Phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 64

Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
LỜI NÓI ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công nghiệp cơ khí là một ngành kinh tế có vị trí đặc biệt quan trọng
đối với sự phát triển của nền kinh tế bởi vì đây là một ngành công nghiệp sản
xuất ra máy móc, thiết bị cung cấp cho toàn bộ cho các ngành kinh tế khác.
Thực tế cho thấy, trên thế giới không có bất kỳ quốc gia nào thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà lại không có nền công
nghiệp cơ khí mạnh, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí vừa là nền
tảng vừa là động lực cho sự phát triển của tất cả các ngành nghề khác nhau
trong xã hội, nó còn có tác động tích cực đến ngành dịch vụ thông qua sự phát
triển của mạng lưới phân phối, thu hút số lượng lao động xã hội, tham gia vào
quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Phát triển công nghiệp cơ khí sẽ cho phép các nước tiết kiệm được
những khoản ngoại tệ lớn dành cho nhập khẩu máy móc thiết bị hàng năm
(những năm gần đây Việt Nam đã nhập khẩu bình quân hàng năm là trên 10
tỷ USD đối với máy móc thiết bị) và phát huy được thế mạnh cạnh tranh của
nguồn nhân lực của các nước đang phát triển.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
với mục tiêu phần đấu đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp. Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa mà nội dung là xây dựng nền kinh tế mà sản phẩm
của nó chủ yếu được sản xuất bằng máy móc, thiết bị hiện đại do vậy ngành
công nghiệp cơ khí càng có vai trò quan trọng, hơn nữa Việt Nam là đất nước
xuất phát điểm thuần nông, có số dân lớn do vậy chúng ta không thể tiến hành
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng máy móc, thiết bị của nước
ngoài tức là không thể bằng bàn tay của người khác, chính vì vậy phát triển
công nghiệp cơ khí càng trở nên có ý nghĩa và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Ngành công nghiệp cơ khí nước ta được hình thành và phát triển từ rất
sớm, nhận thức được tầm quan trọng của ngành Đảng và Nhà nước ta đã luôn
1
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế

Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
được tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài nghiên cứu “Phát
triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam trong tiến trình hội nshập kinh
tế quốc tế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Hiện nay, có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về sự phát triển Công
nghiệp cơ khí. Cụ thể là đề án “Giải pháp phát trể xuất khẩu một số sản phẩm
cơ khí Việt Nam đến năm 2015” của Ths. Phạm Thị Cải- năm 2005, “ Đánh
giá tổng quát hiện trạng cơ khí Việt Nam và để xuất giải pháp phát triển
ngành cơ khí giai đoạn 2000-2010” của Hội Khoa học Kỹ Thuật cơ khí Việt
Nam, “ Đánh giá trình độ khoa hoc Công nghệ ngành cơ khí chế tạo Việt
Nam” của TS. Nguyễn Đình Trung, Viện nghiên cứu cơ khí- năm 2005. Nhìn
chung các đề tài trên đều tập trung khai thác một khía cạnh nào đó của Công
nghiệp cơ khí trước thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế mà chưa có một đề tài cụ
thể nào đánh giá chung về toàn ngành trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Vì vậy, theo những thông tin có được thì đề tài “Phát triển ngành Công
nghiệp cơ khí Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế” là đề tài duy
nhất đề cập một cách toàn diện, sâu sắc hiện trạng cũng như xu hướng phát
triển Công nghiệp cơ khí trong thời kỳ hội nhập kinh tế Quốc tế.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
 Sơ lược về sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí Thế giới, xu
thế thương mại hóa toàn cầu.
không? Liệu ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam có thể đứng vững và
làm tròn nhiệm vụ của một ngành công nghiệp mũi nhọn hay không? Đây là
điều mà Chính phủ và bản thân các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam rất quan
tâm. Từ trước đến nay, đã có rất Phân tích thực trạng về sự phát triển của
công nghiệp cơ khí Việt Nam.
3
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
 Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao khả năng phát triển cho

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ
PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ
1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp cơ khí thế giới
1.1.1 Vài nét sơ lược về qúa trình phát triển công nghiệp cơ khí Thế giới
Nền công nghiệp cơ khí Thế giới đã có một lịch sự phát triển lâu đời.
Người đặt nền móng cho nền Công nghiệp này là James Watt, bởi ông là nhân
vật tiêu biểu nhất của nền công nghiệp cơ khí nước Anh, nơi khởi nguồn cho
sự phát triển ngành cơ khí chế tạo của nhân loại cách đây gần 250 năm. Với
sự ra đời của Động cơ bằng hơi nước đầu tiên trên thế giới năm 1765 của
James Watt, ngành cơ khí non trẻ của nước Anh đã có một diện mạo mới thay
thế cho nền công nghiệp cơ khí vốn đang còn rất thô sơ . Dựa vào nguyên lý
của James Watt, công nghệ chế tạo máy móc của nước Anh phát triển nở rộ
và trở thành đầu tầu thúc đẩy nhiều quốc gia khác như Pháp, Đức, Italia...
cùng phát triển theo. Các máy công cụ ra đời giúp cho con người sản xuất
được hàng loạt xilanh, pittông, khung máy, ốc vít, bàn tiện, bàn ren. Nhờ đó,
ngành cơ khí lắp ráp được hàng loạt máy móc riêng lẻ, máy móc thay thế dần
lao động chân tay trong đó phải kể đến các mốc lịch sử quan trọng như là:
Năm 1800, tàu biển chạy bằng hơi nước được chế tạo thành công. Đây
được coi là cuộc cách mạng ngành hàng hải.
Năm 1801, ngành công nghiệp cơ khí có thêm một phát minh mới của
Jaka là áp dụng phiếu đục lỗ, thông qua các phiếu đục lỗ đã được lập trình mà
máy móc phải hoạt động theo các lỗ đã lập trình sẵn đó. Phát minh này tuy
còn sơ khai, nhưng có ý nghĩa mở đường cho hướng tự động hóa trong ngành
cơ khí kể từ đó.
Năm 1805, động cơ hơi nước công suất lớn do kỹ sư Tri-oai chế tạo,
mở ra triển vọng lớn cho ngành giao thông vận tải. Mười năm sau, năm 1815,
Laenec phát minh ra ống nghe và ngay sau đó ngành cơ khí sản xuất thiết bị
6
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
cho ngành y tế, bắt đầu phát triển mà khởi đầu là sản xuất hàng loạt ống nghe

giữa thế kỷ XVIII. Cuộc cách mạng này đã thay lao động thủ công
bằng sử dụng máy móc. Nó còn được gọi là bước khởi đầu của thời
đại “cơ khí hóa”. Thành tựu nổi bật nhất của nó chính là phát minh
ra máy hơi nước làm tăng năng suất lao động.
• Cuộc cách mạng thứ hai: Từ cuối thế kỷ thứ XIX đến những năm 30
của thế kỷ XX. Nó ứng dụng rộng rãi sức điện, phát minh động cơ
đốt trong, điện khí hóa.
• Cuộc cách mạng thứ ba: từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay.
Nó ứng dụng rộng rãi kỹ thuật điện tử, tự động hóa đặc biệt là công
nghệ thông tin, vật liệu mới, công nghệ sinh học, hạt nhân, công nghệ
vũ trụ...
1.1.2 Những xu hướng chính trong ngành công nghiệp cơ khí Thế giới
• Quốc tế hoá quá trình sản xuất sản phẩm cơ khí
Trong những tiến bộ của khoa học kỹ thuật tạo ra quá trình Toàn cầu
hoá kinh tế, trước hết phải nói đến nền công nghiệp chế tạo, đặc biệt là ngành
cơ khí điện tử và công nghệ thông tin. Do quá trình đổi mới kỹ thuật diễn ra
nhanh chóng, nên linh phụ kiện của các sản phẩm như thiết bị ô tô, thiết bị
thông tin… có thể được phân bố sản xuất ở nhiều nước, làm cho mỗi nước có
thể phát huy ưu thế của mình về mặt kỹ thuật, giá thành lao động và nguồn tài
nguyên sẵn có, khiến cho sản phẩm cuối cùng trở thành “ sản phẩm quốc tế ”
mang nhãn hiệu nhiều nước, tạo ra ưu thế cạnh tranh về kỹ thuật và giá thành
rất rõ ràng. Có thể lấy ví dụ công ty sản xuất máy bay Boeing (Hoa Kỳ)
chiếm giữ vị trí độc quyền trên toàn cầu, song các lĩnh vực sản xuất phụ kiện
của hãng máy bay này cung do hàng chục nước và khu vực sản xuất, nên
8
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
chính các công ty đa quốc gia tầm vóc lớn này thể hiện bản chất, đặc điểm
quá trình Quốc Tế hoá rất rõ ràng.
Với sự cạnh tranh không ngừng giữa các quốc gia, đặc biệt là các nước
đang phát triển cũng như sự điều phối của chính phủ các nước này, hoạt động

nhất của Mỹ (GM, Ford, Chrysler) đã sáp nhập với nhau, trong một vài
trường hợp đã thiết lập những chiến lược hợp tác kinh doanh với các nhà sản
xuất ô tô ở châu Âu và Nhật Bản. Sư sáp nhập của Chrysler Daimler-Benz là
sự sáp nhập đầu tiên của một nhà sản xuất ô tô châu Âu với mục đích củng cố
vị trí trên thị trường Mỹ. Gần đây nhất, vào đầu năm 2009, hiệp hội các đại lý
tiêu thụ xe tại Mỹ (AIADA) thông báo hãng sản xuất xe Trung Quốc- Geely
chắc chắn sẽ đề nghị mua lại thương hiệu Volvo của Ford trong nỗ lực muốn
mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên thị trường ô tô quốc tế trong thời khủng
hoảng.Nếu thương vụ trên thành công, Geely muốn giữ Volvo như một
thương hiệu xe quốc tế thay vì tập trung vào thị trường Trung Quốc.
• Xu hướng liên kết giữa cơ khí và điện tử tạo thành lĩnh vực cơ khí
đầy tiềm năng – Cơ điện tử
Cơ điện tử là khái niệm ra đời tại Nhật Bản xuất phát từ nhu cầu phát
triển các sản phẩm cần công nghệ tích hợp liên ngành giữa cơ khí, điện, điện
tử, công nghệ thông tin và điều khiển hệ thống. Sự tích hợp này tạo nên một
công nghệ mới, trong đó có sự chuyển biến về chất của tư duy công nghiệp
mà trọng tâm là tư duy công nghệ tạo nên đổi mới và xúc tiến các phương
pháp giải quyết những vấn đề kỹ thuật tổng hợp. Công nghệ này đã tạo ra
nhiều sản phẩm mới và đã cung cấp giải pháp tăng hiệu quả và tính năng của
thiết bị công nghiệp, dân dụng. Từ đó đến nay, cơ điện tử đã phát triển không
ngừng, nhất là khi kỹ thuật vi xử lý ra đời đã làm cho cơ điện tử có vai trò
quan trọng trong khoa học và công nghệ. Sản phẩm cơ điện tử ngày càng tích
10
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
hợp trong nó nhiều công nghệ cao hơn, mức độ thông minh ngày càng mạnh
và kích thước ngày càng được rút gọn. Đây là ngành rất quan trọng và không
thể thiếu trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại.
1.1.3. Thương mại quốc tế trong ngành công nghiệp cơ khí Thế giới
Sự phát triển của thương mại quốc tế trong ngành công nghiệp cơ khí
đã thu hút sự chú ý của các nhà hoạch định hính sách để hoạch định các chiến

cao, cạnh tranh mạnh từ các nước có lương thấp. Nhưng ngành kỹ nghệ lớn
này của Đức, với 900.000 nhân công, đã biết sử dụng những năm tháng khó
khăn để tiếp tục phát triển mạnh hơn. Không một ngành nào mà sự trang bị
trước sự toàn cầu hóa tốt hơn ngành cơ khí chế tạo máy. Khoảng 19% xuất
khẩu máy móc trên thế giới là từ Đức, chỉ 15% từ USA. Đáng ngạc nhiên nhất
là ngành cơ khí nước này không bị ảnh hưởng mạnh bởi đồng Euro có nghĩa
là ngành cơ khí Đức không bị ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái. Bởi chính các
nhà sản xuất của Đức đã sớm nhận ra tầm quan trọng của hệ thống máy móc
có thể giảm được phí tổn sản xuất mạnh như thế nào. Quan trọng hơn cả giá
cả và tỉ giá hối đoái là mối quan hệ phụ thuộc giữa khách hàng và nhà cung
cấp. Nhiều nhà máy cơ khí Đức cung cấp sản phẩm mà những sản phẩm này
là kết quả của một sự làm việc và phát triển quan hệ khách hàng lâu dài nhiều
năm. Theo Ralph Wichers- chuyên gia của VDMA- thì khi mà khách hàng và
nhà cung cấp đã có liên hệ chặt chẽ thì không thể một sớm một chiều khách
hàng có thể chuyển sang nơi khác. Do vậy, các nước dùng đô la không có
khả năng nào khác hơn là mua tiếp máy móc Đức vì tại nước họ lúc đó không
có một nhà máy cơ khí nào khác.Theo như lời nhận xét của giám đốc hãng
Dolmar tại Hamburg – hãng sản xuất máy móc cho lâm nghiệp và vườn tược-
thì sự yếu kém của đồng đô la lại có tác dụng tích cực. Họ đã tìm cách mua
khoảng một phần ba sản phẩm và xuất khẩu khoảng 15% sang các nước dùng
đồng đô la. Hơn nữa, nhiều hãng kết hợp nhiều mô hình với nhau. Bên cạnh
tài khoản giờ, còn có hợp đồng lao động có hạn định và hệ thống làm việc
uyển chuyển hơn. Qua đó, họ có thể đối phó với những thay đổi của sự phát
triển nền kinh tế. Ngày nay, các hãng cơ khí Đức đưa dây chuyền sản xuất
12
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
sang các nước có mức lương thấp hay mua sản phẩm tại các nước này. Theo
thống kê, cứ bốn hãng thì có một hãng đưa nhiều phần sản xuất ra nước ngoài.
Hơn một nửa các hãng đã lên kế hoạch cho việc này. Phần lớn các hãng mua
sản phẩm từ các nước Đông Âu, Trung Quốc hay Ấn Độ. Những hãng như

không có mục công nghiệp riêng. Thay vào đó, cách phân loại dựa
vào hoạt động kinh tế. Cũng theo cách sắp xếp các ngành kinh tế
của hai nước này, công nghiệp là thành phần chủ yếu của khu vực
thứ hai của nền kinh tế. Theo Colin Grant Clark – nhà kinh tế học
người Anh thì khu vực thứ hai của nền kinh tế sử dụng những đầu
vào là sản phẩm của khu vực thứ nhất để gia công, chế biến thành
những sản phẩm hoàn chỉnh và phù hợp cho người tiêu dùng và các
xí nghiệp sử dụng (để gia công, chế biến). Nòng cốt của khu vực thứ
hai là các ngành chế tạo máy và xây dựng.
Như vậy, dựa vào cách phân loại ngành Công nghiệp của Encarta và
Wikipedia, Công nghiệp cơ khí thuộc ngành Công nghiệp nặng hay là
ngành công nghiệp thuộc khu vực thứ hai của nền kinh tế (theo quan điểm
của Anh và Mỹ). Do đó, ngành Công nghiệp này gắn liền với quá trình sản
xuất máy móc, phương pháp công nghệ gia công kim loại, hợp kim để chế tạo
các chi tiết hoặc kết cấu máy. Quá trình sản xuất chế tạo đó bao gồm nhiều
công đoạn khác nhau được tóm tắt như sau:
14
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Hình 1: Sơ đồ quá trình sản xuất cơ khí
(Nguồn: Giáo trình cơ khi Đại Cương)
Giải thích một số thuật ngữ trong mô hình trên:
• Phôi là một danh từ kỹ thuật có tính chất quy ước chỉ vật phẩm
được tạo ra của một quá trình sản xuất này chuyển sang một quá
trình sản xuất khác. Ví dụ: quá trình đúc, là quá trình rót kim loại
lỏng vào khuôn, sau khi kim loại đông đặc trong khuôn ta nhận
được một vật đúc kim loại có hình dáng kích thước theo yêu cầu.
Những vật đúc này có thể là: - Sản phẩm của quá trình đúc. - Chi
tiết đúc: nếu như không cần gia công cắt gọt nữa. - Phôi đúc: nếu
vật đúc phải qua gia công cắt gọt như tiện, phay bào… Như vậy
trong trường hợp này sản phẩm của đúc được gọi là phôi đúc của

nguồn nhân lực và vốn. Đây cũng là bốn tiêu chí cơ bản nhất và có tác động
qua lại với nhau góp phần thúc đẩy thị trường sản xuất và tiêu thụ cơ khí
16
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
trong nước cũng như xuất khẩu ra nước ngoài. Thông qua đó tạo nên nền
Công nghiệp cơ khí phát triển mạnh.
1.2.2.1 Tiêu chí về khoa học công nghệ
Trong suốt lịch sử loài người, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ
khí rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng
thêm lao động và vốn, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công
nghệ sản xuất. Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và vốn
có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn.
Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ đã tạo
nên những bước đột phá trong phát triển các sản phẩm cơ khí chế tạo, cơ khí
chinh xác và tạo điều kiện để sản xuất các sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao... có
những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất. Tuy
nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu;
công nghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng được là nhờ
"phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế cho phép những sáng
chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng. Hiện
nay, các quốc gia thường đánh giá trình độ phát triển Khoa học Công
nghê qua bốn thành tố T(techware)- kỹ thuật, H(humanware)- con người,
I(infoware)- thông tin và O (organware)- tổ chức.
 Thành tố kỹ thuật – Technoware (T)
Thành tố kỹ thuật là thành tố dùng để đánh giá các công cụ và các
phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm
mong muốn. Technoware bao gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu (Trang
thiết bị) và hệ thống xử lý thông tin (Công nghệ).
- Hệ thống biến đổi nguyên vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học
theo thiết kế của máy móc thiết bị.

 Thành tố Tổ chức Orgaware (O)
Orgaware đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực tiễn, và bố trí để vận
hành hiệu quả việc sử dụng thành tố kỹ thuật và thành tố con người. Nó có thể
được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công
việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc.
1.2.2.2 Tiêu chí về vốn
Vốn là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ vốn mà
người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị...nhiều hay ít (tỷ lệ vốn
trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp. Vốn không chỉ là máy
móc, thiết bị do tư nhân đầu tư cho sản xuất nó còn là vốn cố định xã hội,
những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển. Để có được vốn,
phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai. Điều này đặc
biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, thực tế cho thấy những quốc gia có
tỷ lệ đầu tư vốn cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững trong
phát triển Công nghiệp cơ khí- một ngành công nghiệp đòi hòi thời gian đầu
tư lâu dài và kiên trì.
1.2.2.3 Tiêu chí về nguồn nhân lực
Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật
của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của ngành công nghiệp cơ khí.
Hầu hết các yếu tố khác như vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua
hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự.
Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ
có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa,
có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt. Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn
phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết vốn bị phá
hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thể phục hồi
19
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục. Một ví dụ là nước Đức, "một lượng
lớn vốn của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy

giản tiêu chuẩn hoá trong khâu tư vấn, tính toán và thiết kế các hệ thống thiết
bị cơ khí, có thể đơn giản và giảm bớt từ 10 đến 15% khối lượng công việc do
sử dụng các chi tiết và cụm chi tiết được tiêu chuẩn, được thống nhất. Trong
công nghiệp chế tạo cơ khí, quá trình lắp ráp và đặc biệt việc thay thế sửa
chữa các phụ tùng cơ khí đòi hỏi sử dụng tiêu chuẩn, không thể thiếu tiêu
chuẩn và thực hiện công tác tiêu chuẩn hoá khá cao, hiệu quả mang lại có ý
nghĩa kinh tế tốt.Tiêu chuẩn áp dụng phổ biến nhất hiện nay là ISO 9000. Bộ
tiêu chuẩn ISO 9000:2000 bao gồm nhiều tiêu chuẩn. Trong đó tiêu chuẩn
chính ISO 9001: Hệ thống quản lý chất lượng, các yêu cầu, nêu ra các yêu cầu
đối với hệ thống quản lý chất lượng mà doanh nghiệp cần phải đáp ứng khi
sản xuất sản phẩm cơ khí của mình.
1.3 Sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp cơ khí
Thứ nhất, Công nghiệp cơ khí là ngành công nghiệp then chốt, là nền
tảng cho sự phát triển kinh tế. Như chúng ta đã biết, vào những năm 80 của
thế kỷ 20 trên toàn cầu đã xuất hiện nhiều ngành Công nghiệp mới đặc biệt là
sự đột phá của Công nghệ sinh học, tin học, vật liệu.. Vì vậy, ngành công
nghiệp cơ khí đã bị xem nhẹ. Năm 1993, sau khi tổng kết đánh giá Hội kỹ sư
cơ khí Mỹ đã ra lời kêu gọi toàn xã hội rằng: “Ngành cơ khí chế tạo hiện nay
phải được phát triển lại” và dùng con số đơn giản nhất để khuyên người dân
Mỹ rằng hơn nửa nguồn giá trị tổng sản phẩm quốc dân và hoạt động kinh
doanh năm 1992 của nước Mỹ là do ngành cơ khí đem lại. Điều này đã làm
cho hầu hết người dân Mỹ kinh ngạc vì qua một thời gian dài đã không hiểu
được sự thật đơn giản này. Có thể nói rằng, nhân dân Mỹ đạt được sự thịnh
vượng như hiện nay công lao chủ yếu do ngành cơ khí đem lại. Theo thông
21
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
báo mới nhất của Trung Quốc, một quốc gia đang phát triển, liên tục với tỷ lệ
tăng trưởng cao những năm qua thì ngành cơ khí chế tạo đã chiếm tới 1/3
tổng sản phẩm xã hội,đóng góp tới 90% kim ngạch xuất khẩu.
Thứ hai là Công nghiệp cơ khí tạo động lực thúc đẩy các ngành Công

Ví dụ, chính phủ Nhật Bản thấy rằng hối suất đồng yên không nên để cho đắt
quá, cũng không nên rẻ quá đối với đồng Đô la, cứ để trong khoảng từ 100
yên tới 120 yên trên một Đôla Mỹ là vừa. Nếu khi thấy Đôla Mỹ xuống thấp
(99 yên đổi được một đô la Mỹ), Ngân Hàng Trung Ương Nhật Bản sẽ bỏ tiền
Nhật ra mua Đô La Mỹ, nâng giá Đô la Mỹ lên. Ngược lại, nếu thấy giá đồng
yên xuống quá, 125 yên mua được một đồng Đô la Mỹ, Ngân hàng Trung
Ương Nhật Bản sẽ bỏ tiền Đô la Mỹ ở trong kho dự trữ ngoại tệ ra để nâng
giá đồng Yên lên.
Với tầm quan trọng đặc biệt như đã nêu trên, phát triển Công nghiệp cơ
khí có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
1.4 Cơ hội và thách thức đối với nền Công nghiệp cơ khí Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế
1.4.1 Tiến trình hội nhập của ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của ngành Công nghiệp
cơ khí Việt Nam được nhìn nhận bằng quá trình tham gia các tổ chức, diễn
đàn kinh tế Thế giới và khu vực cũng như những hiệp định thương mại song
phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết và cam kết thực hiện, Tiến trình
hội nhập của Việt Nam được trình bày ở những điểm sau:
1.4.1.1 Cam kết trong hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ có hiệu lực
ngày 10/12/2001. Theo đó, Việt Nam đồng ý tiến hành những bước sau nhằm
mở cửa thị trường
- Dành quy chế đối xử tối huệ quốc cho các hàng hoá của Mỹ;
23
Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
- Ðối xử với các hàng hoá nhập khẩu giống như hàng hoá sản xuất
trong nước (còn được gọi là “đối xử quốc gia”);
- Loại bỏ hạn ngạch đối với tất cả hàng hoá nhập khẩu trong thời hạn
từ 3 đến 7 năm;
- Minh bạch hơn quy trình mua sắm của chính phủ;

Hiện nay, khu vực hiệp định mậu dịch tự do ASEAN gần như đã được
thành lập. Các quốc gia thành viên ASEAN đã tạo ra được bước tiến đáng kể
trong việc giảm thuế quan trong nội bộ khối thông qua chương trình ưu đãi
thuế quan có hiệu lực chung CEPT. Hơn 9% các sản phẩm trong danh mục
giảm thuế (IL) của CEPT của các nước ASEAN-6 bao gồm: Bruney,
Indonxia, Malayxia, Philipin, Singapore và Thái Lan đã giảm xuống còn
0-5%. Các thành viên mới của ASEAN như Campuchia, Lào, Myanmar và
Việt Nam là những nước tham gia muộn hơn, nên thời hạn để giảm thuế các
mặt hàng xuống còn 5% đối với Việt Nam là năm 2006, Myanmar và Lào
năm 2008, Campuchia vào năm 2010. Mức thuế quan 0% cho các nước
ASEAN-6 được thực hiện trước năm 2010, còn đối với Việt Nam, Lào,
Myanmar và Campuchia là trước năm 2015, một số mặt hàng nhạy cảm có thể
gia hạn trước năm 2018.
1.4.1.3 Cam kết trong khu vực thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc
Vào ngày 12.6.2006, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định
35/2006/QĐ-BTC về việc ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất thuế
nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại
hàng hóa ASEAN- Trung Quốc. Theo đó 9.133 mặt hàng sẽ tham gia thực
hiện cắt giảm thuế kể từ ngày 1/1/2006 với mức thuế suất ACFTA theo đúng
25

Trích đoạn Thời kỳ trước năm 1975 Thời kỳ từ năm 1976 đến năm 1990 Thời kỳ từ năm 1991 đến 2006 Thực trạng phát triển Khoa học Công nghệ của ngành cơ khí Việt Thực trạng đầu tư Vốn cho ngành Công nghiệp cơ khí Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status