ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
------------- -
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành
: Kinh tế học
Mã số chuyên ngành
: 62.31.03.01
Tp. Hồ Chí Minh năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu sử
dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố đúng quy
định. Các kết quả nghiên cứu trong luận án là do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một
cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tế.
Tác giả luận án
Nguyễn Văn Tri nh
̣
ii
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP HỖ TRỢ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
11
1.1. Các quan niệm về công nghiệp hỗ trợ
1.1.1. Các quan niệm của các nƣớc trên thế giới
1.1.2. Một số quan niệm tƣơng đồ ng với công nghiệp hỗ trợ
1.1.3. Các quan niệm về công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam
11
11
14
19
1.2. Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1. Công nghiệp hỗ trợ và lợi thế cạnh tranh
1.2.2. Công nghiệp hỗ trợ trong phát triển cụm ngành
1.2.3. Công nghiệp hỗ trợ trong chuỗi giá tri ̣
21
21
25
32
1.3. Kinh nghiệm quố c tế về cơ sở phát triển công nghiệp hỗ trợ
1.3.1. Kinh nghiê ̣m chung
1.3.2. Kinh nghiê ̣m của một số quố c gia
1.3.3. Bài học rút ra tƣ̀ kinh nghiệm quố c tế cho phát triển công nghiệp hỗ trợ
của Việt Nam
iii
52
thời gian
83
83
88
91
92
2.3. Cơ sở hình thành chiế n lƣơ ̣c phát triể n các ngành công nghiê ̣p hỗ trơ ̣ của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
2.3.1. Những điể m ma ̣nh
2.3.2. Những điể m yế u
2.3.3. Cơ hô ̣i
2.3.4. Thách thức
2.3.5. Ma trâ ̣n SWOT
95
95
97
102
103
104
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2
năm 2020
3.3.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để công nghiệp hỗ trợ nhanh chóng phát
triển
3.3.2. Hoàn thiện các bộ máy quản lý của các cơ quan chuyên trách về công
nghiệp hỗ trợ
3.3.3. Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở các địa phƣơng
3.3.4. Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở một số ngành chính
3.3.5. Thúc đẩy nhu cầu công nghiệp hỗ trợ từ các công ty đa quốc gia
3.3.6. Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
132
132
137
142
145
151
155
KẾT LUẬN
161
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
163
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
164
R&D
TĐĐQG
TNHH
TPP
UNIDO
VCCI
VDF
VƢDN
WB
WTO
Khu vực Thƣơng mại tự do ASEAN
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình dƣơng
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
Giám đốc điều hành
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng
Cụm liên kết ngành
Công nghiệp
Công nghiệp điện tử
Công nghiệp hóa
Công nghiệp hỗ trợ
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nƣớc
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Hiện đại hóa
Tổ chức Tài chính Quốc tế
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Viện nghiên cứu Chiến lƣợc Chính sách
Hình 1.2 Quan niệm về công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam
19
Hình 1.3
Mô hình viên kim cƣơng về lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.
Porter
23
Hình 1.4 Sơ đồ một cụm ngành
31
Hình 2.1 Thị phần các nƣớc xuất khẩu linh kiện ô tô sang Việt Nam 2009
69
Hình 2.2 Giá trị xuất – nhập khẩu hàng điện tử – tin học và điện thoại,
giai đoạn 2005 -2010
73
DANH MỤC CÁC HỘP
Số hiệu
Hộp 1.1
Nội dung
Cụm ngành rƣợu ở California
68
Bảng 2.3
Một số doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào CNHT
ngành điện tử - tin học
72
Bảng 2.4
Năng lực sản xuất một số sản phẩm phụ kiện ngành may của
Việt Nam
76
Bảng 2.5
Số lƣợng doanh nghiệp ngành trong da – giày, 2006 - 2010
78
Bảng 2.6
Tổng vốn FDI vào Việt Nam theo ngành
92
Bảng 3.1
Bảng 3.6
Mục tiêu giải quyết nguyên phụ liệu cho ngành đến năm
2015, tầm nhìn 2020
131
Bảng 2.2
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau gần 30 năm đổi mới, nƣớc ta đã đạt đƣợc một số thành tựu quan trọng
trên tất cả các mặt. Kinh tế Việt Nam đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ, chuyển
sang cơ chế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, hội nhập tích cực vào nền
kinh tế khu vực và thế giới. Tuy vậy, tỷ lệ giá trị gia tăng trong giá trị sản xuất công
nghiệp lại đang có dấu hiệu đi xuống. Cụ thể, năm 1995 giá trị gia tăng (VA)/giá trị
sản xuất toàn ngành công nghiệp (GO) là 42,5%; đến năm 2000, tỷ lệ này chỉ còn
38,45%; năm 2005 còn 29,63%; năm 2007 đạt 26,3%; và ƣớc tính tỷ lệ này hiện
nay chỉ còn trên dƣới 23% [2]. Một trong những lý do quan trọng của tình trạng
này, là sự yếu kém của các ngành công nghiệp hỗ trợ.
Bối cảnh kinh tế thế giới trong những năm gần đây đã có sự thay đổi nhanh
chóng, về cơ bản, những thế mạnh về nhân công giá rẻ, điều kiện mặt bằng ở các
nƣớc đang phát triển... không còn là yếu tố quyết định việc thu hút đầu tƣ, và đó
cũng không còn là ƣu tiên hàng đầu của các nhà đầu tƣ. Nhiều nhà sản xuất lớn trên
thế giới nhƣ Toyota, Canon của Nhật Bản, LG của Hàn Quốc… chỉ nắm giữ các
càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, với cơ cấu công nghiệp hiện nay thì các chính
sách đang đƣợc áp dụng rất khó có thể xoay chuyển đƣợc tình trạng hiện tại nếu không
có đƣợc những đột phá mới về chính sách và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Việc nghiên cứu sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa
quan trọng. Đây chính là những lợi thế, nếu biết khai thác tốt, Việt Nam hoàn toàn
có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, phân bố lại cơ cấu đầu tƣ hợp lý, thu hút thêm
đầu tƣ và rút ngắn khoảng cách so với các nƣớc phát triển, tham gia vào sự phân
công lao động quốc tế. Ngoài hiệu quả tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu hút lao
động, công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của
sản phẩm công nghiệp, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá theo hƣớng vừa mở
rộng vừa chuyên sâu.
Ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện chƣa phát triển dẫn đến hệ quả
Việt Nam phải phụ thuộc rất nhiều vào bên ngoài từ những nguyên liệu, sản phẩm
sơ chế.... Kết quả là hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả chƣa cao vì giá trị gia
2
tăng ở các khâu cần có công nghiệp hỗ trợ chiếm tỷ trọng cao, nhƣng Việt Nam
không đáp ứng đƣợc, hầu hết phải nhập khẩu.
Trƣớc đòi hỏi của quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển
công nghiệp hỗ trợ, nhất là trong các ngành công nghiệp thâm dụng công nghệ,
đang là thách thức rất lớn đặt ra cho Việt Nam. Bởi lẽ, cùng với việc nâng cao năng
lực sản xuất, nền công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ là yếu tố mạnh nhất để thu hút và
giữ chân các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài một cách bền vững. Nhƣ vậy, phát triển Công
nghiệp hỗ trợ không chỉ nhằm mục tiêu gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, mà
còn là công cụ quan trọng để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế nhanh chóng.
Trong bối cảnh nêu trên, đề tài “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã đƣợc tác giả chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sự tồn tại của các ngành hỗ trợ có khả năng cạnh tranh quốc tế trong một quốc gia
tạo ra những lợi thế cho các ngành công nghiệp sử dụng đầu ra theo các cách khác
nhau. Và tiếp tục, sự hiện diện của những ngành liên quan có khả năng cạnh tranh
trong một quốc gia thƣờng dẫn đến những ngành có khả năng cạnh tranh mới.
Thành công của một nƣớc trong một ngành nhất định dễ xảy ra nếu trƣớc đó có lợi
thế cạnh tranh trong một số ngành liên quan.
Nhƣng các nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ nhiều nhất vẫn là ở các quốc
gia Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản, nơi ra đời quan niệm công nghiệp hỗ trợ. Tình
hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản
đã đƣợc phân tích trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở châu Á” (JapaneseAffiliated Manufactures in Asia) do JETRO thực hiện năm 2003; và “Báo cáo khảo
sát về hoạt động kinh doanh tại nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản ”
(Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing
companies) do JBIC xuất bản năm 2004. Trong đó, chi nhánh các tập đoàn Nhật
Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái lan, Malaysia, Indonesia, đã sử dụng hệ thống thầu
phụ đƣợc hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện
có vốn đầu tƣ từ Nhật Bản.
Năm 2002, Tổ chức năng suất châu Á (APO-Asian productivtity
Organisation) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển Công nghiệp hỗ trợ trong cuốn
4
“Đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ: các kinh nghiệm của châu Á” (Strengthening of
Supporting Industries: Asian Experiences). Đây là tài liệu hữu ích cho các nƣớc
đang phát triển về chính sách phát triển Công nghiệp hỗ trợ qua các thời kỳ ở Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Các chính sách này tập trung vào một số điểm chính: thu
hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào phát triển Công nghiệp hỗ trợ, quy đ ịnh về tỷ lệ nội địa
hoá và các hỗ trợ mạnh mẽ hiệu quả từ phía Chính phủ dành cho liên kết doanh
nghiệp, nhƣ là điều kiện tiên quyết để phát triển Công nghiệp hỗ trợ.
Những tài liệu trên hầu hết đã đƣa ra những nét khái quát chung và đặc điểm,
cứu, tham luận khẳng định vai trò quan trọng của công nghiệp hỗ trợ và sự hợp tác
tích cực của Nhật Bản trong vấn đề này.
Trần Văn Thọ (2006), “Biến động kinh tế Đông Á và con đƣờng công
nghiệp hoá ở Việt Nam” đã dành một chƣơng phân tích tổng quát về con đƣờng
phát triển công nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hoá dựa vào công
nghiệp hỗ trợ. Ông coi phát triển công nghiệp hỗ trợ nhƣ là mũi đột phá chiến lƣợc
nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng công nghiệp nói riêng và hàng hoá của
Việt Nam nói chung.
Tại Hội thảo về Công nghiệp hỗ trợ của JETRO năm 2005, Phan Đăng Tuất,
“Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật Bản – Con đường nào cho
Việt Nam”, trong “Kế hoạch hành động về phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”
tại Diễn đàn Liên kết hội nhập cùng phát triển năm 2008 và trong “Công nghiệp hỗ
trợ, vấn đề trọng đại” đăng trên Báo Công Thƣơng số Tết 2009, đã khẳng định các vai
trò quan trọng của công nghiệp hỗ trợ đối với nền kinh tế, yêu cầu về hệ thống doanh
nghiệp nhỏ và vừa và sự hợp tác với Nhật Bản trong phát triển công nghiệp hỗ trợ ở
Việt Nam.
Năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ
Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020, do Bộ Công nghiệp (cũ) soạn thảo và
Quy hoạch này đƣợc xây dựng cho 5 nhóm ngành: Điện tử Tin học; Dệt May; Da
Giày; Sản xuất lắp ráp ô tô; Cơ khí chế tạo. Trong quy hoạch này, lần đầu tiên quan
niệm công nghiệp hỗ trợ đƣợc chính thức hoá ở Việt Nam. Theo quy hoạch này, kế
hoạch và các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ gồm có tạo dựng môi trƣờng
đầu tƣ, phát triển khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân
lực, liên kết doanh nghiệp đã đƣợc đề xuất cho 5 ngành công nghiệp ƣu tiên, đó là:
Dệt - May, Da - Giày, Điện tử - Tin học, Sản xuất và lắp ráp ô tô và Cơ khí chế tạo.
6
Cuốn “Xây dựng các ngành Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam” do K. Ohno chủ biên
liệu, kết nối các doanh nghiệp và sẽ là bộ phận quan trọng của cơ quan quản lý nhà
nƣớc về phát triển Công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam.
Hầu hết những nghiên cứu nêu trên đã nêu ra đƣợc một vấn đề công nghiệp
hỗ trợ và còn khá mới mẻ tại Việt Nam, chúng cho thấy sự non yếu của ngành công
nghiệp hỗ trợ trở thành lực cản rất lớn đối với phát triển công nghiệp nói chung và
sức cạnh tranh của nền kinh tế. Sự yếu kém của công nghiệp hỗ trợ đã đƣợc đề cập
nhiều, tuy nhiên công nghiệp hỗ trợ dƣờng nhƣ vẫn chƣa nhận đƣợc sự quan tâm
thích đáng của các cấp, các ngành. Đã 3 năm kể từ khi “Quy hoạch phát triển công
nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” đƣợc phê duyệt nhƣng chiến
lƣợc này gần nhƣ vẫn chƣa đƣợc triển khai.
Để khắc phục đƣợc tình trạng manh mún, kém phát triển, không theo kịp với
sự phát triển của các ngành chế tạo, lắp ráp, đặc biệt là đối với các tập đoàn có vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài, trên cơ sở phân tích hiện trạng và từ kinh nghiệm của các quốc
gia thành công trong phát triển công nghiệp hỗ trợ, tác giả mong muốn đƣa ra đƣợc
các nhóm giải pháp từ thể chế, chính sách tới các giải pháp cụ thể với mục tiêu phát
triển công nghiệp hỗ trợ để góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam
nói riêng và thành công của Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
3. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn và cơ sở phát triển công nghiệp hỗ trợ
trong tiến trình công nghiệp hoá ở một nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Trên cơ sở phân tích lý luận, thực tiễn của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ
và đánh giá thực trạng cơ sở và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt
Nam, luận án đƣa ra các giải pháp và kiến nghị để phát triển công nghiệp hỗ trợ ở
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cho Việt Nam đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng: Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là ngành công nghiệp hỗ trợ
và chính sách của nhà nƣớc đối với công nghiệp hỗ trợ (cơ khí chế tạo, điện tử...) và
6. Những đóng góp mới của luận án
9
6.1. Về mặt lý luận
Hệ thống hóa và làm rõ hơn các quan điểm lý thuyết về phát triển công
nghiệp hỗ trợ và làm rõ kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ trong tiến trình
công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế của một số nƣớc trên thế giới và rút ra bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam. Đồng thời làm rõ quan niệm về công nghiệp hỗ trợ phù
hợp với Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
6.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ vai trò của công nghiệp hỗ trợ đối với phát triển kinh tế, chủ yếu là
gắn với việc tham gia vào chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu của Việt Nam và
để Việt Nam thực sự trở thành một thành viên của nền kinh tế thế giới.
Chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức cả về chính sách và
quyết tâm của doanh nghiệp cũng nhƣ Nhà nƣớc đối với phát triển Công nghiệp hỗ
trợ. Trên cơ sở đó đƣa ra các giải pháp và kiến nghị chủ yếu nhằm phát triển công
nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đến năm 2020.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, hình vẽ, bảng biểu minh hoạ, nội
dung luận án chia làm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn công nghiệp hỗ trợ trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Những giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
10
chƣơng trình phát triển CNHT châu Á năm 1993.
Hiện nay, ở Nhật Bản, CNHT đƣợc hiểu là “một nhóm các hoạt động công
nghiệp cung ứng các đầu vào trung gian (không phả i nguyên vật liệu thô và các sản
11
phẩm hoàn chỉnh) cho các ngành công nghiệp hạ nguồn ” (nhƣ vậy quan niệm này
đã đƣợc mở rộng hơn so với quan niệm CNHT do MITI đƣa ra năm 1987). Nói
cách khác, CNHT nằm ở phần giữa của quá trình sản xuất, từ thƣợng nguồn x uống
đến hạ nguồn.
Ngoài ra, một số công đoạn sản xuất nhất định, phục vụ một số ngành công
nghiệp nhất định tƣơng đối tƣơng đồng nhau (Hình 1.1) cũng đƣợc xem là CNHT.
Việc tƣơng đồng này làm cho chi phí sản xuất giảm, tăng dung lƣợng thị trƣờng, gia
tăng nguồn khách hàng và giúp CNHT phát triển nhanh hơn.
Các quốc gia Đông Á khác nhƣ Hàn Quốc, Đài Loan cũng đều xác định
CNHT theo hƣớng này, bằng cách dựa trên các công đoạn sản xuất và bao gồm các
sản phẩm chủ yếu liên quan đến 3 lĩnh vực chính: các linh kiện kim loại, các linh
kiện nhựa và cao su, các linh kiện điện - điện tử.
Ôtô
Xe máy
Đồ gia dụng Đồ điện tử
Các nhà lắp ráp có
yêu cầu về linh phụ
kiện tƣơng tự nhau
Phụ tùng, linh kiện:
Ở các quốc gia khác:
- Bộ Năng lƣợng Mỹ trong ấn phẩm phát hành năm 2004 với tựa đề: các
ngành CNHT: công nghiệp của tƣơng lai, định nghĩa CNHT bao gồm những ngành
cung cấp các quy trình cần thiết để sản xuất và hình thành sản phẩm trước khi
chúng được đưa đến các ngành công nghiệp cuối cùng . Chƣơng trình phát triển
ngành CNHT hiện nay ở Mỹ bao gồm 7 ngành đó là các thiết bị làm nóng công
nghiệp, xử lý nhiệt, rèn, hàn, luyện kim bột và các vật liệu dạng hạt, sứ cao cấp và
các sản phẩm các-bon.
Tại các quốc gia châu Âu: Ở châu Âu cụm từ “CNHT” ít đƣợc sử dụng. Các
quan niệm liên quan đến nội dung này đƣợc phản ánh ở các thuật ngữ khác, nhƣ:
thầu phụ, thuê ngoài, nhà cung ứng.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng quan niệm về ngành CNHT là một quan niệm
rộng, chỉ mang tính tƣơng đối. Tuy có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau,
nhƣng các quan niệm CNHT đều có các điểm chung nhƣ sau:
Thứ nhất, đó là việc cung ứng các linh phụ kiện cho mục đích sản xuất sản
phẩm cuối cùng; thứ hai, việc cung ứng này chủ yếu đƣợc đáp ứng bởi hệ thống
doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tuy nhiên, đó là các doanh nghiệp sản xuất
phụ trợ đòi hỏi trình độ sản xuất với mức độ chính xác của sản phẩm rất cao, thực
hiện các cam kết hợp đồng với khách hàng một cách chuẩn mực; thứ ba, khách
hàng của các ngành CNHT là các nhà lắp ráp, do vậy, thị trƣờng của CNHT không
rộng, không dễ dàng tác động nhƣ khi họ sản xuất sản phẩm cho ngƣời tiêu dùng
cuối cùng. Thị trƣờng hàng hoá của họ thu hẹp hơn, có những nhóm sản phẩm nằm
ở phần thị trƣờng rất hẹp và chỉ dành cho một số khách hàng nhất định. Đây chính
là khó khăn lớn nhất của phát triển CNHT. Mặc dù vậy, sản xuất CNHT lại trở nên
hấp dẫn và tƣơng đối ổn định nếu doanh nghiệp phụ trợ đó tìm đƣợc khách hàng dài
hạn, hoặc tìm đƣợc thị trƣờng “ngách” cho mình.
13
Chuỗi cung ứng là một phần của chuỗi giá trị. Đó là chuỗi liên kết các công
đoạn từ khâu cung cấp nguyên vật liệu thô chƣa qua xử lý đến khâu lắp ráp để sản
xuất ra sản phẩm cuối cùng. Chuỗi cung ứng cũng kết nối nhiều công ty lại với
nhau: nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà cung ứng, khách hàng. Về cơ bản,
chuỗi cung ứng là một tổng thể hàng loạt các nhà cung ứng và khách hàng đƣợc kết
nối với nhau, trong đó, mỗi khách hàng, đến lƣợt mình lại là nhà cung ứng cho tổ
chức tiếp theo, cho đến khi thành phẩm tới tay ngƣời tiêu dùng.
1.1.2.2. Mạng lƣới sản xuất
Một mạng lƣới sản xuất (MLSX) có thể đƣợc hiểu là mối liên kết bên trong
hoặc giữa các nhóm doanh nghiệp trong một chuỗi giá trị nhất định, để sản xuất các
sản phẩm cụ thể, chẳng hạn nhƣ các loại máy tính, điện thoại di động của các hãng
khác nhau. Các tập đoàn toàn cầu thƣờng có MLSX lớn, họ kiểm soát đầu vào các
nguồn tài nguyê n chính, các hoạt động thiết kế sản phẩm, quản lý chi nhánh ở các
quốc gia và tiếp cận khách hàng cuối cùng. Còn khâu sản xuất hầu hết đƣợc thuê
ngoài bởi các nhà cung ứng. Tất cả các nhân tố này làm nên MLSX, trong đó tập
đoàn có vị thế cao hơn, do các hoạt động của họ đem lại lợi nhuận cao hơn các nhà
cung ứng trong MLSX.
Mạng lƣới này sẽ trở thành “mạng lƣới sản xuất quốc tế” khi sự phân bổ và
điều phối của các hoạt động sản xuất của tập đoàn vƣợt ra khỏi phạm vi một quốc
gia. MLSX ngày càng có nhiều liên kết không sở hữu, trong đó có các công ty độc
lập: các nhà cung ứng, nhà sản xuất, bán lẻ... Họ liên kết với nhau thông qua các
mối quan hệ đa dạng nhƣ hoạt động thầu phụ, cấp phép đăng ký sản xuất, các tiêu
chuẩn kỹ thuật, hợp đồng marketing, chia sẻ các sản phẩm và các tiêu chuẩn liên
quan đến quy trình... Các ngành trong mạng lƣới cũng không ngừng tăng lên. Một
công ty có thể tham gia nhiều mạng lƣới. Ví dụ, một công ty chuyên về kim loại
hoặc nhựa có thể đồng thời là nhà cung cấp trong MLSX của Sony, Misubishi,
Honda. Tƣơng tự nhƣ vậy, nhà cung cấp phụ tùng ôtô nổi tiếng thế giới Lear là
thành viên MLSX của nhiều nhà lắp ráp ôtô nhƣ tập đoàn General Motors, Ford,
công nghiệp là sự thỏa thuận giữa nhà thầu chính về việc giao cho một hoặc vài
doanh nghiệp sản xuất linh kiện, cụm linh kiện hay cung cấp dịch vụ công nghiệp
cho việc sản xuất sản phẩm cuối cùng của mình. Các nhà thầu phụ tuân thủ theo
thoả thuận với nhà thầu chính. Nhƣ vậy, thầu phụ nhấn mạnh vào các cam kết và
16
quan hệ giữa nhà thầu chính với nhà thầu phụ. Điều này tƣơng đối khác khi so sánh
với các nhà cung ứng trong CNHT, vì sự lệ thuộc và bị động của các nhà thầu phụ
lớn hơn các nhà cung ứng.
Liên quan đến lĩnh vực này có thuật ngữ là “outsourcing” nghĩa là đi thuê
ngoài. Quan niệm thuê ngoài trở thành một thuật ngữ kinh doanh từ những năm
1980, dùng để chỉ một công đoạn nào đó trong sản xuất, đƣợc thuê công ty khác
thực hiện, để tiết kiệm chi phí và nguồn lực cho doanh nghiệp. Công ty thuê ngoài
chuyên vào những công việc nhƣ vậy, nên họ có chuyên môn và lợi thế hơn.
Quan điểm về thầu phụ và thuê ngoài đã thay đổi theo thời gian. Trƣớc đây,
thầu phụ đƣợc coi là hoạt động áp đặt giữa nhà thầu chính đối với thầu phụ. Đến
những năm 70-80 của thế kỷ trƣớc, đây là hoạt động đƣợc nhắc đến nhƣ một bộ
phận cấu thành quan trọng của nhiều nền kinh tế Đông Á nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc.
Hoạt động thầu phụ và gia công giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lƣợng,
tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro hiệu quả. Các nhà thầu phụ có khả năng ổn định lâu dài,
phản ứng nhanh đối với những thay đổi của thầu chính. Tuy nhiên, hoạt động thầu
phụ ngày càng bộc lộ những điểm yếu, khi so sánh với các nhà cung ứng độc lập.
Thầu phụ phải chịu áp lực và phụ thuộc quá cao vào thầu chính, khả năng đàm phán
khó khăn hơn và lợi nhuận thu đƣợc thấp hơn. Do vậy, các nhà thầu phụ ngày càng
có xu hƣớng trở thành các nhà cung ứng độc lập, tƣơng tự nhƣ các doanh nghiệp
hoạt động trong CNHT.
Nhà cung ứng. Không có quan niệm rõ rệt nào dành cho các nhà cung ứng.
Thuật ngữ đƣợc hiểu chung là ngƣời bán, cung cấp các dịch vụ và hàng hoá cho các
công nghiệp này, kể cả ở Ấn Độ.
1.1.2.5. Công nghiệp linh phụ kiện
Không có định nghĩa riêng biệt cho thuật ngữ “công nghiệp linh phụ kiện”,
nhƣng thuật ngữ thƣờng đƣợc hiểu là ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng, linh
kiện. Thuật ngữ đƣợc dùng rộng rãi trong ngành công nghiệp lắp ráp nhƣ xe máy, ô
tô, điện, điện tử. Đây là thuật ngữ có phạm vi hẹp nhất, vì nó không bao gồm các
đầu vào khác có thể có trong quan niệm về công nghiệp hỗ trợ nhƣ dịch vụ, công
cụ, máy móc và nguyên liệu. Công nghiệp linh phụ kiện có thể đƣợc xem là trung
tâm của công nghiệp hỗ trợ, là yếu tố quan trọng cho việc đánh giá nội địa hóa.
18