phát triển ngành nguyên liệu dệt may việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 10


BỘ
GIÁO
DỤC
VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TRƯƠNG THÀNH LONG
PHÁT TRIỂN NGÀNH NGUYÊN LIỆU DỆT MAY VIỆT NAM
TRONG ĐIÊU KIỆN HỘI NHẬP KINH TÊ QUỐC TÊ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TÊ QUỐC TẾ

SỐ:
60.31.07
TH
- •
<**
:
jf.r,0í
in
,3
[_ IOVS
LUẬN VÃN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Đỗ THỊ LOAN

NỘI,
2006
MỤC LỤC
TRANG
LỜI
MỞ ĐẦU Ì

7
1.2
Khái niệm
về
sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may 9
1.2.
Ì
Khái
niệm
sản
xuất

sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may 9
1.2.2 Phân
loại
hoạt
động sản
xuất
nguyên
liệu

hoạt
động sản
xuất
nauyén
liệu
dệt
may
thế
giới
17
1.4
Vai
trò và ý
nghĩa
của sản
xuất
nguyên
liệu
dệt may đói vói
công
nghiệp
dệt
may
trong
bôi cảnh toàn
cu hóa 22
Ì .4.
Ì
Vai
trò

cành toàn cầu
hóa 24
1.5
Kinh
nghiệm phát
triển
sản
xuất
nguyên
liệu
dệt may của một số nước và
bài học cho
Việt
Nam 26
Ì
.5.
Ì
Kinh
nghiệm
phát
triển
sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may cùa
Trung
Quốc26
1.5.2

MAY VIỆT NAM 33
2.1 Thực
trậng
hoật
động sản
xuất
nguyên
liệu
dệt may 33
2.1.1
Khái quát
chung
về còng
nghiệp dệt
may
Việt
Nam 33
2.
Ì
.2
Thực
trạng
hoạt
động sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may 38
2.

5^5
2.2.
Ì
Tác động của
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế đối với
ngành
dệt
may nói
chun"

hoạt
động sản
xuất
nguyên
liệu
nói riêng 53
2.2.2 Yêu cầu
đặt ra đối với hoat
động sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may
Việt
Nam

may
Việt
Nam
đến
2010
59
3.1.1
Quan
điếm

mục
tiêu
phát
triển
cổng
nghiệp dệt
may 59
3.1.2 Quan
điếm

mục
tiêu
phát
triển
sản xuất
nguyên
liệu
dệt
may 61
3.

liệu
dệt
may
của
Việt
Nam
đến 2010
68
3.2
Các
giải
pháp nhàm phát
triển
ngành
sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may
Việt
Nam
đến 2010
72
3.2.
Ì
Nhóm
giải
pháp


nay, dệt
may là ngành công
nghiệp
sử
dụng
nhiều
lao
động
nhất
và là ngành công
nghiệp
có kim
ngạch
xuất
khẩu
cao
thứ
hai
sau dầu
thô.
Tuy
nhiên,
thực
tế
đang
tồn
tại
nhũng bất
cập
trong

tình
trạng
manh
mún,
lạc
hậu và
thiếu
vản.
Hơn 60% giá
trị
của các nguyên
liệu
dệt
may
của Việt
Nam
phải
nhập
khẩu,
chưa tính đến giá
trị
nguyên
liệu
nhập khấu
đế
gia
công.
Sự mất cân
đải giữa
khả năng sản

thị
trường
thế
giới.
Bên
cạnh đó,
sức
cạnh
tranh
của hàng
dệt
may
xuất
khấu
Việt
Nam yếu hơn so
với
sản phẩm của các nước đang phát
triển
khác do giá thành hàng may mặc của
Việt
Nam bị
đội
cao do phụ
thuộc
quá
nhiều
vào hàm
lượng
nguyên

thể
đáp ứng một cách
tảt
nhất
nguồn cung
cấp
nguyên
liệu
cho ngành công
nghiệp
dệt
may và thích ứng được
với điều
kiện hội
nhập
kinh tế
quảc
tế.
Với
ý
nghĩa
trên,
tác
giả
chọn
đề tài "Phát
triển
ngành nguyên
liệu
dệt

viết,
nghiên
cứu.
Hiện
nay đã có
nhiều
nghiên cứu
về
tình hình phát
triển
dệt
may của
Việt
Nam nói
chung,
các cơ
hội
và thách
thức
đối
với
ngành
dệt
may
Việt
Nam
khi
tham gia
Tổ
chức

ngành nguyên
liệu
dột
may
Việt
Nam
trong bối
cánh
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế.
Do
vậy,
đề tài
này không trùng
lặp với
bất
cứ nghiên cứu nào đã có trước đây. Các
nội
duna
của luận
văn đều do tác
giả tự
xây
dựng
và nghiên
cứu.
Mục đích nghiên cứu

điều
kiện hội
nhập
kinh tế
quốc
tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu
những
khái
niệm
chung
về nguyên
liệu
dệt
may và các
hoạt
động của ngành nguyên
liệu
dệt
may;
- Đánh giá
thực
trạng
ngành nguyên
liệu
dệt
may
Việt
Nam; xác đữnh

chiến
lược phát
triển
ngành nguyên
liệu
dệt
may;
- Đề
xuất
các
giải
pháp nhằm phát
triển
ngành nguyên
liệu
dệt may
trong
điều
kiện hội
nhập
kinh tế
quốc
tế.
3
Đôi
tượng
và phạm
vi
nghiên cứu
Đối

Hoạt
động sán
xuất
của ngành sản
xuất
nguyên
liệu
dệt may
Việt
Nam;
Phàm
vi
nghiên
cứu :
Ngành nguyên
liệu
dệt
may bao hàm
rất nhiều hoạt
động,
từ việc trồng
bông,
chế xơ đến kéo
sợi,
dệt
vải,
nhuộm và sản
xuất
các
loại

nghiệp
dệt
may bền
vững,
đó

ngành kéo
sợi,
dệt vải
và nhuộm hoàn
tất.
Các
giải
pháp để phát
triển
ngành nguyên
liệu
dệt
may của
Việt
Nam

luận
văn đưa
ra
sẽ
giới
hạn cho
giai
đoạn

phân
tích,
tổng hợp, kết
hợp
giữa

luận

thực
tiễn
thõng qua các tài
liệu
về
hoạt
động của các đơn
vị,
công
ty trong lĩnh
vực sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may.
- Vận
dụng
các
quan
điểm,
đường

tham
khảo,
luận
vãn được
kết
cấu
thành 3 chương như
sau:
Chương
1:
Tổng
quan
về nguyên
liệu
dệt
may và sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may
Chương 2:
Thực
trạng hoạt
động sản
xuất
nguyên
liệu
dệt may
Việt

Khái
niệm
nguyên
liệu
dệt
may
1.1.1
Khái niệm nguyên liệu
dệt
may
Nhìn
từ
khía
cạnh
ngôn
ngữ,
nguyên
liệu
dệt
may
là một
thuật
ngũ'
được
tạo
bởi hai
cụm
từ
"nguyên liệu"
+

tố
hoặc
nội
dung
vật chất
nào
được
sử
dụng
để làm
ra
các
vặt thế
cần
thiết
cho con
người
như
máy
móc,
dụng
cụ,
nhà
cửa,
quẩn
áo
v.v
"Nguyên
liệu"


Từ
điển
Tiếng
Việt
của tác
giả
Hoàng
Phê
chủ
biên,
do Nhà
xuất
bản
Đà
Nang
tái bản
lần thứ
5 năm
1997
định
nghĩa
"nguyên
liệu

đối tượng lao
động
đã
được
con
người khai thác

công hoặc
trong
một số
trường
hợp
cũng

thế
đã
qua
xử
lý,
trước
khi
được sử dụng
trong
các
quá
trình
sấn xuất
tinh
xảo
hơn." [35]
Còn
theo
định
nghĩa
của từ
điển
Anh-Anh

tạo để tạo ra vật thể mà con người có thể sử dụng vào mục đích nhất định."
Nội
hàm của khái niệm này cho thấy nguyên
liệu
phải gắn
liền
với một
hoạt
động sản xuất
hoặc
chế tạo. Với mỗi một ngành công
nghiệp
sẽ có các
loại
nguyên
liệu
khác
nhau

ngay
trong
một ngành công nghiệp, các
hoạt
động sản xuất và chế tạo khác
nhau
cũng
sẽ có các yếu tố nguyên
liệu
khác
nhau.

hoạt
động dệt vải tỉ sợi và may
quần
áo tù vải. Dệt
may,
theo
đó, là khái niệm chỉ mọi
hoạt
động liên
quan
đến dệt vải và may đồ
đế mặc.
Kết
hợp lại, ta có thể có một định
nghĩa
hoàn
chỉnh
về nguyên
liệu
dệt
may như sau: "Nguyên liệu dệt may là các yếu tố vật chất đẩu vào của hoạt
động dệt và may nhằm tạo ra các sừn phẩm có cóng dụng cho con người là
các loại vừi vóc và quần áo, đồ dùng từ vừi."
Trong
thực
tế đời
sống
và thương mại
quốc
tế, các sản

khác như
chỉ,
khuy, cúc,
khóa kéo
v.v
dùng cho ngành may.
Tuy
nhiên,
trong
số các yếu
tố
đầu vào kể
trên,
người ta
thường phân
biệt

ràng
hai
nhóm "nguyên
liệu"
và "phụ
liệu,
phụ
kiện"
dệt
may.
Nguyên
liệu
dệt

của sản
phẩm
dệt
may. Nếu
đối
chiếu
về ý
nghĩa
ngôn ngừ thì
rõ ràng chúng
rất
phù hợp và sát
với
khái
niệm
đã nêu phía trên.
Phụ
liệu
và phụ
kiện
dệt
may được dùng đế
chỉ
các
loại
yếu
tố
đầu vào
phụ
trợ,

được
sử
dụng
đúng
theo
ý
nghĩa
ngôn ngừ
của từ
"nguyên liệu",
tức

chỉ
các
yếu tỏ vật
chất
cơ bản
tạo
nên tính
chất,
đặc
điếm
của các sán phẩm
dệt
may
cuối
cùng. Cụ
thế,
nguyên
liệu

1.1.2 Phân loại các nguyên liệu dệt may chủ yêu
Như đã nêu, các
loại
nguyên
liệu
dệt
may chủ yếu bao gồm: các
loại
nguyên
liệu
thô dùng cho kéo
sợi
bao gồm bông, tơ
tằm,
đay hay các
loại

tổng
hợp, sợi
các
loại
dùng cho
dệt vải

vải
các
loại
dùng cho may mặc.
Trong
các

các
sản
phẩm
dệt
may
cuối
cùng.
8
Để
phân
loại
các
loại
nguyên
liệu
dệt
may,
ta

thể
dựa vào một số tiêu
chí,
trong
đó có
hai
tiêu chí phổ
biến: theo
nguồn
gốc
vật

gốc hóa học.
Nguyên
liệu

nguồn
gốc
tự
nhiên gồm có như
bỏng,
đay
(nguồn
gốc
thực
vật),

tằm,
lông cảu
(nguồn
gốc động
vật).
Nguyên
liệu

nguồn
gốc hóa
học
là các
loại
sợi tổng
hợp hóa học được chế

tự
nhiên nhưng được sản
xuất
nhân
tạo
thông qua
việc
xử lý hóa họe
bột
gỗ như
sợi
rayon, acetate,
modal,
visco
Trong
lịch
sử và
theo
xu
hướng
phát
triển
của
ngành
dệt
may,
tỷ
lệ
nguyên
liệu

triển
liên
tục

mạnh
mẽ của nhu cầu con
người,
điều
này đòi
hỏi phải
tìm
ra
và phát
triển
các
loại
nguyên
liệu
mà con
người

thể
sản
xuất
hàng
loạt
với
khôi
lượng
lớn

thỏa
mãn
những
công
dụng
đặc
biệt
do
vậy
sự phát
triển

chiếm
ưu
thế
của
nguyên
liệu
hóa học so
với
nguyên
liệu
tả
nhiên

xu
thế
tất
nhiên.
Căn cứ

sợi
bao gồm
tất
cả các
loại
nguyên
liệu
dùng đế kéo
sợi,
cho dù

nguồn
gốc
tự
nhiên hay nhân
tạo,
như
bông,

tằm,
lông
cảu, đay,
lanh,

9
tổng
hợp
v.v
và các sản phẩm
sợi cuối

loại
theo
tiêu chí này chủ yếu có ý
nghĩa
đê có
thể
tách
bạch
xem xét và
phân tích
hai
ngành
hoạt
động căn bán

công
nghiệp
kéo
sợi
và công
nghiệp
dệt
vải
và hoàn
tất vải.
Một
điều
cần lưu ý là ngành
sợi
(textile)

niệm
về sản
xuất
nguyên
liệu
dệt may
1.2.1
Khái niệm
sản
xuất
và sản
xuất nguyên liệu
dệt
may
Sán
xuất
được
hiểu
là các
hoạt
động có chủ đích của con
người
nhằm
tạo
ra một sản phẩm có giá
trị
sử
dụng
nhất
định.

biến
các
dạng vật
chất
của
giới
tự nhiên nhằm
tạo
ra
của
cái
vật
chất thỏa
mãn nhu cầu
tồn
tại
và phát
triển
của con
người" [1].
Hoạt
động sản
xuất,
như
vậy,

một phạm trù gắn
liền
với
con

trong
khi
hoạt
dộng
sản
xuất
của con
người

hành động có
chủ
đích,

đối
tượng
tác động và có khả năng
cải biến
tự
nhiên.
Sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may,
theo
đó, có
thể
được
hiểu

Sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may như
vậy
là một
nội dung
và bộ
phận
của
khái
niệm
sản
xuất
dệt
may nói
chung,
trong
đó sản
xuất
dệt
may gồm hai
mảng
hoạt
động chính là sản
xuất
nguyên
liệu

dệt
may
rất
đa
dạng
và bao gồm
nhiều
loại
hoạt
động
sản
xuất
cụ
thể
khác
nhau
như
trồng
bông, kéo
sợi,
dệt
vải,
nhuộm
vải
hay
các
hoạt
động
chế
tạo

may đã được
nêu phía
trên,
nghĩa là
nó được
hiểu

giằi
hạn bao gồm các
hoạt
động cụ
thể
sau:
sản
xuất
các nguyên
liệu
thô để kéo
sợi
(trồng
bông,
trồng
đay,
lanh,
chăn
cừu, chế

sợi
nhân
tạo ),

liệu
được sử
dụng
để kéo
sợi,
bao
gồm như
trồng
bông,
trồng
đay,
nuôi tằm
lấy tơ,
chăn nuôi
cừu,

lấy
lông đế
sản
xuất
sợi
len,
chế
biến
các
loại

sợi
tổng
hợp từ sản phẩm của công

loại
cây nguyên
liệu
khác thường được
canh
tác
trong
các đồn
điền; cừu,
dê và các loài
vật lấy
lông khác
cũng
thường được chăn nuôi
trong
các
trang
trại
gia
súc
tập
trung.
Việc
canh
tác và chăn nuôi
tập
trung
cho phép con
người
có khả năng tăng

liệu,
một yếu
tố

tầm
quan
trong then chốt của sản xuất
công
nghiệp.
Ngày nay,
trong
các
loửi
nguyên
liệu
tự nhiên, bông và lông cừu là
những
loửi
nguyên
liệu
quan
trọng
và được sử
dụng
nhiều nhất
cho ngành
dệt
may dân
dụng.
Tuy nhiên, một đặc trưng của các

chung
cần
phải
được quy
hoửch
và xây
dựng
hợp lý trên
cơ sờ cân
nhắc
các
lợi
thế tự
nhiên
cũng
như
chi
phí cơ
hội
nhằm đem
lửi
hiệu
quả
cao
nhất.
Ngược
lửi,
sản
xuất
các

trò
then chốt
và có tầm
quan
trọng
sống
còn
trong việc
sản
xuất

sợi tổng hợp.
Trong
xu
thế
phát
triển
của
lịch
sử và
thế
giới,
sản
xuất

sợi tổng
hợp sẽ ngày càng có
ý
nghĩa


xoắn
lửi
với
nhau
đế
tửo
thành dãy
sợi
dài và
chắc.
Kéo
sợi

hoửt
động
tửo
giá
trị gia
tâng đầu tiên đối với
nguyên
liệu
thô và là
hoửt
động sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may
quan

tục
như
trộn
12
nguyên
liệu,
chải,
kéo,
ghép,
xoắn
các nguyên
liệu
thô và đánh ống
sợi
đế
tạo
ra
dây
sợi
dài liên
tục
và ổn định về các tính
chất cơ, lý,
hóa.
Trong
toàn bộ
quá trình kéo
sợi,
công
đoạn

những
công cụ
hết
sớc thô sơ như dùng
chiếc
gậy để
xoắn

giữ
sợi.
Trước
khi
cách
mạng
công
nghiệp diễn ra
vào
thế

18,
kéo
sợi
chủ yếu
diễn
ra
ờ hộ
gia
đình
với
quy mô

nghiệp tập
trung,
hiện đại
và có khả năng
tự
động hóa
cao.
Hiện nay,

nhiều
phương pháp kéo
sợi
khác
nhau
như kéo
sợi
kiểu
nồi
khuyên cổ
điển
(còn
gọi
là kéo
sợi
cọc
nồi)
hoặc
công
nghệ
kéo

khí có
thể
cho năng
suất
cao gấp 8-
10 lần
so
với
phương pháp
nồi cọc,
nhưng găm sản phẩm và phạm
vi
ớng
dụng
hẹp
hơn.
-
Đét vải
Dệt
vải
được phân
chia
thành
hai
loại
khác
nhau

dệt
vái

này,
người
dệt vải
sử
dụng
một
khung
cửi
hay máy
dệt
kéo câng và định vị các
sợi vải theo chiều
dọc,
sau đó các
sợi
ngang
được đan
theo
các cấu trúc khác
nhau
để
tạo
thành
tấm
vải.
13
Dệt
kim là
hoạt
động dùng kim để móc các

thị
trường Pháp. Kể
tụ
đó đến
nay,
dệt
kim đã phát
triển
thành một ngành công
nghiệp
sản
xuất
quy mô
lớn
và sản phẩm
dệt
kim ngày được
người
tiêu dùng trên
thế
giới
ưa
chuộng,
đặc
biệt
là sản
phẩm
dệt
kim
tụ

tạo
nguyên
liệu
phục
vụ
dệt
vải.
Ban
đầu,
dệt vải
cũng

nghề
sản
xuất thủ
công
mang
tính
chất
hộ
gia
đình
với
công cụ là
những khung
cửi
thô sơ và đơn
giản.
Tuy nhiên,
với

chuyển
tụ
các
quốc
gia
phát
triển
sang
các
quốc
gia
đang và kém phát
triển.
Công
nghệ dệt
vải
cũng
tiến
bộ dẩn
theo
sự phát
triển
của
khoa
học
công
nghệ.
Công
nghệ dệt


- Nhuộm vù hoàn
tất
vải
Nhuộm
và hoàn
tất
vải

thể coi
là một ngành công
nghiệp
phụ
trợ
cho
ngành công
nghiệp
dệt
và kéo
sợi.
Vải chủ yếu được
dệt
tụ các
sợi
đơn sắc
màu
trắng.
Do
vậy,
để
tạo

sự phát
triển
của kỹ
thuật,
nhiều
phương pháp khác
nhau
14
được
tạo ra
đế xử lý bề mặt
vải,
tạo
cho
vải
những
hoa văn hay độ bóng khác
nhau
nhằm đáp ứng các yêu
cầu
đa
dạng
về thám mỹ.
Hoạt
động nhuộm và
in
hoa trên
vải
cũng


tạp
và khó làm chủ
nhất
trong
toàn
bộ
quá trình sản
xuất
vải.
Đây
cũng
là kháu
quyết
định
nhiều
nhất
đến
chất
lượng

ngoại
quan
của vải
thành phẩm.
Toàn bộ các
hoạt
động sản
xuất
nguyên
liựu

hợp
trong
sơ đồ sản
xuất dựt
may (Xem hình
1.1).
ì
Hình
1.1:
Sơ đồ mô
tả
toàn bộ quá trình
sản xuất dựt
may
15
1.3 Đặc
điểm
và xu
thế
phát
triển
của
hoạt
động sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may
1.3.1

sử của sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may chính là
lịch
sử
của ngành sản
xuất dệt
may.
Hoạt
động sản
xuất dột
may có
thể coi
là một
trong
những
nghề
cở
nhất
trên
thế
giới
vì nó
ra đời
đế đáp ứng nhu cầu
thiết
yếu

hơn
sợi lanh
khoảng
2000
năm
[36].
Tuy nhiên, cho
tới
tận thế
ký 18 -
thời
điểm
bắt
đầu của cách
mạng
công
nghiệp, hoạt
động sản
xuất dệt
may nói
chung
và nguyên
liệu
nói riêng mới chỉ ở
dưới
dạng
sản
xuất thủ
công
trong

biệt.
Đặc
điểm
này bát
nguồn
từ
lý do
từng
công
đoạn
hoặc
từng
giai
đoạn
chế tạo
nguyên
liệu
hoàn toàn có
thể
tách
rời
nhau
do chúng
rất
khác
nhau
về bản
chất
và kỹ
thuật

là kéo
sợi,
dệt vải
hay nhuộm, hoàn
tất
vải
cũng
đòi
hỏi
các kỹ năng
và công cụ
lao
động chuyên
biệt
và hầu như không có sự trùng
lặp
nào
giữa
các
hoạt
động hay
giữa từng
công
đoạn.
Hiện
nay,
hầu
hết
các nhà máy sản
xuất

liệu
dệt
may thường có tính
tập
trung
cao
theo
lãnh
thổ
và hình thành các cụm, khu công
nghiệp tập
trung.
Sản xuất dệt
may về cơ bản là các
hoạt
động
thuộc
ngành công
nghiệp
nhẹ.
Do
vậy,
mức đầu tư cho sản
xuất dệt
may nói riêng và nguyên
liệu
dệt
may nói riêng không đòi
hỏi
cao như mức đầu tư vào các ngành công

dệt
may do vậy đã
từng
có mốt ở hầu
hết
các
quốc
gia
trên
thế
giới.
Tuy nhiên,
trong
xu
thế
toàn cầu hóa ngày càng
diễn
ra
mạnh
mẽ, sản
xuất dệt
may và nguyên
liệu
dệt
may là một
trong
những
ngành
thể
hiện

hoạt
động
phức
tạp,
có giá
trị
gia
tăng cao như sản
xuất
các
loại
sợi tổng
hợp
vật
liệu
mới
tiếp
tục
được
duy trì
tại
các
quốc
gia
phát
triển.
Mốc dù
vậy, với
các nguyên
liệu

liệu
thô có
nguồn
gốc
tự
nhiên trên
thế
giới
lại
phụ
thuộc nhiều
vào
vị trí địa
lý và
điều
kiện
tự
nhiên của
từng
khu vực và
quốc
gia.
Hiện
nay
Mỹ, Ấn
Độ, Pakistan, Braxin
và một số nước Châu
Phi
là các nước
xuất

sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may
hiện
đại
cũng
là ngành công
nghiệp
phản
ánh rõ đốc
điểm
của
lợi
thế
sản xuất
quy mô. Sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may ở quy mô nhỏ sẽ có
hiệu
quả thấp
hơn
nhiều
so
với

tham
gia thị
trường.
Sản xuất
nguyên
liệu
dệt
may là ngành sản
xuất
công
nghiệp
sử
dừng
nhiều lao
động.
So
với
các ngành sản
xuất
khác,
sản
xuất dệt
may nói
chung
và sản
xuất
nguyên
liệu
nói riêng được
coi

động
rất
khác
nhau
theo
hướng các
hoạt
động
sản xuất
nguyên
liệu
cơ bản như
sợi,
xơ hóa học
sẽ
đòi
hỏi
vốn đầu tư
lớn
hơn
nhưng sử
dừng
ít
lao
động hơn so
với
công đoạn sản
xuất dệt
vải,
nhuộm và

sợi

dệt
vải)
cũng
đang phát
triển
cực
nhanh.
Công
nghệ
cao được
coi
là yếu tố chủ
chốt
để có
thể
đảm bảo sự
thống
trị trong
thị
trường của các mặt hàng có giá
trị
gia
tăng cao. Mỹ,
Nhật
Bản và các nước Châu Âu đã
nhận
biết
được

các
hoạt
động sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may sử
dừng
công
nghệ
cao.
Các
hoạt
độnETSẳmíttất-GÓ hàm lượng công
18
nghệ
thấp
và sử
dụng
nhiều lao
động được
chuyến
dần
sang
các nước đang và
kém phát
triển.
Với
sự hạn

dạng
hóa sản phẩm và đống
thời
đáp ứng
tốt
hơn nhu cầu không
ngừng
thay đổi
của
con
người.
Người
tiêu dùng
tại
các
thị
trường
dệt
may
lớn
của
thế
giới
như
Mỹ,
Nhật
và EU đều đang có xu hướng ưa thích sử
dụng
sản phẩm
dệt

nên phổ
biến

sản
lượng
sản
xuất,
tiêu
thụ
sợi
hóa học tăng
nhanh
hơn
nhiều
lần
so
với sợi
tự
nhiên.
Theo báo cáo
của
Cục Thông
tin
Công
nghệ
Công
nghiệp
Đài
Loan
năm 2004

11.000
lần,
từ
1000
tấn
lên 11
triệu
tấn.
Hiện
nay,
số
lượng
tiêu
thụ
trong
ngành may mặc
khoảng
30
triệu
tấn/nãm,
trong
đó tý
lệ
giữa
sợi tự
nhiên so
với sợi
hóa học
khoảng 40%:60%.
Sản

rẻ

dối
dào,
tính
cạnh
tranh
vì vậy chủ yếu
diễn
ra

phưỡn
s
diện
giá thành
sản xuất nhiều
hơn là ở phương
diện
chất
lượng.
Một
trong
những
biện
pháp
để có
thể giảm
giá thành là
thực
hiện

thải
dần
khỏi
thương trường vì
thiếu
khả năng
cạnh
tranh,
các cơ sở sản
xuất
để
tốn
tại

19
phát
triển
thì
phải
có quy mô sản
xuất
đủ
lớn,
và mối
quan
hệ
với
đơn vị sản
xuất
đầu vào

sử
dụng
nhiều
hàm lượng máy móc và công
nghệ
do yêu cẩu của sản
xuất
quy

lớn với chất
lượng
sản
phẩm ổn định.
Một
xu
thế nổi bất
khác của
sản xuất dệt
may và nguyên
liệu
dệt
may là
cơ cấu sản
xuất
và thương mại về nguyên
liệu
dệt
may đang
thay đổi
nhằm

dứt
gần 60 năm hạn chế và bảo hộ
trong
thương mại hàng
dệt
may.
Tại
các
nước
Bắc Mỹ, Tây Âu,
Nhật
Bản, úc và
Trung
Đông, sự chênh
lệch giữa
sản
xuất
và nhu cầu
thị
trường đang ngày càng tăng. Tại Bắc Mỹ, nhu cầu về
nguyên
liệu
dệt
may tăng bình quân 2,1% năm
trong khi
năng
lực
sản
xuất
giảm


thuế
quan
đã và đang dần được xóa
bỏ.
Đồng
thời,
trong
xu
thế tự
do hóa
thị
trường
này,
quy
luật
về
lợi
thế
quy mô sẽ
lại
càng phát huy tác
dụng,
khiến
các nước
có nền sản
xuất dệt
may quy mô
nhỏ,
thiếu

xuất
nguyên
liệu
dệt
may
thế
giới
cũng
đã
tổng
bước
trở
thành ngành công
nghiệp
hiện đại theo
hướng tăng dẫn hàm
20
lượng
giá
trị
công
nghệ
và tính
tự
động
hóa, giảm
dần hàm
lượng
giá
trị

chợ máy móc công
nghiệp
dệt
may
thế
giới
ITMA
(International
Exhibition
of
Textile
Machinery),
một sự
kiện
được
coi

cuộc
thi
Olympics
về công
nghệ dệt
may,
trong
đó các hãng
sản xuất
máy móc
trong
ngành
dệt

và đang
phát
triển
khác như Hàn Quốc,
Braxin,
Ân
Độ,
Trung
Quốc

cũng
đang
trở
thành
nhậng
trung
tâm mới của công
nghệ
và sản
xuất
nguyên
liệu
dệt
may.
Tuy
nhiên,
các
quốc
gia
công

Xét về mặt thương
mại,
theo
thống
kê của tổ
chức
WTO, kim
ngạch
trao
đổi
hàng
sợi

dệt
trên
thế
giới
trong
năm
2004
là 195 tý Đô
la
Mỹ, tăng
13%
so
với
năm
2003
(172 tỷ
Đô

hàng hóa và
3% kim
ngạch
mậu
dịch
hàng công
nghiệp.
Nhậng tý số này khá khiêm
tốn

về

bản,
hàng
dệt
may và nguyên
liệu
dệt
may
tuy
thiết
yếu và cần
thiết
cho
mọi
mặt của
đời sống
nhưng do đã
trở
thành phổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status