học viện chính trị - hành chính quốc gia
Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
TP.Hồ Chí minh trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế Chủ nhiệm đề tài: trần minh tâm
Tuy nhiên, sự tăng trởng kinh tế Thành phố thời gian qua là cha tơng
xứng với tiềm năng hiện có, sự phát triển của ngành công nghiệp còn có những
yếu tố cha bền vững, tốc độ tăng trởng chậm, những ngành công nghiệp sử
dụng nhiều lao động, hàm lợng chất xám ít, gây ô nhiễm môi trờng sinh thái
2
còn nhiều, những ngành công nghiệp mũi nhọn nh: cơ khí chính xác, công
nghiệp điện tử, công nghệ phần mềm, năng lực cạnh tranh cha cao, cha thật sự
trở thành những lĩnh vực chi phối tác động mạnh đến sự phát triển chung của
Thành phố và của cả khu vực. Đồng thời, xu hớng toàn cầu hoá kinh tế và khu
vực hoá kinh tế ngày càng diễn ra sâu rộng và mạnh mẽ hơn, nớc ta ngày càng
hội nhập tích cực và đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thơng mại thế
giới (WTO), điều đó một mặt tạo cho ngành công nghiệp Thành phố có nhiều
thuận lợi để phát triển, nhng mặt khác quá trình đó cũng đặt ra những thách
thức gay gắt trớc sự cạnh tranh thông qua hoạt động đầu t của các tập đoàn
kinh tế lớn vào các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dơng, Tây NinhVì thế, trong thời
gian tới ngành công nghiệpThành phố cần đợc nghiên cứu, phân tích kỹ những
nguyên nhân tác động, hớng phát triển những ngành chủ lực, sản phẩm chủ lực
qua đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp Thành
phố theo hớng hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển của Thành phố trong thời gian
tới.
Xuất phát từ tình hình trên tác giả chọn nội dung chuyển dịch cơ cấu
ngành công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế làm nội dung nghiên cứu đề tài cấp bộ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch
cơ cấu ngành công nghiệp Thành phố nói riêng đã có một số tài liệu, công trình
nghiên cứu của các tác giả nh:
+ Những tài liệu mang tính định hớng chung có
- Bộ Chính trị (1982), Nghị quyết về công tác của Thành phố Hồ Chí
nghiên cứu của mình.
4
+ Các công trình nghiên cứu đề cập nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong điều kiện hội nhập.
- Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (1999), chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới.
- Hoàng Thị Thanh Nhân (2003), điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Hàn
Quốc, Malaysia và Thái Lan, trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc
gia, Hà Nội.
Các công trình chủ yếu này bớc đầu đề cập sự cần thiết phải chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và nêu
lên những kinh nghiệm của một số nớc về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
quá trình phát triển nền kinh tế thị trờng.
Tuy nhiên, các công trình này cha đề cập nhiều đến những tác động từ
quá trình hội nhập và khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thơng
mại thế giới đến các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Đặc biệt là ngành
công nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
+ Các công trình đề cập đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành công
nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Trần Văn Nhng ( 2001), Xu hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 1996-2001.
- Trơng Thị Minh Sâm (2001), Vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành ở thành
phố Hồ Chí Minh.
Trong đó các tác giả đã đề cập đến các nội dung: những vấn đề lý luận về
cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xu hớng chuyển dịch ngành công
nghiệp thành phố giai đoạn 1996 -2001.
Mặc dù những nội dung này có những nét tơng đồng với nội dung
đề tài mà tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu, tuy nhiên, điểm khác biệt của đề tài
6
nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đến 2010, đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài có
thể làm tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy và những ngời quan tâm đến việc
chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Bố cục của đề tài
Để đạt đợc mục tiêu đề ra, ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài đợc kết
cấu gồm: 3 chơng, 8 tiết.
Chơng 1: Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trong phát triển nền
kinh tế thị trờng định hớng x hội chủ nghĩa.
Chơng 2:Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp Thành
phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2000-
2006
Chơng 3: Phơng hớng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu ngành công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và tầm
nhìn đến 2020. 7
mọi quốc gia.
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các nhóm ngành hợp thành các tơng quan
tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ
cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất của nền kinh tế.
Theo quyết định số 10/2007 QĐ-TTg của Thủ tớng chính phủ ngày
23.01.2007 về ban hành hệ thống ngành kinh tế ở Việt Nam, thì hiện nay các
ngành ở Việt Nam đợc phân ra: 21 ngành cấp 1, 88 ngành cấp 2, 242 ngành cấp
3, 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5.
Tuy nhiên, trong cơ cấu ngành kinh tế ngời ta thờng phân ra ba nhóm
ngành chủ yếu là:
- Nhóm ngành khai thác tài nguyên: bao gồm, nông, lâm, ng nghiệp, khai
thác quặng mỏ khoáng sản (khu vực I)
- Nhóm ngành công nghiệp: bao gồm công nghiệp và xây dựng (khu vực II)
- Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm thơng mại, dịch vụ, bu chính viễn
thông (khu vực III).
Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ là sự phân chia nền kinh tế quốc dân
thành chuyên môn hoá khác nhau về chức năng, nhằm để chuyên môn hoá sản
xuất đạt hiệu quả cao về kinh tế- xã hội.
Cơ cấu thành phần kinh tế gắn với chế độ sở hữu nhất đinh về t liệu sản
xuất để hình thành nên cơ cấu thành phần kinh tế. Tuỳ theo phơng thức sản xuất
có thành phần kinh tế chiếm địa vị chi phối hay chủ đạo và các thành phần kinh
tế khác cùng tồn tại.
1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một hệ thống động, nó luôn thay đổi theo từng thời kỳ
theo đà của quá trình phát triển của lực lợng sản xuất. Đó là sự thay đổi về số
9
lợng của các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng,
các thành phần. Do đó, nói về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nói đến sự chuyển
lực lợng sản xuất, nhất là sự phát triển của khoa học công nghệ, nâng cao năng
xuất lao động góp phần vào việc thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Công nghiệp đợc phân chia thành ba ngành chính gồm: công nghiệp khai
thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất điện nớc, trong đó:
Công nghiệp khai thác nhằm khai thác những tài nguyên thiên nhiên để tạo
nguyên liệu cho các nhành công nghiệp chế biến.
Công nghiệp chế biến là ngành sử dụng các nguyên vật liệu để sản xuất ra
sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế quốc dân, trong đó
có các ngành công nghiệp sản xuất ra t liệu sản xuất và các ngành công nghệ
cao có vai trò quyết định đối với việc phát triển công nghiệp hoá của một nớc.
Công nghiệp chế biến là tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển công
nghiệp của một nớc.
Công nghiệp điện nớc là các ngành sản xuất kết cấu hạ tầng phục vụ cho
các ngành, lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội.
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, cơ cấu ngành công nghiệp là tổng thể các
bộ phận sản xuất của các ngành hợp thành ngành công nghiệp và sự tơng quan
tỷ lệ giữa các ngành sản xuất trong ngành công nghiệp. Hay nói cách khác, cơ
cấu ngành công nghiệp chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành công nghiệp
khai thác, chế biến, sản xuất điện nớc trong tổng thể ngành công nghiệp đợc
xác định bằng tỷ trọng của mỗi ngành sản xuất trong tổng sản phẩm của ngành
công nghiệp tạo ra.
Cơ cấu ngành công nghiệp đợc hình thành từ sự phát triển của phân công
lao động xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, từ cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật lần thứ nhất đến lần thứ hai và hiện nay là cuộc cách mạng khoa học kỹ
11
thuật lần thứ ba trên thế giới. Cơ cấu ngành công nghiệp luôn thay đổi theo từng
thời kỳ, từng giai đoạn phát triển và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong
đó yếu tố Nhà nớc đề ra mục tiêu lựa chọn quy mô phát triển các ngành công
nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, nó góp phần thúc đẩy việc xây dựng cơ cấu
vận động, định hớng sự chuyển dịch, bớc đi, giãi pháp chuyển dịch cơ cấu
ngành công nghiệp một cách phù hợp. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
đợc xem là nội dung cơ bản, quan trọng hàng đầu, là vấn đề có ý nghĩa chiến
lợc trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
1.1.3. Đặc điểm hoạt động của ngành công nghiệp
Công nghiệp là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm
nhất định, thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm
Một là, Sản xuất công nghiệp bao gồm hai giai đoạn.
Quá trình sản xuất công nghiệp thờng đợc chia thành hai giai đoạn: giai
đoạn tác động vào đối tợng lao động là môi trờng tự nhiên để tạo ra nguyên
liệu (khai thác than, dầu mỏ, quặng kim loại, khai thác gỗ) và giai đoạn chế
biến các nguyên liệu đó thành t liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (sản xuất
máy móc, chế biến gỗ, chế biến thực phẩm). Trong mỗi giai đoạn lại bao gồm
nhiều công đoạn sản xuất phức tạp nhng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Vì
thế để phát triển có hiệu quả ngành công nghiệp cần có chiến lợc quy hoạch
phát triển theo vùng, theo cụm, đồng thời phải chú trọng đế việc phát triển các
ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành quan trọng, mũi nhọn.
Hai là, Sản xuất công nghiệp có tính chất tập trung cao độ
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp (trừ các ngành công nghiệp khai thác
khoáng sản, khai thác gỗ) không đòi hỏi những không gian rộng lớn. Tính chất
tập trung thể hiện rõ ở việc tập trung t liệu sản xuất, nhân công và sản phẩm.
13
Trên một diện tích nhất định, có thể xây dựng nhiều xí nghiệp, thu hút nhiều lao
động và tạo ra một khối lợng lớn sản phẩm, giá trị sản phẩm cao, mức đóng góp
vào GDP chiếm tỷ trọng lớn. Vì thế xu hớng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
theo hớng, tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm nền
kinh tế quốc dân là xu hớng phổ biến của các nớc đang phát triển hiện nay.
Tuy nhiên để có thể phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh và hiệu quả cần phải
có những điều kiện nhất định, trong đó phải có vốn và nguồn nhân lực là những
tinh, sành sứ) và ngành công nghiệp sản xuất đối tợng lao động (hóa chất, hóa
dầu, luyện kim và vật liệu xây dựng).
Công nghiệp điện- khí- nớc, bao gồm các ngành sản xuất và phân phối
các nguồn điện ( thủy điện và nhiệt điện), ga, khí đốt và nớc.
Từ phân loại trên cho thấy, ngành công nghiệp chế tạo công cụ sản xuất là
ngành có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống các ngành công nghiệp bởi
vì nó là ngành cung cấp t liệu sản xuất và trang bị kết cấu vật chất cho tất cả các
ngành khác, yếu tố quyết định đến năng suất, chất lợng phát triển của các ngành
trong nền kinh tế.
1.2. Vai trò của ngành công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội và một số kinh nghiệm phát triển công nghiẹp của các nớc mà Việt
Nam cũng nh Thành phố Hồ Chí Minh cần quan tâm
1.2.1 Vị trí, vai trò của ngành công nghiệp đối với sự phát triển kinh
tế- xã hội
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, công nghiệp đợc quan niệm là là
ngành chủ đạo của nền kinh tế, vai trò này đợc thể hiện ở những điểm sau đây:
15
Thứ nhất, Công nghiệp tăng trởng nhanh và làm gia tăng nhanh thu
nhập quốc dân.
Năng suất lao động của khu vực công nghiệp cao hơn hẳn các ngành kinh
tế khác, mà năng suất lao động là yếu tố quyết định để nâng cao thu nhập, thúc
đẩy nhanh tăng trởng công nghiệp và đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập của
quốc gia. Công nghiệp có vai trò quan trọng này là do thờng xuyên đổi mới và
ứng dụng công nghệ tiên tiến, hơn nữa, giá cả sản phẩm công nghiệp thờng ổn
định và cao hơn so với các sản phẩm khác ở cả thị trờng trong và ngoài nớc.
Theo nhiều tài liệu cho thấy trong những thập niên 60-80, hầu hết các nớc khi
GNP/ngời tăng hơn 4 lần, thì tốc độ tăng trởng của GDP khu vực công nghiệp
là 6,8%, trong khi tốc độ tăng của GDP chỉ 5,8%. ở Việt Nam, trong giai đoạn
1985-2004, GDP/ ngời tăng gần 2,5%, thì tốc độ tăng trởng của GDP khu vực
động ở nông thôn.
Thứ t, Phát triển công nghiệp là con đờng tích lũy nhanh cho nền
kinh tế quốc dân và nâng cao chất lợng nguồn nhân lực
Với u thế là ngành có năng suất lao động và giá trị gia tăng cao, việc tăng
trởng nhanh và hiệu quả trong công nghiệp sẽ gia tăng thuế, làm tăng nguồn thu
cho Ngân sách Nhà nớc, tích lũy cho các doanh nghiệp, tăng thu nhập của nhân
dân, tạo điều kiện gia tăng tỉ lệ tiết kiệm đáp ứng cho nhu cầu đầu t của nền
kinh tế. Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế thị trờng cạnh tranh, quá trình phát
triển công nghiệp đồng thời là quá trình tích lũy năng lực khoa học và công nghệ
của đất nớc.
Qúa trình phát triển công nghiệp cũng là quá trình rèn luyện, đào tạo,
nhằm nâng cao chất lợng nguồn lực lao động bao gồm đội ngũ công nhân, đội
ngũ chuyên gia khoa học công nghệ, đội ngũ các nhà lãnh đạo, quản lý kinh
doanh công nghiệp.
17
Thứ năm, Công nghiệp phát triển sẽ đẩy nhanh quá trình đô thị hóa,
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-x hội
Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau Sự phát triển của công nghiệp sẽ dẫn đến sự phân bố lại dân c theo hớng
thúc đẩy quá trình đô thị hóa, đem lại những lợi ích cho phát triển công nghiệp.
Mặt khác, sự phát triển của công nghiệp đòi hỏi phải phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế-xã hội để đáp ứng yêu cầu sản xuất công nghiệp, nhu cầu đời sống
của công nhân và gia đình họ.Vì vậy phát triển công nghiệp tập trung trên một
địa bàn sẽ tiết kiệm đáng kể chi phí xã hội cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội.
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của các nớc
Dới sự tác động của quá trình toàn cầu hóa quốc tế hiện nay, việc mỗi
quốc gia phải biết lựa chọn cho mình con đờng phát triển phù hợp là hết sức cần
thiết. Song việc phát triển các ngành có lợi thế so sánh, cạnh tranh theo hớng
Indonesia: từ một nền kinh tế yếu kém Indonesia đã trở thành một
nớc đô thị hoá nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hớng công nghiệp hoá
mà trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp đúng hớng, nếu cơ cấu
kinh tế của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1969-1974) chỉ đạt tỷ lệ: nông nghiệp:
35%, công nghiệp:28%, dịch vụ: 37%, thì đến năm 1987 tỷ lệ này là: nông
nghiệp: 33,60, công nghiệp: 29,77, dịch vụ: 36,63%; năm 1990 là: nông nghiệp:
30,66%, công nghiệp: 30,95%, dịch vụ: 38,39%; năm 1995 là: nông nghiệp:
27,72%, công nghiệp: 39,63%, dịch vụ: 37,65%; năm 2000 là: nông nghiệp:
20,15%, công nghiệp: 37,44%, dịch vụ: 42,41%; năm 2004 là: nông nghiệp:
16,71%, công nghiệp: 40,79%, dịch vụ: 42,50%. Có đợc thành tựu đó là do
chính phủ Indonesia đã biết thúc đẩy chuyển hớng cơ cấu sản xuất và xuất khẩu
19
theo hớng đa dạng ngành nghề, trong đó dựa vào ngành công nghiệp chế tạo và
dịch vụ, đồng thời tập trung phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, điện tử,
công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin , từ công nghệ lạc hậu sử dụng nhiều
lao động sang áp dụng công nghệ tiên tiến có giá trị gia tăng cao. Do đó,
Indonesia đợc thế giới đánh giá là nớc có tiềm lực phát triển kinh tế hàng đầu
của khu vực ASEAN, và đợc xếp vào hàng những nớc công nghiệp mới.
Malaysia: từ một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp trong
thập niên 60 của thế kỹ XX sang nền kinh tế hớng ra xuất khẩu với các ngành
chủ đạo là công nghệ cao, các ngành thâm dụng vốn và tri thức. Năm 1980 tỷ
trọng nông nghiệp từ 22% giảm xuống còn 18% năm 2000 và chỉ còn 14,77%
năm 2004, trong khi đó tỷ trọng công nghiệp đã tăng từ 38% lên 42,09% và năm
2004 là 45,38%.
Thực tế cho thấy, vào những năm 1990 nền kinh tế Malaysia đã chuyển
dịch một cách có hiệu quả từ nền công nghiệp dựa vào các ngành có giá trị gia
tăng thấp sang ngành có giá trị gia tăng cao, nhất là ngành công nghiệp điện tử,
bên cạnh đó Malaysia cũng nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu hàng xuất khẩu, tập
trung vào những sản phẩm chủ lực của các ngành công nghiệp sản xuất thiết bị
triển kinh tế - xã hội của mình và đến năm 1970 Thái Lan thực hiện chính sách
"hớng xuất khẩu", sang các nớc Asean, Mỹ, Nhật, âu Châu là thị trờng xuất
khẩu chính của Thái Lan. Ngành công nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò
quan trọng trong nền kinh tế và vai trò của nông nghiệp giảm dần. Sự tăng trởng
kinh tế nhanh của Thái Lan là do quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hớng công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, phát triển mạnh sản xuất hàng
tiêu dùng và hàng thay thế nhập khẩu để phục vụ thị trờng nội địa. Tuy nhiên, từ
1970 trở đi Thái Lan đã điều chỉnh chiến lợc phát triển từ thay thế nhập khẩu
sang hớng về xuất khẩu. 21
Cơ cấu GDP của Thái Lan qua các năm
Ngành kinh tế 1987 1990 1995 2000 2004
Nông nghiệp 22,38 20,20 19,08 13,63 11,68
Công nghiệp 30,61 30,14 31,56 37,74 40,84
dịch vụ 47,01 49,66 49,36 48,63 47,48
Trong sự chuyển dịch kinh tế nói chung thì quá trình chuyển dịch trong
ngành công nghiệp cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ, các ngành công nghiệp chế
tạo sử dụng nhiều vốn, có trình độ tinh xảo tăng nhanh và giảm dần những ngành
sử dụng nhiều lao động, chế tạo giản đơn và dựa vào sản phẩm nông nghiệp, nếu
tỷ trọng ngành dệt may, da giày tăng từ 13% năm 1960 lên 21% vào những năm
1990, thì sau đó đã giảm xuống còn 19% vào cuối những năm 1990, tỷ trọng
lơng thực, đồ uống, thuốc lá từ 57% giảm xuống còn 18% trong cùng thời kỳ.
Còn tỷ trọng các ngành nh: điện tử, thép, các thiết bị ngành chế tạo lại tăng từ
12% lẹn 22% kể từ 1985 trở đi và tỷ trọng các sản phẩm lọc dầu, máy điện cũng
tăng nhanh từ 0,64% lên 16% trong cùng thời kỳ này, hiện nay Thái Lan có một
số ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Thái Lan và thế
giới nh: ngành công nghiệp du lịch chiếm 7% GDP, ngành sản xuất ô tô đứng
thứ 7 thế giới
Thứ hai, Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ mô hình phát triển hớng nội
sang mô hình phát triển hớng ngoại.
23
Do xuất phát điểm của các nớc khi bớc vào thực hiện công nghiệp hoá
thờng là những nớc thuần nông, lạc hậu, kết cấu hạ tầng thấp kém, vì thế quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nớc này thờng thực hiện theo mô hình
hớng nội, đó là thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá theo hớng thay thế nhập
khẩu, với mục tiêu là để duy trì sự phát triển của các ngành sản xuất truyền thống
, khuyến khích sản xuất hớng về thị trờng trong nớc, thay thế hàng hoá nhập
khẩu, từ đó tránh đợc sự phụ thuộc quá nhiều vào nớc ngoài, tạo công ăn việc
làm cho ngời lao động, các ngành công nghiệp nhỏ đợc phát triển và quá trình
đô thị hoá cũng đợc phát triển Tuy nhiên mô hình này cũng bộc lộ những hạn
chế nhất định: sản phẩm làm ra tuy thay thế hàng hoá nhập khẩu nhng vẫn phải
lệ thuộc vào nguyên-nhiên-vật liệu và các phụ kiện, phụ tùng, thiết bị máy móc
của nớc ngoài, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nớc không cao, vì
thị trờng nhỏ bé, chất lợng sản phẩm thấp, giá cả không rẻ hơn bao nhiêu so
với hàng nhậpĐể khắc phục những mặt hạn chế ở trên các nớc trên đã thực
hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ hớng nội sang hớng ngoại, hay
còn gọi là chiến lợc công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu, thông qua việc mở
cửa, phát triển thơng mại, thu hút đầu t nớc ngoài
Điểm nổi bật của mô hình hớng ngoại của các nớc thời gian đầu là
hớng vào xuất khẩu những loại hàng nông sản truyền thống, hàng tiêu dùng có
sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật trung bình, vốn thấp.nhằm phát huy lợi thế so
sánh do giá lao động rẻ và dồi dào. Đây cũng là thời kỳ tập trung phát triển các
ngành công nghiệp nhẹ, chế biến gia công, lắp rápKhi đã có khả năng tích lũy
t bản cao, đồng thời lợi thế so sánh về lao động bị mất dần, các nớc lại thực
hiện chính sách phát triển các ngành công nghiệp chế tạo tinh vi, có hàm lợng
kỹ thuật cao, có dung lợng vốn lớn thông qua việc thu hút đầu t nớc ngoài và
thực hiện chuyển giao công nghệ. Điều này cho phép các nớc nâng cao năng