trị
tất cả các mạch máu kinh tế và hướng nó phục vụ cao nhất cho tư bản chính
quốc. Dưới chế độ độc quyền Êy, thành phần kinh tế của tư sản dân tộc Việt
Nam tuy cố gắng vươn lên, nhưng nhỏ bé, yếu ớt. Bên cạnh quan hệ sản xuất
mới, vẫn tồn tại nền nông nghiệp cổ truyền của quan hệ sản xuất phong kiến.
Sự tồn tại của quan hệ sản xuất tư bản chồng lên quan hệ sản xuất phong kiến
là trở ngại lớn, kìm hãm sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Việc tăng cường
đầu tư, đẩy mạnh khai thác của đế quốc Pháp trong thời gian sau chiến tranh
thế giới thứ nhất không hề làm thay đổi bản chất nền kinh tế Việt Nam: một
nền kinh tế thuộc địa, nửa phong kiến. Nền kinh tế này không thể phát triển
độc lập, mà ngày càng bị lệ thuộc vào kinh tế của Pháp, phơi bầy tính chất lạc
hậu, què quặt của nó.
- Những biến đổi về mặt kinh tế ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình xã hội
Việt Nam: các giai cấp mới hình thành và trưởng thành, trong khi những giai
cấp cũ không ngừng biến động. Sự phân hoá xã hội thành những giai cấp có
lợi Ých khác nhau và những mối quan hệ khác nhau đối với nền thống trị của
đế quốc Pháp là một nét nổi bật của xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới
thứ nhất.
Giai cấp địa chủ phong kiến từ sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước
ta, bị lôi cuốn vào hệ thống tư bản thế giới. Thực dân Pháp chẳng những
không xoá bá quan hệ phong kiến đã lỗi thời ở nước ta mà còn nuôi dưỡng nó
để làm chỗ dựa cho nền thống trị thuộc địa phản động. Vì thế, giai cấp địa
12
chủ phong kiến vẫn tồn tại, mặc dù không còn đủ uy thế chính trị như lúc
nước ta còn độc lập dưới chế độ phong kiến và đang có sự phân hoá thành
các bộ phận khác nhau có thái độ không giống nhau trước kẻ thù và trong
cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc.
Trong sự phát triển của nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến, ngoài
giai cấp địa chủ phong kiến mà tiêu biểu là triều đình và các hạng quan lại lớn
nhỏ, đã xuất hiện một tầng lớp địa chủ mới. Họ là những nhà buôn, những
thầu khoán làm ăn phát tài trở về chấp chiếm ruộng đất để bảo đảm một “sự
quyền lợi gắn liền với đế quốc nên cấu kết chặt chẽ với chúng, chống lại dân
tộc. Một bộ phận khác là tư sản dân tộc, có khuynh hướng kinh doanh độc
lập, phát triển kinh tế dân tộc, nhưng bị đế quốc và tư sản mại bản chèn Ðp
nên Ýt nhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ, chống đế quốc, phong kiến phản
động. Tuy vậy, lập trường của tầng lớp này không kiên định, dễ thoả hiệp, rơi
vào chủ nghĩa cải lương, không có tinh thần đấu tranh triệt để.
Việc phân hoá giai cấp tư sản ở một nước thuộc địa như Việt Nam (tư sản
bản xứ) thành hai bộ phận tư sản mại bản và tư sản dân tộc là một đặc điểm khác
với giai cấp tư sản ở “chính quốc”, cũng như các nước tư bản phát triển.
Giai cấp tiểu tư sản ra đời gần như cùng thời gian với giai cấp tư sản, số
lượng tiểu tư sản tăng nhanh, do sự phát triển của các ngành kinh tế, đặc biệt là
sự mở rộng của các cơ quan hành chính, văn hoá, giáo dục… của thực dân Pháp.
Giai cấp tiểu tư sản cũng bị đế quốc bạc đãi, khinh thị, đời sống bấp
bênh, dễ bị đẩy vào con đường phá sản và thất nghiệp. Một bộ phận đáng lưu
ý trong giai cấp này là những trí thức, sinh viên, học sinh. Họ có điều kiện
tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng văn hoá tiến bộ bên ngoài nên nhạy bén với
tình hình chính trị, có tinh thần yêu nước, dễ tiếp thu tư tưởng cách mạng
14
(điều này được Nguyễn Ái Quốc sớm chú ý ngay khi chuẩn bị quá trình thành
lập Đảng).
Giai cấp nông dân chiếm trên 90% dân số. Họ là nạn nhân trực tiếp của
chế độ thực dân phong kiến, tiếp tục bị bần cùng hoá trên quy mô lớn. Trong
xã hội thuộc địa, do các trung tâm công nghiệp và đô thị phát triển hạn chế
nên chỉ một bộ phận nhỏ trong nông dân tìm được việc làm ở các nhà máy,
đồn điền, hầm mỏ, còn đại bộ phận phải sống ở làng quê với cuộc đời làm
thuê, cuốc mướn ngay trên mảnh đất đã bị địa chủ chiếm đoạt. Bởi vậy, họ là
những người cùng khổ nhất, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, có tinh thần
chống đế quốc, phong kiến, là lực lượng hùng hậu của cách mạng.
Giai cấp công nhân ra đời từ trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
và phát triển trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp.
trị, xã hội của các nước; các cường quốc đế quốc chủ nghiã đã hoàn thành
việc phân chia thuộc địa.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, tình cảnh của giai cấp công
nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác vô cùng khốn khổ, đặc biệt là ở
các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Trong tình hình Êy, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, trước hết ở các
nước tư bản đế quốc Âu-Mỹ lại bùng lên mạnh mẽ; chủ nghĩa Mác, sau gần
nửa thế kỷ đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản và các trào lưu cơ hội dưới mọi
mầu sắc, đã ăn sâu bến rễ trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản cuối thế kỷ XIX,
Cách mạng 1905 ở Nga, phong trào giải phóng dân tộc rầm rộ ở châu Á là
những nét nổi bật của tình hình cách mạng thế giới đầu thế kỷ XX.
16
Giữa lúc đất nước đang có những chuyển biến lớn về kinh tế - xã hội,
giai cấp thì những biến động của cách mạng thế giới như những luồng gió
mới dội tới Việt Nam.
Trước hết, phải kể đến những tư tưởng dân chủ tư sản của cách mạng
Pháp (1789) đã truyền bá qua phương Đông và đến Việt Nam, thông qua
những người lính lê dương và những tân thư của Lương Khải Siêu, Khang
Hữu Vi, Đàm Tự Đồng. Tư tưởng mới này - trên thực tế đã lỗi thời vì con
cháu của các nhà khai sáng thế kỷ XVIII – XIX đã phản bội lý tưởng của ông
cha họ khi duy trì chế độ phong kiến ở thuộc địa - đã kích thích những sĩ phu
tiến bộ hướng tới con đường của Cách mạng tư sản Pháp mà họ cảm thấy mới
lạ. Thời kỳ này còn có những tác động mạnh mẽ từ tình hình Trung Quốc,
một nước vốn có quan hệ gần gũi và có nhiều nét tương đồng với Việt Nam.
Nơi đây đang diễn ra những chuyển biến mạnh mẽ trong triều chính nhà
Thanh, với sự thức tỉnh của nhân dân và các phong trào chống trả nguy cơ
xâm lược của các thế lực phương Tây, phong trào Duy Tân cải cách đất nước,
sự kiện chính biến Mậu tuất (1898), nhất là chủ nghĩa Tam dân của Tôn
Trung Sơn, từ sau cách mạng Tân hợi (1911). Những sự kiện này đều ảnh
1.2. Những nét nổi bật trong các phong trào yêu nước cuối thế kỷ
XIX- đầu thế kỷ XX ở Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm tinh thần cao quý nhất của dân tộc Việt
Nam; đó là tư tưởng, là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta. Nó giữ vị trí
chuẩn mực cao nhất của đạo lí và đứng đầu bậc thang giá trị của truyền thống
dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước đã phát huy sức mạnh vô biên của nó trong các
cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, là động lực nội sinh của cộng đồng dân
tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ
18
lịch sử Việt Nam. Biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa yêu nước là ý thức độc
lập dân tộc - một điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm đối với mọi người.
Khát vọng độc lập tự do đã động viên, tập hợp cả dân tộc tham gia vào
xây dựng đất nước và cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc: khắc phục thiên tai để
sản xuất, lấy Ýt đánh nhiều, chuyển yếu thành mạnh.
Về mặt giữ nước, dựa trên sức mạnh của nhân dân, lấy dân làm gốc, các
nhà lãnh đạo quân sự, chính trị đã sáng tạo được nhiều cách đánh thần kỳ; các
chiến sĩ bình thường trở thành những anh hùng và cả nước bất chấp gian khổ
hi sinh, đã quyết tâm chiến đấu để cuối cùng giành được chiến thắng.
Khát vọng độc lập tự do đã khiến mỗi lần Tổ quốc bị xâm lăng thì toàn
dân luôn luôn đặt lợi Ých đất nước lên trên hết và sẵn sàng gạt bỏ mọi lợi Ých
riêng, chấp nhận mọi gian nan thử thách, kể cả hi sinh tính mạng, của cải vì
độc lập dân tộc.
Ý thức sâu sắc về độc lập dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn đánh thắng
những kẻ thù hùng mạnh: lúc thắng lợi không chủ quan tự mãn; lúc bị mất
nước hàng mấy chục năm, hàng nghìn năm vẫn giữ niềm tin, tự tôn dân tộc,
bảo tồn bản sắc dân tộc và ý chí giành độc lập tự chủ đến khi thời cơ đến, kịp
thời nắm bắt, vùng dậy đánh đuổi ngoại xâm, giành lại non sông đất nước.
Tình hình như vậy cũng diễn ra khi thực dân Pháp mở đầu chiến tranh
xâm lược Việt Nam. Dù triều đình không có đầy đủ tinh thần, ý chí chống
ngoại xâm, càng ngày chỉ lo thoả hiệp đầu hàng, nhân dân ta vẫn kiên quyết
Định phần lớn là do phong trào đấu tranh của nông dân phối hợp với triều
đình (Kế hoạch của Pháp là đánh chiếm Đà Nẵng trong năm 1858, rồi dùng
Đà Nẵng làm bàn đạp đánh chiếm kinh thành HuÕ). Nhưng vừa đặt chân lên
bán đảo Sơn Trà quân Pháp đã vấp phải sự kháng cự của quân triều đình,
20
được nghĩa quân nông dân kéo đến phối hợp. Sau 5 tháng bị giam chân tại
chỗ liên quân Pháp - Tây Ban Nha phải rút quân khỏi Đà Nẵng, mở mặt trận
Gia Định để đánh chiếm Nam kỳ).
Trong quá trình kháng chiến chống Pháp, triều đình từ chỗ cùng nông
dân kháng chiến đi đến nhượng bộ rồi đến đầu hàng làm tay sai cho thực dân
Pháp (1858-1884).
Khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công ba tỉnh miền Đông Nam
kỳ(1859-1862), quân triều đình (Nguyễn Tri Phương) không trụ nổi trước hoả
lực của địch phải bỏ đại đồn Phú Thọ (Chí Hoà) vào tháng 2-1861. Phong trào
đấu tranh nông dân chống Pháp nổ ra không lúc nào ngớt; trong năm 1862,
phong trào dâng cao ở các quận, huyện và thị trấn thuộc hai tỉnh Gia Định,
Định Tường. Tình hình đó làm cho quân địch hết sức hoang mang, lo sợ.
Chính trong lúc này, triều đình Huế lại ký Điều ước 5-6-1862, cắt ba tỉnh
miền Đông Nam kỳ, cùng một số đặc quyền khác nhường cho Pháp.
Năm 1867, thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây mà không gặp
bất kỳ một sự chống cự nào của triều đình, nhưng phong trào nhân dân kháng
chiến chống Pháp vẫn mạnh mẽ. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Phạn
Tam- Phạn Ngũ với trung tâm Ba Tri (Bến Tre); của Nguyễn Trung Trực, của
Nguyễn Hữu Huân. Phong trào lan rộng khắp miền Đông ra miền Tây, nhưng
triều đình cố tình bỏ rơi cuộc đấu tranh của nhân dân, tìm cách ngăn cản, thậm
chí tiếp tay cho Pháp đàn áp làm cho các cuộc khởi nghĩa lần lượt bị thất bại.
Nhân khi triều đình Huế tự hãm mình trong thế bị động, chủ trương
thương thuyết, quân Pháp đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh lân cận. Ngay từ
đầu cuộc đánh chiếm, chúng đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt của nhân dân
Hà Nội và khắp nơi trên miền Bắc. Cuộc giao chiến ác liệt của quân Hoàng
22
tiêu Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, đầy đi xa Tuy Lý Vương, Gia Hưng
quận vương…
Thái độ chống Pháp của nhân dân trước sau vẫn không thay đổi, nhưng
do thái độ của triều đình mà nhân dân từ chỗ hợp tác với triều đình chống
Pháp đi đến chỗ chống cả Pháp lẫn Triều đình. Điều này thể hiện ở khởi nghĩa
của Trương Định, rồi các cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai ở
Nghệ An. Trong cuộc khởi nghĩa này, bài hịch chống Pháp có câu:
“Dập dìu trống đánh cờ xiêu
Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”
Sau khi hoà ước 1862 được kí kết, làn sóng phản đối triều đình dâng lên
rất cao trong nhân dân, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa bùng nổ, nhưng triều
đình Huế vẫn ngoan ngoãn thi hành các điều khoản đã kí kết, dù hoà ước đó
chưa được chính phủ Pháp phê chuẩn. Một phần do sợ địch ngay từ đầu, phần
khác do triều đình Nguyễn muốn bắt tay với Pháp để có thể dồn lực lượng
tiêu diệt phong trào đấu tranh của nông dân ngoài Bắc, nên hạ lệnh cho nghĩa
quân ở các nơi hạ khí giới, nộp súng cho Pháp. Lệnh của Triều đình không
một ai nghe theo. Đối với nghĩa quân Trương Định, Triều đình một mặt hạ
lệnh bắt phải bãi binh, mặt khác hai lần điều động chủ tướng đi nhận chức
Lãnh binh ở An Giang.
Được sự ủng hộ nhiệt thành của quần chúng yêu nước, Trương Định đã
cương quyết ở lại cùng nghĩa quân sát cánh chiến đấu đến cùng. Ngọn cờ
“Bình Tây đại nguyên soái” cùng với khẩu hiệu “ Phan - Lâm mãi quốc, triều
đình khí dân” (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nước, triều đình bỏ
dân) gây thêm niềm tin tưởng cho quần chúng nhân dân. Đồng bào các xã,
huyện chuyền tay nhau đọc bản hịch kêu gọi chống Pháp của Trương Định.
Dưới quyền Trương Định lúc bấy giờ có hơn một vạn quân đang chuẩn bị
đánh úp Pháp ở Thuận Hoà, nhưng được sự giúp đỡ của Huỳnh Công Tấn
23
(trước đi theo nghĩa quân sau bỏ về hàng Pháp) dẫn đường quân Pháp đã bí
một ông Vua yêu nước muốn đánh đuổi kẻ thù, chứ không phải là một ông
Vua bán nước.
Phong trào Cần Vương kéo dài gần 12 năm (1885-1896), nổ ra hầu như
trong cả nước, kể cả Nam kỳ, nhưng tập trung nhất là Bắc kỳ và Trung kỳ.
Phong trào rộng khắp và sôi nổi nhất là trong những năm đầu, từ giữa 1885
đến cuối 1888. Sau thời kỳ phát triển rầm rộ và rộng khắp, phong trào Cần
Vương thu hẹp dần, trọng tâm phong trào chuyển lên vùng thượng du và
trung du. Những cuộc khởi nghĩa còn lại là những cuộc khởi nghĩa lớn, có
trình độ tổ chức cao, có địa bàn hoạt động rộng. Tiêu biểu là các cuộc khởi
nghĩa Hương Khê - Hà Tĩnh (1885-1896) của Phan Đình Phùng và Cao
Thắng; khởi nghiã Ba Đình - Thanh Hoá (1886-1887) của Phạm Bành và
Đinh Công Tráng; khởi nghĩa Hùng Lĩnh - Thanh Hoá (1886-1892) của Tống
Duy Tân và Cao Điền; khởi nghĩa Bãi Sậy- Hưng Yên (1883-1892) của
Nguyễn Thiện Thuật. Khởi nghĩa Hương Khê - cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất
của phong trào Cần Vương - thất bại, cũng chấm dứt phong trào của văn thân,
sĩ phu hưởng ứng chiếu Cần Vương.
Phong trào Cần Vương tuy mạnh mẽ nhưng thiếu tập trung thống nhất
liên kết với nhau nên cuối cùng bị Pháp tập trung lực lượng tiêu diệt. Điều
này chứng tỏ ngọn cờ phong kiến không thể tập hợp, chỉ đạo sự thống nhất
nhân dân tạo nên sức mạnh chống ngoại xâm như ở thời kỳ chế độ phong kiến
dân tộc đang lên vào những thế kỷ X – XVIII qua các triều đại Lý, Trần, Lê
đánh thắng quân xâm lược các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh.
Cùng trong thời kỳ đó, bên cạnh phong trào Cần vương vẫn có các cuộc
đấu tranh tự phát của các dân tộc Ýt người ở miền núi, của nông dân mà đỉnh
25